Saturday, April 13, 2024

NÓI VỀ SỰ ĐẤU TRANH LUÔN CÓ MẶT TRONG SỰ TỒN TẠI CỦA THẾ GIỚI KHÁCH QUAN TỰ NHIÊN

NÓI VỀ SỰ ĐẤU TRANH LUÔN CÓ MẶT TRONG SỰ

TỒN TẠI CỦA THẾ GIỚI KHÁCH QUAN TỰ NHIÊN

 

Con người sống trong một thế giới luôn luôn có sự đấu tranh. Sự đấu tranh của tồn tại chung quanh mình và cả sự tồn tại nơi bản thân mình. Tức sự đấu tranh trong thế giới vi mô lẫn sự đấu tranh trong thế giới vĩ mô, cả sự đấu tranh trong thế giới đại vĩ mô hay siêu vĩ mô.

Sự đấu tranh trong thế giới vi mô hay siêu vi mô là sự đấu tranh giành sự sống của các vi sinh vật trong thế giới nhỏ nhất. Vô số loại các vi sinh vật hay siêu vi sinh vật như các con đơn bào mọi loại luôn đấu tranh để giành sự sống lẫn nhau. Chúng tạo thành một chuỗi thức ăn cho nhau khi người ta quan sát thấy được. Chúng là những con thực bào có những nguyên lý sinh học tự nhiên và hoạt động kiểu con săn mồi và con mồi như một thực tại khách quan có thật và không khi nào ngừng nghỉ.

Trong thế giới bình thường hoang dã nơi tự nhiên. Các động vật mọi loại mọi bình diện cũng đều diễn ra như thế. Con săn mồi và con mồi luôn đấu tranh nhau để tồn tại. Đó cũng là chuỗi thức ăn lẫn nhau theo thứ tự lớn bé và không thể nào khác đi được. Đó chỉ là một quy luật tự nhiên khách quan thường tình mà bất kỳ ai cũng có thể quan sát được. Sự việc đó xảy ra quanh ta và trong thế giới hoang dã tự nhiên nói chung. Đó là sự tranh đấu giữa các sinh vật sống hay nói đúng hơn là thế giới sinh vật hay thế giới loài vật.

Nhưng bên ngoài sự sống không thể gọi là sự tranh đấu được mà thật ra chỉ có thể gọi là sự đụng chạm cơ học nơi thế giới khách quan tự nhiên. Đó là điều thường xảy ra trong vật lý hay hóa học, hoàn toàn khác với thế giới sinh học. Bởi thế giới sinh học có ý thức có mục đích sống còn, dầu cho cả đến các khuynh hướng tự nhiên trong vô thức nơi các loài vi sinh vật. Trong khi đó mọi sự vận động vật lý đều là vận động vật chất vô thức, như giữa các nguyên tử, phân tử, vật thể tự nhiên, hay cả đến những hệ thiên hà trong đại vũ trụ bao la, luôn có thể có sự đụng chạm, tiêu hủy nhau hoặc kết hợp lại nhau. Đó đều sự đụng chạm cơ học phi ý thức mà không phải sự đấu tranh.

Như vậy trong thế giới con người vẫn luôn khả dĩ xảy ra sự đấu tranh trong những bình diện nào đó hoặc có ý thức hoặc kể cả vô thức. Sự đấu tranh giữa các cá thể hay tập hợp các cá thể cụ thể nào đó xảy ra trong xã hội vẫn luôn là sự tự nhiên không thể tránh khỏi khi các quyền lợi hoặc mục tiêu bị va chạm, đó chính là các hiện tượng thường thấy qua lịch sử từ cổ chí kim ở mọi nơi trên thế giới.

Việc đấu tranh trong thế giới sự sống là sự việc luôn luôn tự nhiên, bởi nếu một bên muốn được hoàn chỉnh vươn lên, trong khi bên khác muốn xâm hại, kéo xuống hay cả muốn hủy diệt nó đi. Điều này xảy ra trong lãnh vực tồn tại, lãnh vực vật chất, hay cả lãnh vực ý thức, tinh thần, mà thế giới loài người, khác hơn thế giới loài vật, vẫn luôn luôn có. Bởi xã hội loài người khác hơn xã hội loài vật là luôn có sự tổ chức chặt chẽ, có luật pháp, đạo đức, tình cảm, lẫn nhiều giá trị phức tạp, tinh vi khác mà loài vật không thể nào và không bao giờ có được. Xã hội loài người hoàn toàn khác hẳn môi trường thế giới loài vật tự nhiên hay hoang dã nói chung là thế.

Chính sự đấu tranh mọi loại như thế trong thế giới loài người đều bắt nguồn từ đẳng cấp khác nhau tùy điều kiện hoàn cảnh mỗi cá nhân tạo ra đưa đến mọi sự phân tầng gọi là giai cấp xã hội chỉ là kết quả tự nhiên khách quan luôn luôn phải có, không thể ngăn cản, tướt đoạt, phủ nhận, chối bỏ đi, hoặc tuyệt đối hủy diệt đi được. Bởi giai cấp xã hội chỉ là hiện tượng cấu trúc bên ngoài luôn luôn phải có, nó tồn tại khách quan và luôn biến chuyển tùy hoàn cảnh cá nhân hay xã hội đổi thay, vận động theo từng thời điểm bắt buộc khách quan phải có. Mọi sự vật khác nhau đều phải luôn có cấu trúc, tức cơ cấu tổ chức tự nhiên, khách quan, mà không phải chỉ có xã hội loài người.

Sự phân chia đẳng cấp hay giai cấp trong xã hội loài người thực chất đều do sự sai biệt trong điều kiện, hoàn cảnh, tiềm lực nơi từng cá thể hay cá nhân trong xã hội tạo ra một cách tự nhiên, khách quan, không thể tránh khỏi và cũng không ai có thể lấy chủ quan, duy ý chí của mình mà đổi thay hay xóa bỏ được. Đó là ý nghĩa của sự sai biệt giàu nghèo về tài sản trong xã hội, sự sai biệt về nhận thức, tinh thần, kể cá sự sai biệt về đạo đức phẩm hạnh mà mỗi cá nhân đều thể hiện ra nhất định, không ai giống ai, không thể đồng hóa hay đồng loạt lẫn nhau kiểu hoàn toàn cơ giới hay máy móc được. Mỗi cá nhân con người đều luôn luôn có nguồn gốc và kết quả tiên thiên lẫn hậu thiên mà chính cá nhân con người đó cũng không thể hoàn toàn tự mình kiểm soát hay quyết định tuyệt đối được.

Mọi sự đấu tranh trong xã hội cũng luôn luôn đã do từ đó mà ra. Như sự đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, sự đấu tranh giữa cái hay và cái dở, giữa tính tiêu cực và tính tích cực, giữa lòng vị kỷ và tính vị tha, giữa cái tầm thường và sự lý tưởng, giữa ý thức và ý chí vươn lên và với điều nhằm toàn kéo xuống, xảy ra giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân và xã hội, cả tự nơi bản thân mỗi cá nhân đều có thể có mà không loại trừ. Có thể khi hướng này thắng lợi khi hướng kia thắng lợi, nhưng vẫn luôn có sự giằn xé, hòa hoãn hay quyết liệt nhưng không bao giờ có hồi kết bởi vì xã hội và lịch sử phải luôn vận động liên tục và tiến tới mái, chỉ có thế thôi. Nói chung sự đấu tranh giữa cái tới và cái lùi, cái thăng hoa và cái cùn nhụt, và luôn luôn cái tích cực cuối cùng đều phải thăng, đó là định mệnh thiết yếu của toàn nhân loại và muôn đời vẫn vậy.

Thế nhưng học thuyết Các Mác chỉ nhằm nêu ra chỉ có đấu tranh giai cấp là điều hoàn toàn trống rỗng và phi lý. Bởi giai cấp thật ra chỉ là ý niệm, phạm trù phân chia mọi hình thức sai biệt bề ngoài, đó đâu phải thực thể hay chủ thể tính có ý thức riêng biệt, độc lập mà có sự tranh đấu lẫn nhau. Bởi chỉ chủ thể con người cá nhân mọi loại mới có sự tranh đấu cụ thể để nhằm tồn tại và phát triển vậy thôi. Sở dĩ Mác quan niệm đấu tranh giai cấp là vì tin tưởng tuyệt đối vào ý niệm biện chứng của Hegel, cho rằng hai đầu đối kháng thì phải tiêu diệt lẫn nhau để một còn một, và khi giai cấp vô sản đi lên thì phải làm cho sai cấp tư sản, tư bản buộc phải triệt tiêu hay phải tự chôn thế thôi.

Đây thực chất chỉ là niềm tin tuần túy tư biện hay kiểu thần bí, hoang đường và mê tín lẫn cuồng tín, bời không có căn cứ khoa học khách quan nào chứng minh hay khẳng định được. Biện chứng của Hegel vả lại là biện chứng có nền tảng duy tâm, Mác ngược ngạo chuyển thành biện chứng theo cách duy vật của mình, đều mang tính cách sai trái, huyền hoặc, võ đoán, áp đặt chủ quan, ngược ngạo theo hướng cảm tính và thị hiếu hoàn toàn mà không mang tính cách khách quan nào cả. Mục đích của Mác nhằm xóa bỏ giai cấp vô sản bộ phận của giới công nhân công nghiếp thế kỷ 18 ở Âu Châu để thay vào thế giới vô sản toàn diện và tuyệt đối toàn cầu vĩnh viến sau này mà Mác cho là xã hội cộng sản lý tưởng nhất.

Thế giới hay xã hội cộng sản lý tưởng đó, theo Mác, trong đó sẽ không còn bóc lột giữa người và người, vì không còn tư hữu, cũng không còn hay không có giai cấp, vì mọi giai cấp khác nhau đã bị tiêu diệt, chỉ còn giai cấp công nhân hay những người công nhân tự đề ra kế hoạch sản xuất và phân chia sản phẩm theo yêu cầu. Lúc đầu giai đoạn thấp gọi là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo lao động, giai đoạn sau là giai đoạn cao hơn thật sự, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, ai cũng hạnh phúc thật sự mà theo Mác đó là mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội nói chung. Thật sự đây chỉ là cách nằm mơ hay hoang tưởng của Mác, bởi giai cấp xã hội làm sao không có, nó chỉ biến đổi qua một dạng khác, có khi còn tệ lậu hơn thế thôi. Vả cơ sở làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu có lấy đâu mà thực hiện.

Mác quên điều kiện căn bản là sinh vật sống đều có bản năng là tính ích kỷ tự nhiên, làm sao biến đổi thành kiểu người máy hoàn toàn vô thức và tự động kiểu trong xã hội gọi là cộng sản mà Mác mơ tưởng. Vả chăng mọi nền sản xuất đều cần khoa học kỹ thuật phát triển, đều cần nguyên liệu đầu vào thiết yếu, đâu phải chỉ cần thiện chí của con người không giai cấp mà của cải tài sản sẽ tuôn ra như nước, vả nhu cầu là vô hạn, lấy đâu đủ mọi đáp ứng mà hưởng theo nhu cầu. Đây chỉ là luận điệu giả dối, giả tạo, phỉnh gạt những người yếu kém nhận thức và sơ đẳng về suy luận, lý luận. Học thuyết Mác bời vậy thực tế chì mang lại mọi sự không tưởng, hoang tưởng vô ích và sự ngu dân thậm tệ, xấu xa nhất mà không gì khác.

Và cũng do sự cuồng tín hoang tưởng tuyệt đối đó Mác còn đưa ra nguyên tắc chính trị ngu tối và xuẩn động nhất là độc tài hay chuyên chính vô sản, trong khi vô sản đầu phải là thành phần tuyệt đối tinh hoa hay đều hiểu biêt. Đây là tính nghịch lý của sự phát triển xã hôi, nó trở thành kiểu hoàn toàn mê tín và thần bí, vì chỉ tin vào giai cấp suông mà không hề phân tích các thuộc tính khách quan vốn tàng chứa trong đó. Hơn thế còn có biết bao thành phần cơ hội vẫn sẽ sẳn sàng nhân danh giai cấp vô sản thì làm sao tránh được mọi sự tệ lậu đặc thù về sau mà ban đầu khó dự liệu được hết. Thành ra bản thân Mác tự cho là khoa học để dụ số người lúc đầu còn sáng suốt, nhưng thực chất nó toàn phản khoa học, phi khoa học, trở thành một lý thuyết mê tín, thần bí, cuồng tín chỉ làm hổn loạn và phá rối xã hội khách quan, lành mạnh.

Bởi biện chứng chỉ là quy luật tưởng tượng, mơ hồi Mác lại nhận thức là khoa học theo kiểu ngốc nghếch, huyền hoặc, cộng thêm khái niệm giai cấp theo cách định kiến, cộng thêm khái niệm bóc lột thực tế không hoàn toàn chuẩn xác, cộng thêm khái niệm đại đồng cộng sản tuyệt đối hư tưởng kết hợp vào, Mác từng đưa ra học thuyết của mình hoàn toàn dựng chuyện, kiểu không giống ai, hoàn toàn phỉnh gạt được một số thành phần non yếu nhưng đầy tính chất tham lam, ích kỷ, hay đẩy cuồng vọng, tham vọng trong xã hội một thời, đưa lại biết bao phung phí, uổng phí cho xã hội, chận đứng mọi chiều hướng phát triển khách quan tự nhiên của cá nhân con người cũng xã hội, thật là một trách nhiệm sâu xa, một lỗi lầm, hay kể cả một tội ác trong suốt thời gian cả thế kỷ mà Mác đã phạm phải.

Chính nguyên tắc độc tài vô sản đã chận đứng mọi phản biện, chỉ còn sự cuồng tín giai cấp một cách lợi dụng, lạm dụng, ích kỷ quyền lợi riêng tư, cùng nhân danh đủ mọi thứ giả tạo để nắm đầu xã hội, mà thực chất không có kết quả gì, không đưa tới đâu trong suốt một chặng đường dài của thế giới và của nhiều nước, thật là uổng phí, tai hại mà chẳng ai ngờ đến. Chính sự bế tắt nhận thức, bế tắt ý thức mà không ai có thể đấu tranh được, chỉ còn sự áp đặt một chiều do bởi bạo luật toàn diện, kiểu toàn trị mê muội mà kể cả lịch sử xã hội từ đầu đến giờ loài người chưa hề từng trải qua hay đành phải chịu.

Chính bởi nguyên lý vô lối và tai hại đó đã gây ra cho cả loài người hay cụ thể là một số nước mọi hệ lụy, tai hại đủ thứ. Nó làm bế tắt mọi nhận thức hiệu quả tự nhiên khách quan, chỉ còn là thứ nhận thức thuần một chiều ép buộc, đi ngược lại mọi khách quan thiết yếu khoa học, chỉ tạo nên một xã hội ngu dân mà chẳng đi tới đầu la điều mà ngày nay mọi người đều dễ dàng nhìn thấy. Thành học thuyết Mác thực chất là học thuyết hoàn toàn vô bổ và hoàn toàn tai hại mà không ai dám hoàn toàn chứng minh hay nói ngược bởi vì cái ngàm, cái chốt phi lý mà ngay từ đầu Mác đã cài đặt qua câu thiệu tệ hại là độc tài vô sản.

Chính điều phi lý này mà suốt thời kỳ dài khắp Âu châu không ai quan tâm để ý đến thuyết Mác, chính Mác cũng đã tự thú nhận điều này khi bảo rằng các bản thảo của mình để trong ngăn kéo chỉ bị mối mọt gặm nhấm mà chẳng ích lợi gì cả. Chỉ đến khi Lênin lần đầu áp dụng nó để lật đổ Nga hoàng, biến thành cuộc cách mạng vô sản kiểu Bôn sê vít thì kể từ lúc đó mới tràn lan ra khắp thế giới trong một hoàn cảnh nhất định. Bởi thuyết Mác rao giảng đấu tranh giai cấp, tướt đoạt giai cấp giảu có nên dễ thu hút mọi tầng lớp nghèo cực, những thành phần thời cơ lợi dụng, những thành phần cực đoan khuynh tả mà toàn thiếu hiểu biết kể cả hiểu biết về chính học thuyết Mác.

Họ chỉ hiểu qua các danh từ hào nhoáng bên ngoài như không còn giai cấp, không còn bóc lột, chỉ còn xã hội đại đồng, tình thương đồng loại lai láng, xã hội hoàn toàn thanh bình hạnh phúc, làm theo lao động hưởng theo nhu cầu, thật là thần tiên lý tưởng chưa hề có trong cuộc đời, trong lịch sử loài người. Nhưng thực chất đó chỉ toàn thần tiên hư ảo và hoàn toàn không tưởng còn thực tế vô cùng khắc nghiệt và bất công thì hoàn toàn ngược lại. Bởi nước Nga khi ấy là đất nước phần lớn lạc hậu, hầu hết chỉ là nông dân, nên qua câu thiệu chuyên chính vô sản, mọi thành phần tiêu cực dễ bày đặt ra, hay bắt buộc phải bày đặt ra, mọi quan điểm sai trái, phi khoa học và phản khoa học, để truyền bá ra khắp thế giới nhờ dùng biện pháp tuyên truyền huyền hoặc, lẫn bạo lực phi nhân, mà cả một thời gian dài suốt thế kỷ, buộc con người nhiều nơi phải cúi đầu chấp nhận.

Mọi bi kịch của một xã hội toàn bộ vong thân, cá nhân con người vong thân, nghèo nàn toàn diện, và bị tướt đoạt về mọi mặt, mà trong quá khứ suốt gần cả trăm năm, đều bởi chính Mác đã từng tạo ra cho cả một bộ phận nhân loại toàn cầu chẳng khác nào là thế. Đây là bi kịch của nhân loại, lẫn bi kịch theo quy luật số đông, luôn thụ động hoặc mù quáng, mà chính Mác là người đầu tiên, cũng là người cuối cùng, đã khởi xướng qua một thời gian ngắn được thành công, quả thật đã không ngoài như vậy. Cuối cùng Liên Xô cũ đã sụp đổ, Đông Âu cũ cũng tan rã, làm phung phí biết bao tài nguyên vật lực trong một thời gian dài của thế giới và cũng của chính các nước đó, đều không ngoài mọi lỗi lầm ảo tưởng, mọi khoác lác gàn bướng, hay kiểu tư duy kiểu trẻ thơ non kém, bởi chinh bản thân của Các Mác.

 

TIẾNG NGÀN

(13/4/24)

 

** 

No comments :

Post a Comment