Tuesday, April 16, 2024

NÓI VỀ Ý NGHĨA TÔN GIÁO TRONG HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

NÓI VỀ Ý NGHĨA TÔN GIÁO TRONG HỌC THUYẾT CÁC MÁC

 

Trước hết cần nói người viết bài này thật sự chỉ là người hoạt động triết học, cũng như khoa học lý thuyết thuần túy, không liên quan gì đến tôn giáo, cũng như  bất kỳ ý nghĩa chính trị nào. Hoạt động tư duy không thoát ly khỏi thực tại nói chung, nhưng cũng không hề gắn chặt kiểu cố chấp, hay nô lệ vào bất cứ thực tại đặc thù hay riêng biệt nào.

Đó cũng là ý nghĩa tôi đã viết hàng loạt các bài nhận xét, phê phán học thuyết Các Mác (kể cả dưới dạng thi ca) trên đầy đủ và trọn vẹn nhiều mặt, được đăng trên Facebook và Google trong một thời gian tương đối dài vừa qua, nhưng vẫn còn cảm thấy thiếu sót một điều rất quan trọng nếu chưa nói đến ý nghĩa tôn giáo trong học thuyết Mác bằng một phân tích sâu xa và đầy đủ nhất bắt buộc phải có. Đó chính là mục đích của bải viết này.

Bởi ai cũng biết câu nói thời danh gây rất nhiều tranh cãi và hệ lụy của Mác về tôn giáo : “Tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng”. Tức Các Mác là người tuyệt dối duy vật và vô thần nên tuyệt đối phủ nhận hay bài bác tôn giáo cho dầu bất cứ dưới khía cạnh nào. Có nghĩa duy vật phải nhất thuyết vô thần và ngược lại, cho rằng tôn giáo không có bất kỳ ý nghĩa, giá trị, hay mục đích chuẩn xác nào. Đó chỉ là thứ giả tạo làm say mê quần chúng kém hiểu biết, là thứ thuốc phiện ru ngủ làm họ quên đi những nhọc nhằng và khốn khổ, ở chính trong thế giới cuộc sống mà họ luôn hoài bị bóc lột.

Như vậy ý nghĩa kinh tế chính trị chính là ý nghĩa căn bản nhất làm Mác bài xích tôn giáo mà không gì khác. Mác cho rằng mọi sự khốn khổ trong thế gian là do bóc lột, là do tư hữu, là do giai cấp giàu có áp bức giai cấp nghèo khổ, mà trong đó tôn giáo là một trong những sự ru ngủ, là lối thoát quan trọng nhất để quần chúng bị nghèo đói áp bức quên đi hay an ủi đối với chính mảnh đời khốn nạn của mình. Mác nói tôn giáo hứa hẹn những loại thiên đàng ảo ở một thế giới nào đó để làm con người quên đi chính địa ngục thật ở trần gian này mà họ phải gánh chịu.

Do thế để xây dựng một xã hội hoàn toàn vô sản đúng nghĩa, tức xã hội cộng sản lý tưởng nhất có thể có được, cần dùng đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt tư hữu, kể cả tiêu diệt mọi loại tôn giáo, nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng loài người mà Mác từng cổ vũ, tuyên truyền và mơ ước. Nhưng chính bởi những ý tưởng cực đoan, quá khích, mù quáng đó, học thuyết Mác tạo nên một lý tưởng giả tạo, một lòng say mê cuồng tín nhất trong nhiều giới, không chỉ là giới cần lao nghèo khổ, đi theo những hành động quá khích hay cực tả khác nhau trong quá khứ, đã biến thuyết Mác lại trở thành một tôn giáo y như những tôn giáo khác, mà thực chất ở đây chính là một thứ tôn giáo chính trị.

Trong khi đó, tôn giáo thực chất chỉ là niềm tin nào đó mà tự mỗi tâm thức cá nhân cảm nhận được. Ví như cảm nhận về số mạng, về các sự kiện hay cảm thức đặc thù nào đó mang tính riêng biệt mà chỉ cá nhân đó cảm nhận được. Nhưng tất nhiên nói chung, tôn giáo không phải chỉ duy là những niềm tin siêu hình nào đó mà từng người có thể có. Đó là ý nghĩa duy tâm đối chọi lại ý nghĩa vô thần duy vật ở nơi một số người khác. Song phần lớn tôn giáo là dạng tập hợp đông người, có sự tổ chức, hệ thống thống nhất nào đó bên ngoài, mà thực tế thường thấy ở các tôn giáo lớn như Hồi giáo, Tin Lành, Thiên chúa giáo, Phật giáo v.v… Căn bản của nó là những giáo điều, tín điều nhất định. Sự tập hợp ra các tôn giáo đó thường do truyền thống đã có trong quá khứ, kể cả cá nhân, gia đình lẫn xã hội.

Như vậy Mác dùng ý niệm bóc lột hay tha hóa ý thức trong kinh tế như yếu tố nguồn gốc duy nhất của tôn giáo là không chuẩn xác. Đây chỉ là ý niệm ức đoán một chiều, suy bụng ta ra bụng người mà chưa chắc đã là khách quan hay tuyệt đối chính xác. Ngay cả khái niệm bóc lột cũng chưa chắc đã được chuẩn hóa, ý niệm đấu tranh giai cấp cũng chỉ mơ hồ, ý niệm hữu sản, vô sản cũng chỉ hổn độn, định kiến, để từ đó quy tất là là nguồn gốc, là tiền đề của tôn giáo, thì Mác thật sự chỉ quá đáng, độc đoán, hàm hồ, mơ hồ lẫn khiên cưỡng. Đây cũng chỉ là ý thức kiểu một chiều, thái quá hay bất cập nhiều mặt mà Mác vốn bản chất độc đoán, thiên lệch, mù quáng, vẫn hay thường mắc phải.

Quan niệm vô thần, vô sản của Mác thực chất cũng phải hoàn toàn thực tế, khách quan hoặc chính xác. Bởi đây là kinh nghiệm riêng của mỗi người mà không chắc người khác đã nhận định ra hết được. Mọi sinh vật sống luôn đều cần có tư hữu dầu ở các mức độ hay loại dạng nào đó. Từ thế giới vi sinh vật, đến các dạng khủng long ngày xưa, hay nơi thế giới bình thưởng chung quanh ta đều thế. Ai cũng biết mọi loài vật đều có sự khoanh vùng lãnh thổ nào đó nhất định của chúng. Đó coi như sự định vị của không gian sinh tồn thiết yếu mà chúng không thể nào không có, thậm chí dùng đến các cách tiết ra từ thân thể để đánh dấu lãnh thổ mà không cho các địch thủ của chúng có thể xâm phạm vào đó. Tư hữu vẫn như yếu tố bảo đảm sự sinh tồn, sự tự do thiết yếu mà không bất cứ loài vật nào, kể cả các tế bào sống, vẫn luôn đều thường có.

Chủ trương con người tuyệt đối vô sản để tránh bóc lột, tránh phân chia giai cấp, đạt đến xã hội bình đẳng lý tưởng, là quan điểm ngốc nghếch, trẻ thơ và hoàn toàn nghịch lý, phi lý của Mác. Khái niệm vô sản, khái niệm đấu tranh giai cấp để làm vô sản đâu khác gì những giáo điều phi lý của Mác để tạo ra một loại tôn giáo chính trị, ru ngủ các loại ý thức bình dân mù quáng và mờ mịt mà Mác đã phạm phải. Khái niệm độc tài vô sản chính là đỉnh cao tôn giáo chính trị nguy hại nhất mà Mác đã mang đến cho nhân loại với bao hệ lụy kinh hoàng nhất trong suốt cả một thế kỷ vừa qua đó hoàn toàn là trách nhiệm, thậm chí là tội ác của bản thân học thuyết Mác.

Bởi vô sản đâu phải là thành phần tinh hoa chọn lọc, lại còn thêm bao thành phần cơ hội sai trái, xảo quyệt nhảy vào để nhân danh nó, lại cả thêm sự độc tài độc đoán vô lý đó chính là kiểu Mác đã vẽ đường cho hươu chạy. Nó vừa ức chế cá nhân con người, vừa phản lại mọi sự bình đẳng xã hội, tạo ra bao bất công phi lý và cản ngại cho phát triển cuộc sống khách quan mọi mặt, đó chẳng phải là một loại tôn giáo, lại là dạng tôn giáo nghiệt ngã nhất là gì. Thật ra mọi tôn giáo đúng nghĩa đều không hề có sự ức chế bó buộc hay lừa dối giả tạo nào cả. Đó chỉ là niềm tin hay đức tin được rao giảng tự do, chỉ mời gọi, khêu gợi sự tự quyết định, thì không thể gọi là thuốc phiện mù quáng ru ngủ quần chúng như kiểu Mác chụp mũ hay lên án một cách độc đoán hay giả dối thái quá.

Trong khi đó quan niệm độc tài vô sản theo cách toàn trị, đặt xã hội con người vào mọi dạng tổ chức, tuyên truyền một chiều, mọi hành động khắt nghiệt một chiều, với niềm tin hoàn toàn mờ ảo không hiện thực không có thực chất hay kết quả trong tương lai, tức niềm tin vô ích, đi theo với mọi hành động bị ức chế, giả tạo, kiềm hãm mọi mặt, thì tự bản thân nó đã trở nên một tôn giáo tệ hại nhất, hoang tưởng nhất mà mỗi cá nhân con người, những tập thể nhỏ con người đều không thể chống cự lại được. Tính nghiệt ngã, tính phi nhân, tính quá quắc, tính hoang tưởng của học thuyết Mác cũng những hậu quả, những hệ lụy không tiền khoáng hậu của nó đích thực là ở đó. Lấy thịt đè người, dùng hiệu ứng số đông mù quáng, kém nhận thức hiểu biết để áp đảo, không những gây hại cho thiểu số mà còn đa số, nhiều thế hệ liên tiếp, cho toàn xã hội lẫn cho những giai đoạn lịch sử nhất định, đó lại là thứ tôn giáo nghiệt ngã nhất mà Mác đã từng tạo ra, nhân danh sự phủ nhận và bài xích mọi tôn giáo mang tính chân chính nói chung.

Thật ra tiền đề vật chất, tiền đề giai cấp, tiền đề đấu tranh gia cấp, tiền đề duy vật vô thần, để nhằm đi đến một kết quả kiểu không tưởng nào đó, kiểu xã hội đại đồng không giai cấp, Mác suy nghĩ chỉ theo kiểu tư biện một chiều, đều toàn ức đoán, chẳng có chút cơ sở khách quan khoa học thực chứng và chứng minh nào cả. Đây chỉ kiểu một tôn giáo chính trị tạo ra biết bao nhiêu hệ lụy, hậu quả vô lý khác nhau, từ hệ thống truyền thông giáo dục đại chúng, lẫn mọi tệ nạn giáo khoa trường ốc nơi học đường, đều chứa nhiều ngoa ngôn sáo rỗng lẫn xuyên tạc sự thật theo cách cố chấp và bất chấp mà chẳng ai không biết. Hi sinh mọi đầu óc trong sáng, mọi ý nghĩa tiềm lực của xã hội chỉ cho một số cá nhân bảo thủ, cố chấp, chỉ nhằm một số quyền lợi cá nhân riêng.

Liên Xô khởi sự chỉ là một đất nước lạc hậu nhiều mặt, thành phần trí thức yếu kém, song từ đó mô thức độc tài toàn trị, chuyên chính vô sản áp dụng đồng đều lên trên xã hội, tạo thành một tầng lớp trí thức thui chột, chỉ biết nói một chiều, thêm các thành phần cơ hội áp đảo nhảy vào, đề ra mọi nhận thức vô nghĩa, một chiều, nông cạn hoặc tai hại, không chỉ khống chế một thời gian dài khắp cả nước Nga, mà còn xuất khẩu ra nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Nhất là những nước sau thời kỳ thực dân, cắt đứt với truyền xa xưa, chỉ còn nhận thức kiểu tuyên truyền áp đặt, theo mọi tuyên truyền nông cạn áp dụng từ nước Nga, tạo nên một nền dân trí què quặt, mù quáng, không còn chút đầu óc tự chủ tự do, tư duy khoa học khách quan, hay riêng tư đúng đắn nào cả.

Kiểu tư tưởng đồng loạt theo hình thức giáo điều chai cứng như ai thắng ai, vật chất quyết định ý thức, cái nào có trước, chân lý vô địch nhất định thắng lợi v.v… và v.v… hoàn toàn như một bản đồng ca dài, lặp đi lặp lại theo kiểu mù quáng, kiểu đức tin, tín đồ tôn giáo, coi thường con người, coi thường chân lý, hoàn toàn làm xã hội và cá nhân xuống cấp, chỉ còn là công cụ một chiều để sử dụng cho một vài cá nhân nào đó, coi thường dân trí, coi thường xã hội, chỉ còn độc quyền, độc tài độc đoán làm xã hội bế tắt mọi mặt, chỉ như guồng máy chạy khoáng, chẳng còn ý nghĩa, giá trị, nội dung hay mục đích thiết thực nào cả.

 Câu thiệu ai thắng ai cuối cùng Liên Xô và cả khối Đông Âu đã hoàn toàn sụp đổ và tan rã. Câu vật chất quyết định ý thức chỉ hầu ngây thơ, nông cạn và mù quáng, chỉ làm cùn nhụt nhận thức khách quan, tự do độc lập riêng của mỗi người. Vật chất đây là vật chất nào, ý thức đây là ý thức nào. Nếu vật chất chỉ được hiểu là mọi hiện tượng tự nhiên bề ngoài, thì đó chỉ hoàn toàn trẻ con, ấu trĩ, nông cạn, chẳng có một chút tư duy chiều sâu nào cả. Nếu hiểu vật chất chỉ là kinh tế càng lún sâu vào sáo mòn cố hữu, trong khi thật sự phản kinh tế, chỉ nói suông và làm bế tắt kinh tế. Rồi ý thức là ý thức nào, ý thức tự do, độc lập, dân chủ, nhân văn, hay chỉ là ý thức gà mờ, nô lệ, giáo điều, phản tự do dân chủ, phản nhân văn.

Trong khi đó câu thiệu kinh tế mới là quyết định, thực chất chỉ là cách nói một chiều, rỗng tuếch, xa rời thực tế, hoang tưởng, đầy giả dối, giả tạo. Trong khi hiểu kinh tế chỉ là đấu tranh giai cấp, là bóc lột, là trấn áp giai cấp trong xã hội tư bản, thì kinh tế ở đây nhằm ám chỉ chỉ là kinh tế tập thể, kinh tế vô sản, kinh tế xóa bỏ thị trường và tiền tệ, đều chỉ nhập nhằng danh từ, đều chỉ lừa gạt ý niệm, đều chỉ nói đàng hiểu ngã thế thôi. Thật ra kinh tế tư nhân là kinh tế quyết định xã hội, bởi đó là nguồn sản xuất của cải tài sản cụ thể mà xã hội luôn luôn cần đến để sinh tồn. Nó luôn gắn với tư hữu, với sự hoạt động của thị trường, với sự vận động hay lưu hành của tiền tệ. Nếu nó có những nhược điểm hay bế tắt nhất thời nào đó phải liên tục cải thiện, hoàn chình bằng các biện pháp khoa học khách quan, hiệu quả, không thể hủy diệt nó theo kiểu xóa bài làm lại, dốt rừng trồng lại.

Vả kinh tế cũng không thể tự nó tồn tại và phát triển một chiều mà cần nhiều yếu tố phi kinh tế, ngoại kinh tế gắn liền với nó, phụ trợ cho nó như văn hóa giáo dục, khoa học kỹ thuật chuyên môn, cũng phải cần đồng hành, phát triển. Nên nó chung tư duy của Mác toàn tư duy hạn hẹp, một chiều, mang tính cách kiểu một niềm tin tôn giáo, kiểu giáo điều kiềm tỏa, đóng kín, kiểu một tôn giáo ngay từ bản chất hay từ khởi nguồn của nó. Đó là một tập hợp đóng mà không phải là tập hợp mở, một không gian đóng mà không phải không gian mở, nên niềm tin tôn giáo kiểu đều hạn hẹp, tính chất lụi tàn và đảo thải như vậy đã có từ trong bản nó, chỉ như một học thuyết chứa toàn ngụy biện, không tưởng, thì thực chất nó chẳng khác gì như một hư thuyết, một ngụy thuyết, và kể cả nếu như không quá, nó chẳng khác chi như một tà thuyết.

Bởi tính chất của nó là chính chất khống chế, kìm hãm, coi con người chỉ như một bản thể vật chất thuần túy, đó là điều mang tính phản nhân bản của học thuyết Mác thật sự, làm con người chỉ được nhìn trong tính cách thấp kém, dung tục, đó chính là điều phi lý và nghịch lý mà thuyết Mác phạm phải. Thật ra ý nghĩa duy vật, hay vật chất tuần túy, tuyệt đối chẳng mang ý nghĩa hay giá trị gì sâu sắc cả. Đó chỉ là khuynh hướng cảm tính, thị hiếu võ đoán, kiểu chỉ nhìn bên ngoài hiện tượng hời hợt rồi quy nạp hay đánh giá mọi bản chất bên trong đều thế cả.

Trong khi đó, nếu vật chất là bản thân của vũ trụ lại làm phát sinh được nhiều ý nghĩa hay giá trị phi vật chất về sau lại là một ý nghĩa phi lý hay nghịch lý mà Mác hoàn toàn không để ý đến. Ví dụ nguyên lý cái sâu hơn mới chứa đựng được cái hạn hơn, cái rộng hơn mới có thể chứa đựng cái hẹp hơn, đó chỉ là quy luật hay nguyên tắc thường tình áp dụng được cả trong không gian vật lý hay không gian tinh thần, tâm lý, là điều mà học thuyết mác chỉ mang tính hời hợt, nông cạn.

Nên điều về cái gì có trước, vật chất hay ý thức có trước, chỉ là lý luận kiểu ngây thơ trẻ con, nhìn toàn trên hiện tượng sự vật thông thường bề ngoài mà không đạt đến tư duy lô-gích kiểu già giặn và sâu sắc bên trong hơn. Như kiểu con gà và cái trứng là điều mà những người mác xít ngây thơ, thô lậu, trẻ con không hề tiếp cận và lý giải được. Thật ra cái nọc hay cái phôi gà chứa bên trong cái tròng đỏ, bao bọc bới cái tròng trắng rồi lớp vỏ lụa và võ cứng bên ngoài, sau hết là toàn bộ môi trường bao quát bên ngoài đều là hệ thống các lớp lang tiền đề có sẳn. Chính bộ gien là cái quyết định mọi sự phát triển ra sau này mà không phải cái gì là khái niệm vật chất trừu tượng, thô thiển, áp đặt ra cả.

Cũng vậy, sự phát triển kinh tế là do tiềm lực bên trong con người, là hoạt động của tinh thần, trí tuệ con người, tạo ra khoa học kỹ thuật, làm chủ nhu cầu đáp ứng thị trường, thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xã hội tạo thành, không phải kết quả của đấu tranh giai cấp vu vơ mà Mác điên loạn tưởng tượng hay vật vờ phịa đặt theo suy nghia cảm tính và mục đích thị hiếu để tô vẽ và ngụy tưởng. Câu kinh tế quyết định xã hội, hj tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc mà Mác từng đưa ra và làm nhiều người lóa mắt, thật ra chỉ là kiểu lý luận mơ hồ, đầy tính tưởng tượng, huyền hoặc và áp đặt mà Mác tự cho như là sự khám phá ghê gớm, thật ra bản chất của nó chỉ là vu khoát, lừa đôi, không có cơ sở thực chất, kiểu toàn lý luận một chiều, tư biện mà không có chứng minh gì cụ thể xuyên suốt hết.

Nói tóm, với tiền đề là vật chất tự nhiên trong vũ trụ tồn tại, và khái niệm kinh tế thuần túy và chủ yếu như làm ra vật phẩm phục vụ cho cái ăn trong tính cách đấu tranh giai cấp, Mác kết hợp lại coi như hạ tầng cơ sở bao quát và nền tảng nhất, tạo ra thượng tầng kiến trúc bao gồm cả văn hóa, tinh thần nhân loại, bao gồm cả đạo đức, tôn giáo, pháp luật, nhà nước, được Mác đánh giá chung chỉ là sản phẩm hư tưởng do hạ tầng cơ sở tạo thành qua bởi sự kiện đấu tranh giai cấp và sự bóc lột, phân chia giai cấp trong xã hội tư sản có giai cấp mà tạo nên.

Bởi vậy mục đích của Mác là phải đi đến xã hội vô sản không còn tư hữu, không có giai cấp, không cần pháp luật, chẳng có tôn giáo, không cần pháp luật, không còn nhà nước, thực chất là quan điểm hết sức phi lý, kỳ quặc, không tưởng của Mác mà ông ta cho là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại theo cách bệnh hoạn và kiểu hoàn toàn điên loạn là như thế. Do bởi theo Mác khi cơ sở hạ tầng được giải quyết, tức xã hội hoàn toàn vô sản, không còn những mâu thuẫn về giai cấp nữa, mọi thượng tầng kiến trúc cũng phải biến mất đi như đã nói. Thật đích thực là một loại ngụy thuyết, hay thậm chí là loại tà thuyết kỳ dị nhất, lại tự mệnh danh là khoa học tuyệt đối và lý tưởng, mà lịch sử nhân loại từ đầu tiên cho đến thời của Mác hoàn toàn chưa hề thấy xuất hiện. Vậy nhưng nó gần như một học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa, hay kể cả một loại học thuyết kiểu vô chính phủ mà mọi người thấy rõ. Cả đến như một học thuyết kiểu vô thiên vô pháp chỉ tạo nên một sự hổn loạn lẫn cả làm tan rã xã hội con người mà không gì khác.

Tức học thuyết Mác có thể nói là hoàn toàn sai trái về mặt triết học, về mặt khoa học, về mặt nhận thức lý luận, lẫn về mặt đạo lý, cũng như cả về mặt thực tế lịch sử trong đời sống xã hội loài người, chỉ đều là như thế. Mác lấy cải giả ảo, hư huyễn đem thay cho cái đích thực của xã hội, lại mệnh danh đó mới là cái đích thực nhất, sự huyễn loạn xã hội của Các Mác vốn chính là như vậy. Cái cốt lõi của Mác là tin tưởng tuyệt đối vào khái niệm biện chứng của Hegel mà Mác nhận thức là chân lý tuyệt đối, để tự nhận mình là tuyệt đối khoa học để hấp dẫn nhiều người khác. Trong khi nội dung biện chứng đó chỉ đầy tính mơ hồ, tư biện, huyên hoặc, chẳng có gì chuẩn xác hay được chứng minh rành rọt cả.

 

THƯỢNG NGÀN

(16/4/24)

 

**

No comments :

Post a Comment