NÓI
VỀ SỰ PHÊ PHÁN MỘT LÝ THUYẾT KHOA HỌC
Một lý thuyết khoa
học là một lý thuyết chắc chắn, khách quan, chuẩn xác, và hoàn toàn hữu ích. Những
đặc điểm hay thuộc tính đó của lý thuyết khoa học luôn hỗ trợ nhau, đòi hỏi
nhau, bó buộc nhau, hay bổ túc, tăng cường cho nhau. Bất kỳ lý thuyết nào mà
thiếu sót hay không có các tính cách khoa học như trên đều không phải là lý
thuyết khoa học. Bởi ý nghĩa hay giá trị khoa học đòi hỏi phải được xác định
qua các tiêu chí bó buộc đó về mặt lý thuyết hay học thuật, và cả những kết quả
thực hành sau khi các tiêu chí đó được đưa vào vận dụng và chứng minh được hay
không trong thực hiện.
Ở đây lý thuyết
khoa học được hiểu bao quát hay rộng rãi nhất trong khoa học cơ bản, như khoa
toán học, khoa học tự nhiên như các môn có đối tượng vật thể hay thiên nhiên,
và khoa học xã hội có đối tượng là con người và xã hội. Khoa toán học có công cụ
tìm kiếm, chứng minh, hay kiểm nhận bằng lý trí, tức bằng đầu óc lô-gích khách
quan, cũng như bằng các nguyên lý chặt chẽ, chính xác nhất. Khoa học vật thể và
tự nhiên cũng bằng các nguyên lý lô-gích khách quan, chắc chắc nhất, ngoài ra
còn được bổ sung bằng các công cụ hỗ trợ nhằm cần đo, đong đếm, hay xác minh bằng
công dụng máy móc chính xác mà ai cũng đều biết. Riêng khoa học xã hội và con
người chỉ có thể bằng các công cụ tinh thần như đầu óc tri thức hiểu biết, sự
thông minh suy đoán, cùng năng lực nắm bắt lô-gích thật sự chặt chẽ, trung thực,
khách quan cũng như xác đáng nhất.
Bởi vậy bất kỳ lý
thuyết nào nếu không hội đủ hay còn thiếu sót một hay vài tiêu chí khoa học bó
buộc nào đó, nhất thiết nó đều không phải lý thuyết khoa học mà chỉ mang tính
cách tưởng tượng, ức đoán hay tự khẳng định vu vơ nào đó, khiến thực chất đều
không có ý nghĩa hay giá trị lý thuyết nào đó, mà cả mọi ý nghĩa thực hành cũng
không bao giờ hữu dụng hay đạt đến những kết quả thực tế chung cuối cùng nào cả.
Chúng thật sự chỉ vô ích, hoàn toàn vô tích sự, chỉ gây ra những kết quả phung
phí, tạo ra những hệ lụy tai hại nhiều mặt đối với bản thân con người và xã hội,
kể cả lịch sử khách quan nói chung, và chúng chỉ là những hư thuyết, ngụy thuyết,
kể cả là tà thuyết, nếu chúng nhằm áp dụng vào các quy mô lớn hay các phương diện
vĩ mô.
Vậy ý nghĩa và mục
đích cuối cùng của lý thuyết là gì ? Đó thực chất đã có từ lâu trong lịch sử
nhân loại. Lý thuyết là tham vọng về cái nhìn bao quát, chặt chẽ nhất về phương
diện, phạm vi, lãnh vực, hay khía cạnh cái nhìn nào đó về sự vật mà con người
muốn khai phá hay áp dụng từ thiên nhiên thực tế khách quan vào cho sự nhận thức
hiểu biết lẫn cho các mặt hữu ích trong đời sống. Đây là yêu cầu thiết yếu,
chính đáng, bởi vì lý thuyết luôn luôn là cơ sở đích thực cho thực hành, làm
cho thực hành được tiết kiệm, hiệu lực, và kết quả hơn, nhưng mặt khác, lý thuyết
luôn vẫn là khuynh hướng hay niềm đam mê dễ bị lợi dụng nhất, mang đến những lý
thuyết giả, những lý thuyết không có cơ sở thực tế chân thực, hay kể cả những
tham vọng mơ hồ, hư tưởng, kể cả những mục tiêu giả tạo hay giả dối nhất định.
Vậy muốn tạo ra một
lý thuyết hay học thuyết, phải luôn xuất phát, đặt nền trên những nguyên lý xác
thực đã có, nhằm tìm ra, đi đến khám phá những nguyên lý tinh vi, sâu kín và mới
mẽ hơn, không phải chỉ là những ham muốn tưởng tượng, những đặc thù thị hiếu
hay chủ quan nào đó để nhằm tự khẳng định một mục đích mơ hồ, huyền hoặc nào đó
để nhằm theo đuổi hay cưỡng bức, bó buộc mọi người hoặc toàn xã hội phải theo
đuổi. Tức chỉ nguyên lý đúng mới đẻ ra những nguyên lý đúng mà không là gì
khác. Cái phi nguyên lý không thể đẻ ra được bất kỳ nguyên ký đúng đắn nào. Bởi
trong thực tại đời sống chỉ luôn luôn có một nguyên lý duy nhất đúng, rồi chúng
tạo thành những hệ thống nguyên lý khác nhau cùng liên quan nhau và cùng nằm
trong đó, không thể nào khác. Mọi cái gì sai với khách quan đều không tạo ra
nguyên lý, mà thuần túy chỉ là sự tưởng tượng, giả tạo cũng như thêu dệt theo
cách chủ quan và giả dối.
Như trong toán học,
nguyên lý cơ bản nhất là những định đề đầu tiên, tuy không thể hay không bắt buộc
phải chứng minh, nhưng có thể chứng minh không thể có những sự thật hay nguyên
lý nào đúng hơn nó, nên nhất thiết phải công nhận nó là duy nhất đúng. Các
nguyên lý trong mọi ngành khoa học tự nhiên khác cũng đều như thế. Tức chúng
làm thành một hệ thống toàn diện, đầy đủ và bao quát nhất, mà những nguyên lý đến
sau không thể phủ nhận, đi ngược lại hoặc mâu thuẫn với mọi nguyên lý đã từng
có trước đó. Bởi nếu không cũng không còn khoa học, tức không còn mọi sự khách
quan, chắc chắn khẳng định hay thống nhất nào cả. Nguyên lý chưa phải là chân
lý, nhưng nó tạo nên cái cốt lõi cho chân lý, là hệ thống trụ cột chống chõi
hay nâng đở cho chân lý khách quan được tồn tại trong vĩnh cửu cho đến khi có
những nguyên lý tốt hơn được tìm ra để thay thế.
Vì thế nguyên lý
dù ở dạng nào hay phạm vi cụ thể hoặc bao quát nào, cũng đều là những nền tảng
khách quan nhất, bao quát nhất, bất biến nhất, vượt ra ngoài mọi phán đoán chủ
quan cảm tính, vượt lên trên mọi thị hiếu nông cạn riêng tư hay bốc đồng nhất.
Tức nguyên lý luôn luôn ở dạng lý tính, còn tình cảm, thị hiếu, ham muốn, chủ
quan con người chỉ luôn ở dạng cảm tính. Lý tính là nguyên tắc của sự lô-gích,
của sự phán đoán thuộc lý trí và trí tuệ, còn cảm tính đều là những khuynh hướng
tự nhiên, buông thõng, và cả thấp kém. Người lý tính là người chỉ nghĩ đến sự
thật hay chân lý khách quan, người cảm tính là người chỉ nghĩ đến ích lợi bản
thân hay phe nhóm của mình, bất chấp mọi sự thật hay kể cả những lợi ích chung
nào đó. Trạng thái lý tính là trạng thái con người khách quan, nhân bản, trạng
thái cảm tính và thị hiếu là trạng thái bình thường của mọi loài sinh vật, chưa
thể đạt đến bản chất nhân văn thật sự, hay đã bị thụt lùi, tụt hậu và đã đánh mất
hoàn toàn nó.
Con người bởi vậy
khác loài vật là nhờ bởi giáo dục cùng với sự suy nghĩ, phản tỉnh độc lập riêng
rẻ ở bản thân mình. Chính cái đầu (tức nền giáo dục) làm phong phú, sâu sắc, củng
cố thêm cho cái sau, và theo cách nào đó cái sau cũng củng cố, bổ sung thêm
cũng như kể cả quyết định cho cái trước. Nếu nền giáo dục không nhằm nâng cấp,
giải phóng luôn cho con người, mà chỉ nhằm thiết lập tính đàn bầy, mù quáng,
công cụ hóa tuyệt đối con người, đó đều nền giáo dục phản khoa học, phản nhân
văn, phản nhân cách, phản tiến hóa, phản xã hội, hay nói chung làm hạ thấp con
người, tức nói khác là thành phản động. Mọi cái gì không tiến lên mà chỉ đứng lại
và thụt lùi, tức mọi cái đó đều là phản động. Con người cần hai điều thiết yếu
là nhân cách và sự hiểu biết. Hai điều này luôn bổ sung cho nhau, không có điều
này cũng không thể có điều kia, đó là ý nghĩa hay mục đích của nền giáo dục, vừa
đào tạo nhân cách, vừa trang bị hiểu biết, đó là nền giáo dục đúng nhu cầu nhân
văn và giải phóng. Còn ngược lại nếu nền giáo dục chỉ làm cho con người cùn mằn,
chỉ có suy nghĩ và hiểu biết một chiều, đều chỉ là nền giáo dục nô lệ và mù
quáng, tức đều phản nhân văn và phản xã hội, vì tự bản thân nó đã nhất thiết phản
lại nguyên lý thiết yếu nhất của loài người là nguyên lý tự do dân chủ.
Mọi cá nhân sinh
ra đời đều hoàn toàn bình đẳng về mặt pháp lý kể từ đầu, đó là nguyên lý công bằng
thực tế nhất mà không bất kỳ ai có thể chối cãi. Mỗi cá nhân hay cá thể sống đều
là mỗi đơn vị sống ngang nhau, chỉ có thể thế thôi. Tuy mỗi cá nhân có đều tiềm
lực và hoàn cảnh khác nhau, đó là chuyện về sau. Không thể lấy cái về sau mà phủ
nhận cái đã có trước cũng như ngược lại. Cái có trước đó chính là cài nguyên
lý, cái về sau đó là cái thực tế. Thực tế luôn phải xây dựng trên cái nguyên lý
có trước, bổ sung thêm cho cái nguyên lý có trước, nhưng không thể phá hoại hay
tiêu diệt nó. Đó chính là ý nghĩa của nguyên lý khoa học khách quan và trọn vẹn
nhất. Con người bình đẳng trên nguyên tắc, và được bổ sung bằng nguyên lý tự do
dân chủ trong xã hội, đó là điều căn cơ nhất của một xã hội nhân văn, nên bất kỳ
ai đi ngược lại nó đều thành phản động, cho dầu lý thuyết nào hay cá nhân nào
cũng vậy.
Học thuyết Mác
hoàn toàn phản lại tất cả những điều này. Không cho con người như đơn vị cá thể
là thiết yếu, mà cho giai cấp mới là thiết yếu. Không cho dấu tranh giữa đơn vị
con người là thiết yếu mà cho đấu tranh giai cấp mới là thiết yếu. Nhưng không
có con người lấy gì có giai cấp, đây là sự ngây thơ, nông cạn, mê muội, phi
khoa học và phản khoa học của chính Mác. Lấy cái không căn bản, không thiết yếu,
cái hệ quả để làm nền tảng cho cái chính yếu, đây chỉ là quan điểm ngây thơ, phản
nguyên lý, phản lô-gích mà Mác đã phạm phải. Vì con người cụ thể mới là cái có
thật, đấu tranh giữa con người cụ thể mới luôn là cái có thật. Trong khi giai cấp
chỉ là phạm trù phân loại, ý niệm phân loại theo kiểu giàu nghèo hay là trên dưới
tạm thời khác nhau theo cách bề ngoài và luôn luôn dễ dàng thay đổi, biến chuyển.
Đấu tranh chỉ giữa cái có thật, làm sao có sự đấu tranh chỉ giữa cái ý niệm trừu
tượng, đây là quan điểm hoang đường và hoàn toàn giả tạo hay giả dối của Mác.
Vả chăng quan điểm
đấu tranh giai cấp của Mác là gì ? Đó là mục đích để xã hội không còn giai cấp,
cũng không còn bóc lột, không còn giàu nghèo, vì tất cả chỉ thành giai cấp vô sản
là giai cấp duy nhất, nhằm tiến tới xã hội tối thượng sau cùng không còn nhà nước,
không còn pháp luật, không còn thị trường, không còn tiền tế, không còn tư tưởng,
chỉ còn mọi người ngang nhau trong một xã hội tuyệt đối vô sản, cùng lao động sản
xuất để phân chia tài sản trực tiếp với nhau, giai đoạn đầu thấp gọi là xã hội
chủ nghĩa, làm theo công sức hưởng theo đóng góp, giai đoạn sau lý tưởng cao
hơn, gọi là xã hội cộng sản, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Lúc này tài
sản đều tuôn ra như nước, mọi con người đều tự giác làm việc và hưởng thụ, hoàn
toàn không còn ỷ lại, ganh ghét đố kỵ nhau nữa, đó thật là một xã hội thần tiên
hoàn toàn huyền hoặc, hoàn toàn không tưởng và tuyệt đối hư tưởng mà Mác quan
niệm.
Sở dĩ có quan niệm
như trên vì Mác nhìn thấy thực tế nghèo khổ của những người vô sản thợ thuyền
nghèo khó ở Châu Âu vào thế kỷ 18, lúc công kỹ nghệ bắt đầu hình thành và phác
triển. Tất nhiên bất kỳ xã hội nào khởi điềm hình thành đều có có sự hổn loạn
hay bất nhất của nó. Nhưng nếu nó đi đúng quy luật khách quan, đi đúng nguyên
lý thiết yếu, nhất thiết vẫn được tồn tại, phát triển, và vượt qua được chính
những giai đoạn tạm thời gay cấn và đầy bất công đó, trừ khi nó đi không đúng
khách quan, không đúng nguyên tắc, hoàn toàn sai trái nguyên lý thiết yếu, tất
tự nó mới toàn đào thải vì không trụ lại được. Mác đi từ cảm thức mang đầy cảm
tính và thị hiếu đó để mơ tưởng một xã hội hoàn toàn không có giai cấp, không
có bất kỳ sự sai biệt khác nhau nào, cho mọi định chế thiết yếu mà xã hội loài
người đã khám phá và xây dựng nên đã từ vạn năm trước bị cho là tư sản phải tận
diệt đi để xây dựng một xã hội tuyệt đối và hoàn toàn vô sản.
Mác coi thực tế xã
hội tư hữu và tư bản là xã hội bóc lột, vì nguyên nhân sâu xa và tiên quyết của
nó là quyền tư hữu. Chính quyền tư hữu làm phát sinh ra giai cấp, ra bóc lột,
ra mọi định chế thuộc thượng tần kiến trúc như nhà nước, pháp luật, tôn giáo,
văn hóa, đạo lý v.v…đều là công cụ của giai cấp, của bóc lột, nên cần phải tuyệt
đối xóa bỏ sạch đi để thay thế vào xã hội mơi mẽ đều mọi mặt là xã hội vô sản
tuyệt đối nhất mà Mác mơ ước. Đây thật sự là điều hoàn toàn sai nguyên tắc, phản
nguyên lý khách quan, mà Mác chủ trương thực hiện một cách vô lối, tùy tiện, bằng
một cuộc cách mạng vô sản với tiêu chí độc tài vô sản mà Mác quan niệm. Sự độc
tài đã đi ngược lại nguyên lý căn cơ tối hậu là sự bình đẳng giữa người và người.
Sự độc tài hiển nhiên toàn chủ quan vì phản khách quan khoa học. Sự độc tài bởi
vậy dễ dàng bị lạm dụng trong mọi trường hợp. Vả giai cấp vô sản nếu thật sự có
cũng đâu phải giai cấp vĩnh viễn, không đẩy những cảm tính chủ quan, cũng đâu
phải nhất thiết là tầng lớp tinh hoa, kể cả những trường hợp những kẻ thời cơ,
cơ hội len lõi vào để vụ lợi, lập sự nghiệp hư danh bất chấp cả lợi ích xã hội
hay cả loài người. Sự hời hợt, ngu dốt vì phản thực tế khách quan, phản khoa học
của Mác chính là ở đó. Trong khi xã hội tư sản, nền kinh tế Tư bàn chủ nghĩa thật
ra là sự phát triển mang tính khách quan của lịch sử khi công nghiệp xuất, kết
hợp thị trường và tiền tệ, Mác lại khẳng định tư bản tự chôn, đây chỉ là sự ngụy
tín vô lối.
Thật ra quan điểm
mù quáng của Mác chỉ bởi do Mác tin tưởng hão huyền về quy luật biện chứng của
Hegel. Trong khi quan điểm biện chứng của Hegel là quan điểm duy tâm, mờ mịt,
không rõ ràng, không chứng minh gì đều cụ thể, chỉ là quan điểm đầy tính tư biện,
tưởng tượng nói suông. Trong khi Mác là người thuần túy duy vât, đem ý nghĩa biện
chứng vào đây kiểu theo cách bứt râu ông nọ cắm cám bà kia chỉ hoàn phi lý, nghịch
lý, hoàn toàn tự tiện, vô nghĩa và tuyệt đối nông cạn, nếu không nói là hoàn
toàn sai trái. Bởi vật chất thuần túy thì không có bất kỳ thuộc tính tiềm năng
nào cả ngoài ra chỉ toàn trì tính thụ động, vậy thì lấy đâu mà biện chứng được.
Đây chính là quan điểm ấu trĩ, nông cạn, và hoàn toàn càn dở của Mác. Hai đầu đối
lập của thanh nam châm, hai cực đối nhau cả trái đất có bao giờ tiêu diệt nhau
đầu, thế vô sản làm sao tiêu diệt tư bản, đúng là kiểu cách suy nghĩ biện chứng
mang tính mơ màng, tùy tiện và hoàn toàn theo dạng tự sướng, không có cơ sở
khách quan, chắc chắn nào cả. Tuy nhiên điều nguy hiểm và tội tệ nhất là sự tẩy
não con người trong xã hội. Do sự cuồng tín tin chắc là chân lý duy nhất đúng,
chân lý vô địch bách chiến bách thắng theo kiểu này mà tạo nên nền giáo dục cùng
các biện pháp cải tạo, ngu hóa một chiều đầu óc con người cần phải được độc lập
tự do, lại là điều tệ hại nhất mà chính Mác đã mang lại nhiều nơi trong nhân loại.
Thế nhưng một cái
trứng không phải tự phủ nhận liên tiếp để làm ra chú gà con, rồi gà con tự phủ
nhận liên tiếp để ra con gà mẹ, đó chỉ là nguyên lý tầm thường, vô nghĩa, bởi
vì mọi vật cũng có đâu ra khỏi ý nghĩa đó. Mà cái trứng nở ra cũng chẳng vì sự
đấu tranh nội bộ với hai đầu đối lập của nó, mà đó là hệ thống gien hay là
genom đã vận động và triển khai trong nó. Một tảng đá bên vệ đường triệu năm
cũng không thể biện chứng cho ra một cái hay hay sự sống nào đó. Đó là nguyên
lý duy vật biện chứng ngớ ngẩn, ẩu tả của Mác được đem dạy học một cách mù mịt
trong học đường mà tay Trần Đức Thảo đã một thời mù quáng từng đi rao giảng.
Cũng từ đó mà Mác phịa ra cả nguyên lý duy vật lịch sử, cho rằng nguyên lý đấu
tranh giai cấp từ đầu đã làm xã hội loài người phát triển. Trong khi chính khoa
học kỹ thuật hay tiến trình tìm ra những công cụ sản xuất khoa học từ thấp lên
cao mới hoàn toàn là tác nhân của tất cả mọi điều đó. Ngay cả thị trường, tiền
tệ, cũng là những khám phá mang tính kỹ thuật xã hội với tính hiệu năng cao nhất
mà lịch sử nhân loại từng đạt được.
Mác dùng quan điểm
đấu tranh giai cấp theo cách độc tài hay chuyên chính vô sản để nhằm tiêu diệt
mọi giai cấp khác nhau, cùng bãi bỏ mọi định chế thiết yếu trong xã hội truyền
thống đi trước đó là điều hoàn toàn phi lý. Bởi chính phương pháp luận khoa học
sai trái và sự nhận thức các ý niệm sai trái, đã làm cho chính bản thân và mục
đích củ thuyết Mác đều thành sai trái. Không bất kỳ ai ngồi trên thuyền mà tự dựng
đứng thuyền lên được. Bởi nó sai nguyên lý thủy lực và trọng lực. Đã độc tài
thì không bao giờ tự phủ nhận độc tài để đi đến tự do dân chủ được nữa. Bởi
nguyên lý về bản năng ích kỷ đều đã luôn có ở bên trong chính nó. Nên không ai
có thể dùng lửa để làm tắt lửa, dùng nước để ngăn được nước. Đó chính là quan
điểm ấu trĩ và dại khờ của Mác. Có nghĩa khi đã thiết lập độc tài vô sản thì
mãi mãi nô lệ nhân loại vào vòng độc đoán và tăm tối không thể nào còn thoát ra
được nữa. Đây là một quan niệm hết sức vô duyên, toàn phi khoa học, phản khoa học,
phản nhân văn tiến hóa và phát triển mà Mác đã thành tội ác khi vi phạm phải vì
đã vĩnh viễn chống lại nhân loại trong quan điểm ngờ nghệch, mê lú của mình.
Xã hội tư sản hay
tư bản không có gì sai trái hay ngược lại khách quan, ngược lại thực tế cả. Đây
là nguyên lý phát triển tuyến tính hoàn toàn tự nhiên liên tục không gián đoạn
của lịch sử xã hội loài người. Con người đầu tiên chưa biết kỹ thuật nên sống
đàn bầy, chưa có tư hữu, chỉ biết săn bắn và hái lượm chung, đó là thời kỳ cộng
sản nguyên thủy. Nhưng khi số lượng xã hội mở rộng, chất lượng cá nhân từng người
phát triển, sự xuất hiện tư hữu là hoàn toàn khách quan, bởi vì nó tiện ích cho
mỗi người và cũng có lợi chung cho toàn xã hội. Rồi thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ
sắt, và khoa học kỹ thuật, đến công nghệ điện toàn ngày nay phát triển. Không bất
cứ cá nhân riêng lẽ nào làm ra điều đó cả. Đó là sự phát triển, tự tiến bộ tập
thể chung của sự tiến hóa xã hội loài người. Sự khám phá ra thị trường và tiền
tệ lưu thông về sau cũng đều là những khám phá thiết yếu và vĩ đại như thế. Mọi
sự phát triển khoa học kỹ thuật và mở mang kinh tế nơi xã hội loài người thực
chất đều do tiềm lực, tiềm năng lý trí hay trí tuệ của con người là chủ yếu, chẳng
phải do điều đấu tranh giai cấp nào kiểu mê tín và huyền bí mà Mác từng tưởng
tượng.
Mác hiểu kinh tế một
cách hoàn toàn sai. Hiểu kinh tế thành một bản thể cơ học của vật chất khách
quan toàn diện là không đúng. Tác nhân chính của kinh tế yếu tố lý trí hay trí
tuệ của xã hội con ngươi, là một hoạt động nhân văn thiết yếu của con người.
Kinh tế luôn luôn chỉ tiến hóa xuôi mà không bao giờ phát triển ngược. Ngày nay
kinh tế chỉ lấy nền tảng khoa học kỹ thuật là chính, không bao giờ là cảm quan
hay sở thích, thị hiếu cá nhân được nữa. Kinh tế là cơ cấu tổ chức kỹ thuật
mang tính máy móc do thị trường chủ yếu quyết định, không phải thuần túy chủ
quan theo cách định hướng kế hoạch tập thể hay độc tài nào cả. Kinh tế luôn
mang tính cách đầu vào đầu ra và hoạt động cơ chế thiết thực. Đầu vào quyết định
dầu ra cũng như hoàn toàn ngược lại. Đầu ra chính là mục đích sau cùng mang lại
sự tiêu thụ hàng và hạnh phúc mọi mặt cho cá nhân. Đầu vào là tài nguyên và chất
xám mọi mặt. Ý niệm làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu hoàn toàn là quan điểm
ngớ ngẩn, vớ vẩn, thậm chí chủ quan kiểu ngu dốt của Mác. Nhu cầu cá nhân luôn
luôn vô hạn, còn tài nguyên vẫn luôn hữu hạn, một bất phương trình rõ ràng như
thế làm sao cân bằng để trở thành phương trình bất biến hay tồn tại vĩnh viễn,
đây là quan điểm nông cạn, mờ mịt, ấu trĩ và hoàn toàn phi lý, ngây thơ, thậm
chí ngớ ngẩn của Mác nhưng đã làm biết bao nhiêu đầu óc nông cạn, trẻ con từng
gần một thế kỷ tin chắc vào đó chỉ do bới sự tuyên truyền bất nhân và giả dối.
Nhất là quan điểm
hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc thực chất chỉ là mục đích hay ý
nghĩa nói mò, nói bướng của Mác. Thực thì Mác là người duy vật tuyệt đối, tin
tưởng vũ trụ, lịch sử, xã hội, kể cả con người đều chỉ thuần túy vật chất,
không có thuộc tính nội hàm nào khác hơn là vật chất, tức nội hàm và ngoại diên
cùng mọi kết cấu, suy diễn lô-gích nào của Mác cũng đều tuyệt đối và hoàn toàn
như thế, cả mọi hoạt động xã hội, kinh tế, và tinh thần của con người thuộc mọi
loại cũng đều như thế. Tức hạ tầng cơ sở hiểu ở đây là mọi hoạt động kinh tế
cũng như xã hội, còn kiến trúc thượng tầng là tư duy ý thức, nhà nước, pháp luật,
xã hội, văn hóa, chính trị, văn học nghệ thuật chẳng qua cũng chỉ sản phẩm thuần
túy của cái trước. Như vậy quan niệm của Mác rõ ràng là quan điểm hư vô chủ
nghĩa và vô chính phủ chủ nghĩa mà không là gì khác. Tất cả đều là vật chất,
coi như chỉ hư vô, không có nghĩa lý hay căn cơ bao quát nào ngoài hay trong cả,
thế thì lý tưởng con người và xã hội thực chất cũng còn gì, đây là ý nghĩa thực
chất thuyết Mác chỉ toàn ngụy thuyết hay tà thuyết nếu có thể nói đúng nói đắn
là như vậy.
Đã vậy Mác còn gài
cái ngàm độc tài vô sản làm cái chốt an toàn cho chính mình, cho nên ngay từ đầu
không còn ai nói lên được điều gì khác hay ngược lại, nên cứ thế mà học thuyết
Mác vĩnh viễn tồn tại nhưng thưc chất đến cuối cùng vẫn không mang lại bất kỳ
tính chất hữu ích thật sự nào cho xã hội loài người cũng như kết quả sau cùng
nào ngoài việc chỉ thỏa mãn cảm tính và thị hiếu riêng cho bản thân của Mác
cùng những người nào quyết tâm đi theo con đường mà Mác đã vạch. Sự vô nguyên tắc
của học thuyết Mác nói chung là như thế, bởi vì nó không hàm chứa nguyên lý nào
sâu xa, đích thực, chắc chắn và hiệu lực mà chỉ đều là những quan điểm lơi
khơi, tạm bợ, hời hợt, nông cạn, không có chiều sâu hay giá trị khoa học nào
khách quan, chắc chắn và đích thực nền tảng cả. Mác chỉ dùng khái niệm bóc lột
kiểu cá nhân mơ hồ, khó chuẩn mực xác đáng, để đi tới ý niệm tư hữu đầy thiên
kiến ác ý, rồi khái niệm đấu tranh giai cấp đầy khiên cưỡng, ép buộc, giả tạo,
vì đây không phải đấu tranh giai cấp khách quan thực sự mà chỉ là sức cưỡng đoạt
giai cấp, bức bách giai cấp thay vào đó một cách hư ảo đầy tính giả tạo. Kết quả
cộng với bạo lực và sự cưỡng chế sai trái, nó chỉ tạo ra sự bóc lột mới mang
tính tập thể của kiểu giai cấp mới mà không có gì khác hơn cả.
Bạo lực vô sản đi
đôi với độc tài vô sản kết quả chỉ làm tiêu diệt mọi tầng lớp tinh hoa và trí
thức của xã hội, chận đứng mọi sự phát triển đúng hướng của lịch sử, của con
người, của xã hội theo cách khách quan và thiết yếu nhất. Thay vì thấy ra những
nhược điểm nhất định nào đó của xã hội tư bản hay nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
mới khởi đầu trong thế kỷ 18 trên thế giới, Mác không tích cực tìm cách cải thiện,
canh tân nó mọi mặt theo cách khách quan, thực tế và khoa học, Mác lại đi theo
con đường ý thức hệ đầy chủ quan, kiêu ngạo mà mê tín, mưu toan xóa bài làm lại,
đốt rừng làm lại, chỉ vì vài vết chàm còn đọng lại mà nhằm chặt chân chặt tay của
toàn xã hội nhằm thỏa mãn cảm tính, thị hiếu vớ vẩn của riêng cá nhân mình theo
một xã hội không tưởng nhưng thực chất chỉ là nghiệt ngã và đầy vô ích, vô bổ.
Nó biến xã hội thành những lớp người co cụm, xu thời, nịnh bợ, khiếp nhược, sống
ký gởi, thậm chí cả khi tham tàn đánh mất cả nhân tính của mình, đây không những
là tội lỗi và còn cả tội ác của chính bản thân Các Mác cả một thế kỷ trong quá
khứ lịch sử nhân loại. Đây chính là sự tệ hại thực tế về mặt xã hội nhân bản,
khoa học đích thực, cũng như triết học nhân văn mà bằng những hệ lụy sai lầm
thuyết Mác đã phạm phải. Đó cũng là nguyên nhân của bao cuộc chiến tranh lẫn cưỡng
chế bạo lực phi lý mà loài người phạm phải kể từ khi có học thuyết Mác.
Nên tóm lại, phê
phán một lý thuyết nào cũng phải cần dùng nhãn quan khoa học, tức sự trung thực,
thẳng thắn, không kiểu a dua xu nịnh hay cá nhân, tà mị. Phê phán đứng đắn luôn
nhằm ý nghĩa khách quan chân lý, vì lợi ích chung của con người và xã hội mà
không vì tình cảm riêng tư hay thị hiếu nào đó của bản thân mình. Phê phán bất
kỳ lý thuyết nào đều phải thật sự là sự phê phán khách quan khoa học, nhằm ý
nghĩa chân lý đúng đắn hữu ích vì mục tiêu nhân văn, con người và xã hội. Trong
trường hợp đối với những lý thuyết được mệnh danh hay tự cho là khoa học, sự
phân tích luôn cần được phân tích, mổ xẻ đầy đủ trên tất cả mọi khía cạnh,
phương diện khoa học thật sự đúng đắn và nghiêm túc nhất. Con người nhân văn là
con người không thể kiểu đàn bầy, thiên lệch hay ngụy biện, gian xảo, mà con
người nhân văn luôn phải là con người lương thiện, trung thực và thẳng thắn nhất.
Phê phán một lý thuyết, nhất là lý thuyết được nhiều người biết đến và có ảnh
hưởng rộng lớn nhất, theo cách nghiêm túc và toàn diện nhất, cũng là một sự
đóng góp cho xã hội một cách cần thiết và hữu ích nhất. Xã hội loài người là một
thực thể như một tổng thể, mọi yếu tố cùng liên quan hỗ trợ, làm kết quả cho
nhau, suy nghĩ theo kiểu đấu tranh giai cấp vừa không đúng thực chất, vừa xé lẻ
xã hội theo cách giả tạo và tệ hại nhất.
ĐẠI NGÀN
(23/4/24)
**
No comments :
Post a Comment