VỀ
CÁC NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA THẾ GIỚI CON NGƯỜI
Sự vận động của thế
giới vật chất vô cơ nói chung là sự vận động vật lý, có khi là hóa học. Như đất
đá. Sự vận động của thế giới tự nhiên khách quan, tức sự vận động của sự sống,
hầu hết là sự vận động sinh học, tức có sự ra đời, tồn tại, phát triển, lụi tàn
và chết đi, và lại tiếp tục như vậy trong vòng tuần hoàn khách thể.
Sự hoạt động của
thế giới loài người, mỗi cá thể là một cá nhân con người, nhưng nhìn chung là
xã hội con người, ngay từ khởi đầu đã có tính chất khác hơn loài vật, một mặt
do sự tiến hóa chủng loài, còn mặt khác do bởi sự tổ chức có ý thức và có mục
đích của xã hội. Cơ bản của sự vận động xã hội con người là vận động sinh học,
nhưng ngoài ra còn có sự hiểu biết, văn minh, văn hóa, hay nói chung là đặc điểm
của con người.
Trong thế giới cây
cỏ, thực vật, mạnh cá thể nào thì cá thể đó sống, chúng không quan tâm đến
nhau. Sự tác động lên nhau chẳng qua chỉ là sự tác động của điều kiên hoàn cảnh
môi trường và chúng hoàn toàn không có ý thức rõ rệt. Trong khi đó loài vật hay
động vật trong giới tự nhiên chúng có ý thức nhưng thường là ý thức ích kỷ, mạnh
con nào con ấy sống còn ít có sự tương trợ hay mục đích cùng nhau. Chẳng hạn một
bầy trâu hay bầy linh dương trước sư tử, có con nào bị sư tử tấn công, các con
khác chỉ đứng nhìn mà không biết cách can thiệp, phần nhiều các loài khác cũng
vậy.
Nhưng thế giới
loài người thì có phần khác hơn. Đó là nhờ có tổ chức, có giáo dục, có ý thức,
có nhận thức hiểu biết, nên trong lịch sử đã có sự phát triển, có những kết quả
hữu hiệu, tích cực hơn nơi loài vật. Nhưng điều đó cũng không phải hoàn toàn
tuyệt đối, bởi vẫn luôn có chiến tranh, có bất công, có áp bức lẫn nhau về nhiều
mặt nào đó là tại sao. Tại sự hiểu biết còn kém, tại tham vọng cá nhân nơi con
người, tại nhiều mặt tiêu cực khác nhau trong xã hội, lịch sử, nhưng những điều
đó là do đâu, chính là điều cần tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích.
Thật ra thế giới
loài người ngay từ đầu đã hình thành dần dần ra sự tổ chức. Mức sơ khai nhất là
bộ lạc rồi hình thành nên dần xã hội phong kiến, nhà nước quân chủ, nhà nước
dân chủ, rồi còn nảy sinh ra kiểu nhà nước độc tài ý thức hệ. Mọi sự dạng loại
đó đều đi kèm theo qua thiết kế tổ chức thành guồng máy hành chánh, chính trị,
luật pháp, kinh tế xã hội tương ứng, cộng thêm nền giáo dục, văn hóa tương
đương không thể thiếu. Nhưng sự tổ chức xã hội đó luôn luôn tạo ra hai mặt, mặt
tích cực và cả mặt tiêu cực mà ai cũng rõ. Mặt tích cực là là nếu tổ chức và bộ
máy lãnh đạo tốt, sẽ tạo nên những kết quả tốt, phát triển tốt cho con người và
xã hội, còn nếu không thì hoàn toàn ngược lại vì bị phong tỏa, kìm chế và bó buộc.
Bởi nghĩ cho cùng,
mọi cấu trúc nhà nước nào đó đều do từng cá nhân phụ trách đảm nhiệm mỗi chức
năng nhiệm vụ nhất định. Mà mỗi cá nhân đều tùy thuộc tâm địa, tính khí, nhận
thức, cùng năng lực và phẩm hạnh khác nhau. Nên trong chế độ dân chủ tự do thật
sự, guồng máy hành chính thường linh hoạt, hiệu quả, và cả giới cầm quyền lãnh
đạo cũng khó lạm dụng, độc đoán vì có sự tam quyền phân lập, có nhiệm kỳ nhất định,
và kể cả có sự bầu cử, ứng cử tự do quyết định. Rất khó để tạo thành một cấu kết
hay cố kết chặt chẽ, thành tập đoàn quyền lợi với nhau, thành nhóm người chia
chác quyền lợi từ trên xuống dưới.
Điều đó có nghĩa mọi
kết cấu đều tạo thành từ những thành tố. Những thành tố luôn đều đa dạng và đa
tính chất. Vấn đề là cách tập hợp thế nào cho khoa học và cho hiệu quả là điều
luôn cần xét đến sao cho thực tế, linh động và không máy móc, cứng nhắc. Thứ đến
vấn đề điều hành, vận động xã hội làm sao phải theo nguyên tắc đúng đắn, khách
quan không rơi vào trì trệ và bế tắt. Bởi bất kỳ cá nhân xấu nào đều cũng có thể
lợi dụng xã hội, lạm dụng xã hội sai nguyên tắc nếu có hoàn cảnh điều kiện thuận
lợi đến với họ. Nên nguyên lý vận hành đúng của xã hội phải cần là đòi hỏi ưu
tiên nhất mà không thể khác đi được.
Chỉ vì đối với xã
hội, trong mọi hoàn cảnh nào nó cũng có thể tồn tại được, còn tồn tại như thế
vào và ra sao lại là vấn đề khác. Đối với loài vi sinh vật hay sinh vật nhỏ mà
ta có thể nhìn thấy, dù trong bóng tối hay hoàn cảnh điều kiện ra sao chúng vẫn
có thể sống được, miễn là không vượt qua ngưỡng cuối cùng nào đó. Như loài cây
bon sai trồng trong chậu, hay uốn thân tỉa cảnh như thế nào đó chúng cũng không
hề phản đối. Loài người cũng vậy, một đất nước bị xâm lăng hay bị cưỡng chế bằng
nghiệt ngã nội bộ như thế nào đó thì xã hội hay mọi con người sống trong đó vẫn
tìm đủ cách để tồn tại, không cần biết ý nghĩa sống của mình như thế nào và mục
tiêu cuộc sống đó ra sao.
Kiểu như con ngựa
què, con trâu què, con heo què, con bò què, con gà què thì chúng vẫn lê lết tồn
tại khi chúng không thể còn cách khác. Bởi vậy nguyên lý vận động của xã hội
loài người làm sao cho đúng đắn, hiệu quả, tốt đẹp, là yêu cầu tối cao và thiết
yếu nhất thì phần đông con người không biết hay không toàn toàn để ý đến. Trong
một đất nước hổn loạn vì chiến tranh, hay độc tài độc đoán một cách nghiệt ngã
phi lý, thì đa số người vẫn chấp nhận sống một cách thản nhiên mà không hề hay
chỉ ít quan tâm tới. Tức vấn để đặt ra ở đây là có loại người nhận thức, hiểu
biết, nhưng cũng có loại người hoàn toàn không cần nhận thức hay không cần hiểu
biết.
Cũng tương tự một
chiếc máy nào đó hoạt động tốt khác hẳn một chiếc máy hoạt động tồi tệ hay sai
hỏng nguyên lý nào đó, nhưng có khi chúng vẫn tồn tại cho tới lúc chúng không
còn vận hành được nữa. Điều này cũng có nghĩa việc biết nhận thức điều sai điều
đúng luôn luôn phải cần có trí thức, cũng như muốn điều khiển guồng máy xã hội
vận động tốt đẹp đều cần những tinh hoa nhất định nào đó mà không thể khác đi
được. Người không biết lái xe vẫn có thể ngồi sau vô lăng nhưng chắc chắn mọi kết
quả không tới đâu cả nếu không nói là chỉ gây ra các hậu quả tai hại. Vậy
nguyên lý vận hành đúng luôn là điều bắt buộc cho mọi sự vật, và việc tạo ra mọi
sự vận hành tốt cho xã hội là trách nhiệm và nghĩa vụ của bất cứ mọi thành viên
nào của xã hội.
Trong xã hội mọi
cá nhân đều được bình đẳng với nhau và đều được tự do làm theo ý mình mà không
gây phương hại đến người khác, đó là nguyên lý tự do dân chủ cơ bản nhất mà mọi
xã hội văn minh đều buộc phải có. Có nghĩa mọi sự độc tài dầu đến từ đầu đều phản
lại nguyên lý xã hội khách quan và phản lại nhân quyền khách quan. Sự bình đẳng
này là sự bình đẳng theo nguyên tắc, nhưng khi đi vào những sự việc cụ thể, con
người vẫn có sự phân biệt khác nhau về phẩm hạnh, tài năng, hiểu biết, để nhằm
có lợi chung cho xã hội hay cho những yêu cầu bó buộc đặc thù nào đó, vẫn là điều
không nói ra nhưng ai cũng biết.
Có điều loài người
hơn hẳn loài vật là ý nghĩa ngôn ngữ. Nếu ở loài vật ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu
đơn giản để trao đổi, biểu hiện hoặc thông báo các yêu cầu cho nhau những yêu cầu,
đòi hỏi đơn giản, ở người ngôn ngữ là hệ thống phong phú, tinh vi, phức tạp bao
gồm cả cảm xúc, tình cảm, nhất là những nội dung ngữ nghĩa nào đó. Nên loài vật
không có sự giả trá về ngôn ngữ, còn loài người điều này thường được phát huy
vô hạn. Nên tuyên truyền chính là một biểu hiện gian dối nhất. Như trong chính
trị, tuyên truyền là biện pháp gian xảo nhất không chỉ đối với đối phương, kẻ địch,
và nhất là kể cả trong nội bộ dân chúng của chính mình. Nó tạo nên sự sai biệt
rõ ràng cái vỏ ngôn ngữ chỉ rỗng tuếch bên ngoài với chính cái nội dung chứa đựng
bên trong. Bởi vậy đây chỉ là một thủ thuật gian dối mà chỉ thế giới loài người
mới có.
Vì thế nghe ngôn
ngữ tuyên truyền bề ngoài người ta rất dễ bị nhầm lẫn, sai lạc sự thật, nhất là
những kẻ ngây thơ, cả tin, hoặc những hạng quần chúng nông cạn, kém nhận thức
hiểu biết. Đây là điều tệ hại nhất của con người mà thời kỳ chính trị về sau
này càng rất hay có nhất là đối với những trường hợp đấu tranh về ý thức hệ mà
chẳng ai không biết. Sự tuyên truyền của Đức quốc xã hay ở nước Nga sô viết trước
kia là điều kinh tởm vì nó thường mang tính chất mê hoặc, ngu dân, nhất là đối
với thanh thiếu niên và giới trẻ, tạo nên những thế hệ liên tiếp nhau cuồng tín
sẳn sàng sống chết giả tạo trong mọi loại.
Tuy nhiên mọi điều
gì giả dối cốt chỉ phục vụ cá nhân nào đó lại nhân danh những lý tưởng cao quý,
nhân danh quyền lợi đất nước hay xã hội, thường chỉ lũng đoạn được xã hội khi
những nhân vật đó tồn tại, nhưng sau khi sự thế thay đổi, các nhân vật gian
trá, giả dối đó mất đi, còn lưu ảnh hưởng đến vài thế hệ kế tiếp rồi cuối cùng
vẫn đều nhạt nhòa, tiêu mất. Đây chính là một bi kịch của loài người, con người
lừa dối, lừa gạt nhau khi có thể để nhắm vào lợi ích cá nhân của mình và nhiều
khi có thể làm cả xã hội điêu đứng. Có nghĩa cái gian dối, quỷ quyệt của con
người là luôn luôn có, nó tác động lên xã hội bất cứ khi nào có điều kiện thuần
lợi, có khi kéo dài qua một thời kỳ lâu dài, nhiều khi đến nhiều năm hay cả thế
kỷ, nhưng sau cùng mọi điều gian dối đều phải biến mất và trả lại mọi sự bình
thường cho xã hội.
Thành ra xã hội
loài người thưởng ở vào hai trạng thái. Trạng thái bình thường tối hảo và trạng
thái không bình thường, mất sự tối hảo. Trạng thái đầu là trạng thái ổn định,
hoạt động hay vận động theo các nguyên lý khách quan, chuẩn mực. Còn trạng thái
sau là tình trạng biến thái, có thể do một số cá nhân nào bất bình thường dẫn dắt,
và xã hội bị nhiễu loạn hay mất đi những nguyên lý hoạt động chuẩn mực. Bởi các
cá nhân thành viên trong xã hội thường thuộc loại tốt hay cực tốt, xấu hay cực
xấu và loại trung tính, vô thưởng vô phạt. Loại tốt thường là loại có trách nhiệm
với xã hội. Loại xấu thường là loại vô trách nhiệm, dễ hành động tiêu cực và
phá tán. Còn loại trung tính tùy điều kiện hoàn cảnh mà có thể ngã sang bên này
và bên khác.
Đó là sự tương tác
giữa cá nhân và xã hội vẫn luôn luôn có như một thực tế khách quan không thể phủ
nhận hay lý tưởng hóa lên được. Sự đấu tranh giữa con người hay sự hòa hợp giữa
những con người đều tùy thuộc vào các nguyên nhân đó. Trong xã hội vận động
bình thường thì mọi cá nhân vươn lên cách bình thường và xã hội cũng tiến lên
cách bình thường. Thường sự phát triển nhận thức là ưu tiên nhất. Sự phát triển
nhận thức kéo theo sự phát triển kinh tế cùng mọi sự phát triển thiết yếu khác
như văn hóa giáo dục, sự phát triển khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật v.v…
Trái lại trong xã hội vận động không bình thường thì nó bị một số cá nhân không
bình thường nào đó cầm quyền khống chế, đi theo những mô thức bất thường nào
đó, gây nhiều tắc tị nhưng bề ngoài cũng nhìn thấy bình thường hay được cho là
bình thường.
Thường mục đích sống
của mỗi cá nhân con người là để thực hiện hạnh phúc nào đó mà mình mong muốn.
Đó đều là mục đích chính đáng và nguyện vọng chính đáng mà mọi cá nhân đều có
quyền hưởng. Và mục đích của xã hội cũng như chức năng của xã hội là nhằm đáp ứng
hay thực hiện điều đó. Ý nghĩa đó là ý nghĩa xã hội chính trị mà bất kỳ nhà nước
bình thường nào cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ hướng tới. Đó cũng là động
lực để phát triển xã hội và mục tiêu nhằm phát triển xã hội. Sự hòa hợp của mọi
thành viên xã hội chính là ở đây và sự hưởng thụ đó không phải chỉ ở hạnh phúc
xác thân tức là vật chất mà còn ở tinh thần như đầu óc nhận thức, trí tuệ, và cả
tình cảm nhân văn nữa. Nên hoạt động kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật, văn hóa
nghệ thuật, tư duy trí tuệ một cách tự do dân chủ đều là những yêu cầu, quyền lợi
chính đáng của mọi cá nhân trong một xã hội bình thường mà không ai có thể ngăn
cản hay cấm đoán được. Cả hoạt động tôn giáo cũng được xem là nhu cầu như thế.
Chính hiện tại nối
tiếp hiện tại và tạo ra hay hướng tới tương lai mà không gì khác. Không ai bắt
buộc hiện tại phải hi sinh cho tương lai là điều hoàn toàn nghịch lý và phi lý.
Bởi hiện tại và tương lai không hề có khoảng cách phân biệt. Dời hiện tại sang
tương lai chỉ là sự ngu dốt, sự mơ mộng hão huyền, là điều không bao giờ có được.
Đây là kiểu những ý thức hệ quái dị nhất, kể cả những loại tôn giáo điên loạn
kiểu tà đạo mà thỉnh thoảng trong xã hội lâu lâu vẫn thấy xuất hiện. Mọi việc đặt
tương lai trước hiện tại đều là điều ngu xuẩn. Bởi tương lai dù tốt đẹp hay lý
tưởng tới đâu vẫn chỉ đều ảo tưởng hay tưởng tượng vì điều đó chưa hề xảy ra.
Trong khi hiện tại mới là cái đương xảy ra, hiện thực, không thể cắt ngọn hiện
tại cho những mơ mộng tương lai mờ mịt đều chỉ phi lý và ngu xuẩn.
Xã hội tư bản chủ
nghĩa, hay nền kinh tế tư sản, tư bản chủ nghĩa chỉ là xã hội hoạt động bình
thường. Đó là xã hội vận động liên tục cho đến nay trải qua những thời kỳ lịch
sử liên tiếp nhất định. Thời kỳ mông muội, thời kỳ hái lượm, thời kỳ bộ lạc, thời
kỳ xã hội phong kiến, thời kỳ nhà nước quân chủ, phát triển qua thời kỳ đồ đá,
đố đồng, đồ sắt, thời kỳ kỹ thuật phôi thai, rồi thời dại kỳ công nghệ hiện dại,
đó đều là sự vận động liên tục không ngắt quảng và cũng không thể ngắt quảng.
Những chủ trương hay chủ thuyết nào mưu tính nhảy vọt hay xóa bài làm lại theo
cảm tính và thị hiếu của mình đều điên khung, càn dở, và ngây thơ, phi lý, lẫn
gây ra tai hại cả. Bởi chỉ là thay một xã hội và lịch sử bình thường vào cho một
xã hội phi lý, bất thưởng, ảo tưởng mà lại không ngờ tới. Xã hội loài người
trên tất cả mọi khía cảnh, phương diện đều có thể cải thiện để phát triển nhưng
không bao giờ có thể bị hạ cấp hay quay về một giai đoạn quá khứ đã qua nào hết.
Một cái cây đã phát triển to lơn xum xuê không thể nào còn quay lại cái hạt ban
đầu, hay con gà không thể quay lại cái trứng cũ là sự việc khách quan như thế.
Các Mác vào thế kỷ
18 ở Châu Âu nhìn thấy cảnh tượng thợ thuyền khổ cực, lương thấp, trong thời kỳ
đầu của cách mạng công nghiệp, lại quan niệm chính tư hữu và tồn tại thị trường
là nguyên nhân của bóc lột. Bởi vậy cần làm cuộc cách mạng vô sản, hủy bỏ thị
trường, loại bỏ tiền tệ, xóa bỏ tư hữu, cũng tiêu diệt mọi giai cấp khác nhau
trong xã hội, chỉ còn duy giai cấp công nhân trong tương lai, giai đoạn đầu là
xã hội chủ nghĩa, làm theo công sức hưởng theo lao động, giai đoạn sau cao hơn,
làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, đó là xã hội cộng sản lý tưởng đúng
nghĩa. Mác quan niệm xã hội cộng sản nguyên thủy là nền tảng, nhưng sau mai một
đi vì chuyển qua tư sản. Nay xã hội tới hai đầu đối kháng là vô sản và tư bản,
nhờ vào nguyên tắc biện chứng, phải một đầu bị loại bỏ là xã hội tư bản phải tự
chôn để tiến lên xã hội vô sản.
Thật sự nguyên lý
biện chứng của Hegel chỉ là nguyên lý duy tâm mang đầy chất tư biện, mơ hồ, huyền
hoặc, Mác lại mang vào học thuyết của mình là học thuyết tuyệt đối duy vật, nhằm
lý luận một cách ngụy biện, đầy tính thần hoang tưởng, Mác lại cho đảng vô sản
tiên phong của giai cấp công nhân tuyệt đối lãnh đạo, đều chỉ là niềm tin áp đặt
mà chẳng có gì bảo đảm nguyên lý khách quan cả. Trong khi dó ước vọng cao nhất
của Mác sau này cũng không cần pháp luật, không cần nhà nước, chỉ giữa công
nhân tự quản với nhau theo thiện chí và ý thức vô tư trong sáng, thực chất là đều
huyền hoặc, mê tín và đầy tính hoang tưởng. Thực chất Mác đã tạo ra kiểu xã hội
đầy tính quái dị, bất thường là vậy. Mác quên hay lờ đi bản chất con người luôn
luôn có bản năng ích kỷ, vả chăng có bao nhiêu tham vọng, lợi dụng cá nhân ngay
từ xuất phát ban đầu lẫn cả mục tiêu sau chót, làm sao tiên liệu hay ngăn cản hết
được.
Nguyên lý vô sản độc
tài hay chuyên chính vô sản làm nền tảng mà Mác đưa ra từ đầu hoàn toàn thuận lợi
cho những điều đã nói. Thành ra Mác sai cả về mặt khoa học lẫn triết học, kiểu
dốt rừng làm lại theo cách hư tưởng, hoàn toàn không khách quan hợp lý hay
không hoàn toàn hiệu quả, đi ngược lại mọi nguyên tắc khách quan, căn cơ nhất của
xã hội loài người. Có nghĩa xã hội tư bản thực tế là xã hội bảo đảm được quyền
tư hữu chính đáng của con người, bảo đảm quyền tự do dân chủ khách quan mà con
người đều cần phải có, bảo đảm những kỹ thuật kinh tế căn cơ nhất, hiệu lực nhất
mà xã hội loài người đã khám phá ta từ đầu là tiền tệ và thị trường. Mác tiêu
diệt mọi cái chính đáng, khách quan, cần thiết đó đi, để mơ tưởng về một xã hội
viễn vông, hoang tưởng hoàn toàn trống rỗng ngược lại, thật là kiểu tư duy
hoang tưởng và có thể nói hoàn toàn bất thường, kỳ dị, lẫn hoàn toàn điên loạn
và bệnh hoạn.
Trong khi đó xã hội
con người là xã hội khách quan, có những giới hạn và thực tại nhất định không
thể làm cho khác đi hay bất chấp được. Những quy luật tự nhiên về sinh học, về
tâm lý, đó là những điều kiện cơ bản mà mọi khía cạnh hay mọi mặt vận động của
loài người luôn luôn phải xây dựng trên đó mà không thể khác đi được. Như con
người muốn bay, không thể tự vận động hay làm thế nào mọc cánh ra như chim, mà
phải tìm ra các phương tiện bay trong không gian để hỗ trợ. Nên khoa học kỹ thuật
và văn hóa chính là điều kiện duy nhất để làm loài người phát triển và hạnh
phúc, mà không phải bất cứ một thứ ý thức hiện vớ vẫn, hư tưởng hay khùng điên
nào đó. Cả bản chất con người là nhân bản, đó là nguyên lý luôn luôn phải có,
tính đạo đức, tính thành thật luôn luôn là ý nghĩa và giá trị cao quý nhất,
không thể thay thế bằng bất kỳ phương tiện ngu dân hoặc gian xảo nào đó để nhằm
đạt đến những mục đích hư tưởng toàn vô bổ nào khác.
ÁNH NGÀN
(17/4/24)
**
No comments :
Post a Comment