PHÂN
TÍCH VÀ PHÊ PHÁN CỐT LÕI VỀ HỌC THUYẾT CÁC MÁC
Mọi sự phê phán nếu
không phân tích chỉ đểu nông cạn, hời hợt, vì không chứng minh được điều gì và
cả khi chỉ nhằm cảm tính và rất có thể thiên lệch. Đó là sự phê phán kiểu khen
chê do thị hiếu, ưa thích hay thù ghét mà không phải là sự khách quan nhằm lợi
ích đúng đắn và khoa học thật sự. Có người cho rằng ngày nay sự phê phán học
thuyết Mác là hoàn toàn vô ích vì không còn cần thiết nữa, có nghĩa ai cũng đã
biết học thuyết Mác thật sự sai hay đúng như thế nào rồi qua sự kiểm nghiệm
trên toàn thế giới trong suốt gần một thế kỷ đã qua.
Tuy nhiên như vậy
vẫn còn hời hợt, nông cạn hoặc chỉ nhằm một thiển ý nào đó. Bởi vì khách quan
và khoa học luôn luôn không ngừng thay đổi, phát triển, nên mọi nhận thức không
thể chỉ dừng mãi ở một điểm nhất định mà luôn phải tiến tới. Sự nhận thức của số
đông có khi chỉ phụ thuộc vào một vài người, và sự nhận thức chung toàn xã hội
cũng đều như thế. Chính sự nhận thức quyêt định dân trí hay mặt bằng dân trí của
toàn xã hội, có thể làm cho xã hội tiến lên, ngưng trệ, hay tụt xuống, chính là
điều cần phải quan tâm hơn hết, vì nó liên quan đến tất cả mọi người mà không
chỉ riêng ai cả.
Sự phân tích làm
cho sự phê phán cốt lõi càng sâu xa, đầy đủ và hoàn chỉnh hơn cũng như ngược lại.
Chính cái cốt lõi mới luôn luôn là cái quyết định mà không phải chỉ những cái
râu ria, nông cạn, hoặc hời hợt bên ngoài. Bởi cái cốt lõi là cái trọng tâm nhất,
trung tâm nhất, và cả quyết định nhất. Đó là cái xương sống, cái bản lề, cái
sâu thẩm, sâu xa nhất quyết định cho mọi cái khác mà người ta không thể hời hợt
bỏ qua hay quên đi được. Sự phân tích cái cốt lõi làm cho sự phê phán cái cốt
lõi càng sâu xa, đầy đủ, đó là một nhu cầu luôn luôn cần thiết đơi với tất cả mọi
sự về phương diện giá trị khách quan và khoa học.
Vậy mục tiêu lẫn cả
mục đích cuối cùng của học thuyết Mác là gì, đó là điều mọi người cần phải lưu
tâm hiểu biết đến. Về mặt kinh tế xã hội, đó là mưu cầu cao nhất của Mác, là kiểu
làm ăn tập thể, không có cá thể, để nhằm tránh đi mọi sự bóc lột về kinh tế
trong xã hội loài người. Mác quan niệm sự bóc lột chính là điều nhức nhối nhất
trong xã hội và phải tận diệt điều nhức nhối đó. Mà sự bóc lột chính là do quyền
tư hữu, quyền tư hữu tạo nên giai cấp trong xã hội loài người, vậy muốn không
bóc lột phải xóa tư hữu, tức cũng xóa bỏ giai cấp, chỉ có làm ăn tập thể thì
không còn bóc lột.
Mác còn đi đến sự
cực đoan cao hơn, cho rằng xã hội cộng sản lý tưởng hay bậc cao nhất cũng chính
là xã hội không cần nhà nước, không cần pháp luật, không cần thị trường, không
cần tiền tệ, vì lúc đó chỉ còn duy giai cấp công nhân hay người công nhân thuần
túy, hoàn toàn giống nhau, trong sáng như nhau, nên mọi định chế tư sản cũ đều
không cần thiết tồn tại nữa. Cả mọi đạo lý truyền thống cũng không còn vì bị
xóa bỏ đi chỉ như đạo lý kiểu tư sản để nhằm thế vào một đạo lý mới mẻ là đạo
lý vô sản hay đạo lý cộng sản. Tức nói chung đó là cuộc cách mạng xã hội vĩ đại
nhất mà Mác mơ tưởng, một cuộc cách mạng kiểu chặt cây trồng mới lại, xóa bài
làm lại, đốt rừng trồng lại.
Chỉ người trí thức
chân chính mới thấy đây là điều hoàn toàn hư tưởng, một sự hư cấu xã hội mà Mác
đã hoàn toàn vấp phải, một sự mơ mộng hão huyền, phung phí mà không bao giờ thực
hiện được mục đích vì trái với mọi khách quan thực tế và thực chất chỉ toàn phi
lý và vô bổ. Mác quên rằng con người sinh ra đều bình đẳng, có nghĩa không ai
có quyền gì để ức chế ai, bó buộc ai nếu không có sự tương thuận của họ. Mọi sự
hợp tác trong xã hội luôn cần thiết, nhưng phải có kỹ thuật hợp lý, hiệu quả nhờ
phù hợp với quy luật khách quan nhưng không thể bốc đồng tùy tiện theo kiểu độc
tài vô sản hay chuyên chính vô sản mà Mác từng tùy tiện và độc đoán, chủ quan
sai trái tuyên bố.
Mác căn cứ vào
tình cảnh thợ thuyền nghèo khó trong thế kỷ 18 ở châu Âu khi nền kỹ nghệ còn
phôi thai để suy luận viễn vông hay nhằm ngụy biện ra đủ cách. Hồi đó xã hội
còn thấp kém và nghèo khổ nhiều mặt, vì nền sản xuất mới phôi thai còn nhiều lạc
hậu, chỉ mới có một số ít chủ nhân là sống đầy đủ hơn giai cấp công nhân nói
chung, đó là một thực tế không thể chối bỏ và cũng không thể cường điệu quá mức
hay quá quắc kiểu Mác. Bởi kinh tế tư nhân và thị trường họ bắt buộc phải cạnh
tranh chính đáng để tồn tại và phát triển. Quy luật tiền tệ, quy luật đầu tư,
tái đầu tư, và mở rộng, phát triển thị trường để tồn tại và vươn lên đều là những
quy luật khách quan mà ai cũng biết, không thể vin vào số trường hợp bóc lột đặc
thù nào đó để phổ quát hóa và lên án tất cả.
Mác nhìn sự bóc lột
chỉ theo sự cảm quan một chiều kiểu chủ quan cá nhân mà thiếu sự tỉnh táo nhìn
công bằng sâu xa nhiều quy luật khác nhau muôn vàn trong xã hội. Sự đấu tranh
cá nhân đời thường vẫn luôn có, ngoài sự ích kỷ cá nhân do đều bởi bản năng
khách quan tự nhiên vẫn còn có pháp luật, có quy luật thị trường, quy luật tâm
lý cá nhân và tâm lý xã hội, không ai có thể bị hoàn toàn khống chế hay bó buộc
bị thua thiệt mọi mặt một cách phi lý hay nghiệt ngã nhất. Vậy nhưng Mác khái
quát hóa sự bóc lột như một điều tưởng tượng cực đoan và tai quái nhất để đổ tội
mọi nguyên nhân đều do tư hữu, do giai cấp để đi đến một xã hội cực đoan hoàn
toàn không có tư hữu, không có giai cấp, không có kinh tế tư nhân mà chỉ có duy
một dạng đặc thù là kinh tế tập thể.
Lại thêm một điều,
Mác hoàn toàn tuyệt đối tin tưởng vào khái niệm biện chứng tư biện đầy tính mù
mờ của Hegel để cho rằng đó là chân lý khách quan duy nhất đúng, cứ có hai đầu
đối lập là một đầu phải bị tiêu diệt hay bị triệt tiếu, đó là ý nghĩa xã hội tư
bản sẽ phải tự chôn và xã hội vô sản phải đi lên độc tài để thực hiện xã hội cộng
sản kiểu như trên đã nói. Nên thực chất quan điểm của Mác trở thành một quan niệm
thần bí, hiểu đấu tranh giai cấp theo cách mê tín, huyền hoặc để nhằm đi đến một
xã hội hoang tưởng, huyền hoặc kiểu không thể nào và không bao giờ có được
trong thực tế. Tính cách mơ hồ, huyền ảo của học thuyết Mác chính là ở đây,
nhưng nó đánh động được tâm lý tham vọng của những cá nhân ban đầu lợi dụng để
làm vua thiên hạ, phỉnh dụ được một số người bình dân tham lam, thấp kém, muốn
tướt đoạt người khác cho lợi lộc của mình nhân danh đấu tranh giai cấp mà chính
họ đã bị tuyên truyền, tiêm nhiễm.
Nước Nga khi ấy là
một đất nước còn lạc hậu nhiều mặt, nhiều nông dân nghèo, nên Lênin giống như
người vớ phải cọc. Cuộc cách mạng vô sản chẳng khác gì như phương thuốc hiệu quả
nhất, bởi thiết yếu trong đó là độc tài vô sản, như phương tiện nhiệm màu nhất
để có thể làm vua và tạo nền kinh tế tập thể hoàn toàn có lợi cho mình. Một
thùng đậu bình thường thì chưa có tác động gì, nhưng khi đưa vào máy ép thì lập
tức nó sẽ cho ra dầu còn mọi hạt đậu đều nát bét, đều trở thành xơ xác. Những
người nông cạn, ích kỷ, quan điểm bầy đàn tung hô sức mạnh tập thể, tung hô độc
tài sắt máu mới làm nên sức mạnh, nhưng sức mạnh đó là sức mạnh gì, có lợi cho
ai, người dân hay con người chân chính sẽ như thế nào, là điều hoàn toàn họ
không cần nghĩ đến.
Bởi không có Lênin
thực chất học thuyết Mác cũng không bao giờ do ai thực hiện. Nó đã từng chỉ nằm
trong ngăn kéo qua một thời gian dài chỉ cho mối mọt, đó là điều do chính Mác
đã hoàn toàn thú nhận. Nên Lênin thành ra cứu tinh của thuyết Mác cũng như hoàn
toàn ngược lại. Lênin là người làm chính trị thuần túy, nên cần phải dựa vào một
lý thuyết, mà lý thuyết đó quả không gì đáp ứng bằng lý thuyết Mác, bởi nó chủ
trương độc tài, bạo lực, cưỡng chế, lẫn dựa vào niềm tin mù quáng của loại quần
chúng ít học để làm nên sức mạnh quần chúng áp đảo và được tôn vinh nếu ai lợi
dụng được nó. Nhà khoa học hay nhà triết học thì luôn vô tư, tỉnh táo và nhân
cách cũng như xu hướng hòa bình. Nhưng mọi nhà chính trị đều luôn ngược lại. Họ
vì quyền lợi riêng tư cá nhân là chính, cộng với thứ ngôn ngữ bề ngoài chiêu dụ,
với các thủ đoạn ma mị, kể cả có khi độc ác, tàn bạo nhất, lúc đầu mê hoặc quần
chúng, nhưng đạt đích rồi đều làm cho quần chúng sợ hãi, khuất phục và tuân phục
như là bản chất và thói quen vẫn có, chỉ trừ một số rất ít nhà chính trị mang
tính nhân văn hoặc lý thuyết đạo đức phần nhiều.
Cho nên học thuyết
Mác là học thuyết đều mang tính tiêu cực và nghịch lý. Tiền đề của nó tin tưởng
vào vật chất tuyệt đối, đó là thái độ hư vô chủ nghĩa tiềm ẩn và trá hình, bởi
vật chất hoàn toàn vô nghĩa nếu như tinh thần không được kể đến. Mác chỉ là một
thứ duy vật máy móc, cơ giới, thực chất chỉ là vô nghĩa, nên mọi nội dung, ý
nghĩa hay mục đích mang theo với nó chỉ đều ngụy biện, vô nghĩa, giả tạo, hư ảo,
và chẳng có chút giá trị hay tác dụng hữu ích nào. Vả vật chất lại được coi là
biện chứng, thật sự chỉ là một sự phịa đặt mông lung, chẳng bao hàm một ý nghĩa
khách quan, chân chính, hoặc khoa học thiết yếu nào cả. Mác thực chất chỉ kiểu
ngụy tín, một niềm tin ảo đầy tính nghịch lý chỉ đánh lừa người khác và dụ mị
người khác để nhằm tin vào những mục tiêu không có thật, những mục đích hư ảo
huyền hoặc, không tưởng, nhưng đầy tính bạo lực cưỡng chế và làm hạ giá, phi
nhân cách con người. Đây là một sự thật và chính Lênin và cả nước Nga lần đầu
tiên đưa học thuyết Mác một cách đầy cưỡng chế nhờ tuyên truyền giả tạo ra khắp
nhiều miền trên toàn thế giới.
Sự bóc lột chẳng
qua là sự thổi phồng, mê hoặc quá đáng đầy định kiến bởi vì đi kèm theo quan điểm
đấu tranh giai cấp đầy huyền hoặc nhưng hấp dẫn bởi một số người nghèo đầy lòng
tham lam ích kỷ chỉ muốn tướt đoạt người khác bất chấp đạo lý và lý trí chỉ để
nhằm lợi lộc riêng cho chính bản thân mình. Đấu tranh con người là điều luôn
luôn có, nhưng đấu tranh giai cấp chỉ là một ý niệm huyễn tưởng mà Mác nhằm đưa
vào xã hội con người mà vốn từ trước đến sau chưa có. Trong Tuyên ngôn cộng sản
Mác bảo xã hội loài người ngay khởi đầu và từ trước đến nay chỉ là xã hội đấu
tranh giai cấp chỉ là một kiểu nói một chiều theo cách ức đoán và áp đặt mà rất
nhiều người chỉ vì quan điểm lợi lộc cá nhân đã từng tin sái cổ.
Như vậy từ khởi điểm
học thuyết, đến mục tiêu học thuyết, kể cả những nội dung trung chuyển học thuyết,
thật sự thuyết Mác chỉ toàn ngụy biện, hư ảo, vô lối và hoang tưởng, nhưng những
người lợi dụng, thiên lệch, vị kỷ cá nhân đều vin vào đó như chân lý tuyệt đối,
chân lý vô địch bách chiến bách thắng muôn năm. Đó chẳng qua vì thị hiếu, vì cảm
tính, vì áp lực mọi loại, vì sự khống chế của quyền lực mà từng một thời gian
dài suốt cả gần thế kỷ chỉ làm áp đảo con người, kìm hãm xã hội, tướt đoạt hết
mọi sự chân chính, chính đáng của cá nhân và xã hội mà không ai dám nói ngược lại.
Hậu quả của nó là làm con người hạ cấp, lươn lẹo, gian trá nhiều mặt góp phần
làm cho xã hội hổn độn, vong thân, mất cả tính nhân bản buộc phải có. Chỉ do vì
Mác phủ nhận và muốn hủy diệt tất cả mọi ý nghĩa và giá trị của xã hội tư sản
muốn có vậy thôi.
Thật ra từ ngữ vô
sản của Mác đưa ra chỉ là vô lối, bởi vì nó ngược lại chính nhu cầu và khuynh
hướng tự nhiên vốn có của con người. Tài sản hay của cái hay tư hữu là công cụ
nói chung của mọi cá nhân tự do và độc lập. Thiếu điều này là thiếu điều kiện
làm người, làm con người hạ cấp xuống thành sinh vật thuần túy. mà còn thua cả mọi
sinh vật thuần túy, vì mọi sinh vật thuần túy cũng buộc phải có lãnh thổ và các
công cụ nào đó riêng tư giúp cho tồn tại phải có của bản thân mình. Thuyết vô sản
cá nhân và xã hội con người, thực chất chỉ là thuyết ngu xuẩn, nghịch lý, và phản
khoa học nhất trong thực tế mà Mác đã nghĩ ra, chỉ nhằm để tránh một điều hoàn
toàn vu vơ là tránh bóc lột trong xã hội loài người. Thành ra Mác chỉ kiểu biết
một mà dốt cả mười. Từ ý nghĩa muốn thiết lập một xã hội lý tưởng đẩy ảo tưởng,
mê muội, Mác muốn tận diệt đi một xã hội luôn luôn khách quan có thật với muôn
vàn định chế và quy luật hữu hiệu mà nhiều ngàn năm nhân loại mới tiến hóa và
sáng tạo ra được. Tưởng đi đến một xã hội nhân bản ảo tưởng mà thật ra Các Mác
chỉ đưa tới một xã hội phi nhân trong thực chất. Thực chất nó phản lại loài người
mà cụ thể là ý thức nhân bản, kinh tế và văn hóa, mà thực chất đều hoàn toàn
khách quan, đúng đắn, nhăn văn, và luôn mãi thiết yếu thế thôi.
Đó là thực trạng
cha chung không ai khóc, của chung không ai giữ, lý tưởng cộng sản của Mác mà
nhiều người từng theo đuổi, hi sinh thật ra cho dù trăm năm hay mãi đến ngàn
năm cũng chỉ là mù khơi, vô bổ, chỉ vì nó không có căn cơ thiết thực nào cả. Ý
thức hệ ở đây chỉ do một người làm ra là tư tưởng phi lý và ngông cuồng của bản
thân Mác. Nhưng thực chất nó mang trong mình yếu tố bạo lực kiểu độc tài vô sản
mà khiếp phục được toàn xã hội một cách phi nghĩa vì nhờ mang tính cách bạo lực
cưỡng chế.
Nhưng cuối cùng nhờ
hệ thống tổ chức chặt chẽ trong toàn xã hội kiểu toàn trị cộng vào mọi nền tảng
giáo dục thuần ma mánh, cưỡng chế và tạo niềm tin mù quáng, ngây thơ và giả tạo,
nó cũng gây ra nhiều thế hệ con người chỉ có biết cuồng tín, bạo lực, hay chỉ
loại con người vong thân, đánh mất bản thân hồn nhiên, ngay thẳng, chính đáng của
mình để chỉ còn thuần túy là công cụ giả dối từ đất nước Liên xô cũ, qua Trung
Quốc, Triều Tiên cùng nhiều quốc gia, dân tộc nữa mà suốt gần thế kỷ chẳng đi đến
đâu cả ngoại trừ lợi ích cá nhân của một số ít lớp người, đó khác gì nguồn gốc
tội lỗi hay tội ác thật sự đối với thế giới nhân loại trong quá khứ xuyên suốt
thời gian dài cả gần thế kỷ, đó không ai ngoài chính bản thân của Mác. Một học
thuyết không căn cớ, không có cơ sở khoa học trong thực hiện, mục đích chỉ đều
hư tưởng, huyễn hoặc, nếu không nói toàn kiểu hư vô chủ nghĩa lẫn toàn kiểu vô
chính phủ chủ nghĩa, đó chính là bản thân đích thực, cốt lõi sâu xa nhất của học
thuyết Các Mác.
THƯỢNG NGÀN
(20/4/24)
**
No comments :
Post a Comment