Sunday, April 14, 2024

CON NGƯỜI HƠN THUA NHAU Ở ĐỜI TỰU TRUNG CHỈ Ở SỰ NHẬN THỨC

 

CON NGƯỜI HƠN THUA NHAU Ở ĐỜI

TỰU TRUNG CHỈ Ở SỰ NHẬN THỨC

 

Con người và mọi loài vật chung quanh mình thực chất đều là dạng sinh vật. Tức cùng có chung nguyên lý sinh tồn, nhưng khác nhau chỉ ở sự nhận thức. Loài thực vật nhận thức kém nhất hay hầu không có nhận thức. Trong loài động vật chỉ có loài người với khả năng nhận thức cao nhất đứng đầu thế giới sinh học.

Đây là kết quả của tiến hóa lịch sử sau nhiều vạn năm, loài vật không thể bắt kịp được và lịch sử nói chung cũng không thể lùi lại được. Khả năng nhận thức của con người nói chung là do kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm tập thể, kinh nghiệm chủng loài, nhưng chủ yếu dễ thấy nhất là do sự học tập, học hỏi, giáo dục, và cả sự phát triển tự thân dựa vào trí thông minh cùng sự hiểu biết mà ở mỗi cá nhân thủ đắc được. Tất nhiên sự nhận thức và sự hiểu biết luôn luôn chỉ là hai mặt của một vấn đề, khả năng này bổ sung và làm điều kiện cho khả năng kia và mãi luôn như thế.

Cũng vậy sự hiểu biết của cá nhân và sự hiểu biết của xã hội đều cùng là một nhưng phân biệt nhau qua phát triển lịch sử cùng phân bổ nhau tùy theo phạm vi và lãnh vực. Có khi xã hôi mang tính ưu tiên nhưng cũng có khi cá nhân mang tính ưu tiên tùy theo năng lực phát kiến hay thu hoạch được. Ví như trình độ dân trí, vừa là mặt bằng chung tối thiểu của toàn xã hội vào một thời điểm nào đó vừa là năng lực của mỗi cá nhân tại tại chính thời điểm hay giai đoạn đó.

Nói khác, mọi sự nhận thức đều từ năng lực hay khả năng nhận thức mà có. Năng lực nhận thức tạo ra kết quả nhận thức, và mọi sự nhận thức kể cả trình độ nhận thức đều do năng lực nhận thức đem lại. Sự nhận thức chính là điều kiện để giải quyết các vấn đề về mọi mặt. Bởi vậy có sự nhận thức chung và nhận thức chuyên môn trong đời sống cá nhân cũng như xã hội. Mọi sự nhận thức đã có trong quá khứ trở nên kinh nghiệm sống riêng nơi mỗi cá nhân, cùng tạo ra mọi kết quả sách vở hay nhận thức chung trong xã hội, cũng để từ đó nó được nâng cấp lên, bổ sung trong tương lai nhờ sự phát triển không ngừng của lịch sử về tất cả mọi mặt.

 Nhưng mỗi con người khác nhau hay hơn thua nhau ở đời thường còn rất nhiều mặt khác nữa. Đó là mặt năng lực bên trong lẫn mặt cấu kiện, thủ đắc bề ngoài tùy theo điều kiện hoàn cảnh mỗi lúc mỗi nơi chẳng ai giống ai được cả. Như nhan sắc, thể lực, của cài tài sản, khả năng triển vọng nói chung mà không phải mọi cá nhân đều giống hệt như nhau một cách luôn luôn bất biến được. Tất cả mọi điều đó tạo thành các đẳng cấp khác nhau trong xã hội, kể cả các giai tầng giai cấp tùy theo mỗi lúc, dù không phải là tuyệt đối bất biến hay bất di bất dịch, mà mọi người đều đã xưa nay rõ cả.

Tuy nhiên mọi sự khác nhau bên ngoài không phải tuyệt đối quyết định cho sự khác nhau bên trong hay cho nội tâm mỗi cá nhân. Của cải tài sản, danh vọng, địa vị xã hội đều không quyết định cho phẩm hạnh hay sự hiểu biết mà mỗi cá nhân cần luôn phải có. Cái bên ngoài là cái chỉ phục vụ cho sự tồn tại thể xác, kể cả cảm xúc hay đặc lợi xác thân nào đó, chỉ mang tính tạm thời và chóng qua. Trong khi phẩm hạnh và sự hiểu biết mới đích thực là tài sản bên trong sâu sắc và chuẩn mực nhất. Nếu phẩm hạnh làm nên giá trị đạo đức lâu bền thì chính sự hiểu biết cùng khả năng nhận thức của mọi người lại nâng cấp không ngừng chính giá trị tinh thần cũng như không ngừng củng cố thêm cho các mặt đức hạnh của người đó.

Ngoài sự nhận thức thường nghiệm của mỗi người ra, tức sự nhận thức đã thành của chung nơi toàn xã hội, được phân ra sự nhận thức thông thường, còn có sự nhận thức chuyên ngành, nghề nghiệp, còn có sự nhận thức khoa học luôn luôn phát triển, đổi mới, đây mới là sự nhận thức cao nhất và đặc biệt hữu ích chung nhất. Sự nhận thức này luôn đòi hỏi sự tìm tòi, nghiên cứu, tập hợp, tổng hợp và phân tích để tìm ra các ý nghĩa mới, cấu trúc mới, quy tắc mới, bản chất mới, hữu ích mới v.v… mà xã hội luôn luôn cần đến. Sự nhận thức của nhân loại nó luôn luôn như một cái cây, mọc ra, lớn lên và trưởng thành, phân ra cành nhánh nơi cá nhân mỗi người, qua mỗi thế hệ, luôn phát triển, biến hóa, kể cả thui chột đi, đều là những yếu tố chủ quan hay khách quan không thể nào phủ nhận hay tuyệt đối chủ động được.

 Chính sự nhận thức tạo ra một kỹ năng nhất định nào đó về chuyên môn hay kinh nghiệm chính là sự sai biệt của mỗi người trong sự hoạt động bản thân hay pham vi xã hội là điều vẫn luôn luôn và tất yếu có. Sự nhận thức thường khi cũng tạo nên một thói quen hoạt động nơi mỗi cá nhân. Có người thì siêng năng tìm tòi thích hiểu biết, có người thì chỉ lười biếng, thụ động, luôn luôn chỉ bằng lòng ở mọi sự hiểu biết cũ, trở nên chai ỳ, cùn nhụt, bảo thủ, ngưng trệ và không thể phát triển gì hết qua hoàn cảnh cụ thể hay qua sự phát triển của lịch sử nói chung,

Thật ra óc não con người cũng chẳng khác chi một cổ máy tính. Tuy đã có chương trình cài đặt sẳn là óc thông minh hay trí tuệ, cổ máy đó hoạt động phải luôn cần nạp dữ liệu chính xác để vận hành tạo nên những đầu ra hiệu quả nhất định. Nếu nó chỉ được tiếp nhận, được nhập vào chỉ những tập tin giả, sáo rỗng, cũ mềm hay phi giá trị, tức không có ý nghĩa nào mới hay chuẩn xác, bộ não đó cũng chỉ hoạt động vô ích hay cũng chỉ là một loại máy tính tầm thường, chứa đầy những tập tin giả, những tin tặc, có khi thành phản tác dụng và cả phá hại xã hội. Trong khi đó, ngoài khả năng như một cổ máy tính tiềm ẩn, nội tâm hay hoạt động nội dung tinh thần con người còn có thêm cả tình cảm và cảm xúc hay xúc động mang loại dạng người mà loài vật khó có được. Tuy nhiên nếu năng lực cổ máy tính chung mà sai hỏng, các tình cảm hay cảm xúc kia cũng bị hỏng theo hay kể cả bị vứt đi vì chúng cũng không còn hoạt động bình thường hay hữu ích nữa.

Có nghĩa sự đa dạng xã hội hay nhân văn là điều luôn có thật, không thể xem thường hay phủ nhận. Điều đó thể hiện ra nơi mỗi cá nhân và cả từng khu vực xã hội noi chung. Khi sự nhận thức cá nhân hay xã hội bị nhiễu loạn hay hổn loạn, cũng có nghĩa bản thân cá nhân hay bộ phần xã hội bị hổn loạn, tha hóa, vong thân, đánh mất bản thân, không còn hoạt động lành mạnh hay bình thường nữa, tất yếu đểu gây ra sự bệnh hoạn trong hoạt động tinh thần cá nhân hay xã hội nói chung. Sự hổn loạn hay hổn độn đó lại mờ mịt tự cho là đúng, là chính đáng, tạo thành sự tin tưởng mù quáng, sai trái, và phủ nhận hay chống lại mọi sự hoạt động lành mạnh, chính đáng khác, đó chính là sự ngụy tín, lẫn lộn giữa cái đúng và cái sai, cái hay và cái dở, lấy mặt trái thay cho mặt thực, lấy điều tiêu cực thay cho điều tiêu cực, trở thành trạng thái mù quáng, cuồng tín nào đó mà cứ tưởng là tốt đẹp, ưu việt, chính đáng, đó không ngoài là sự thiệt hại cho chính bản thân cũng như xã hội.

Cho nên một nền giáo dục hay kể cả một nền truyền thông lành mạnh là phải cung cấp cho cá nhân hay xã hội những thông tin chính đáng, khách quan, lành mạnh cũng như trang bị cho họ những nguyên lý chính đáng, khoa học, chuẩn mực, khách quan nhất. Đó là ý nghĩa đạo đức và ý nghĩa xã hội cao cả và thiết yếu nhất. Nếu không làm được như thế mà ngược lại chỉ nhằm vào sự tuyên truyền giả dối, cục bộ, lệnh lạc vì những nguyên do hay mục đích sai trái, giả tạo nào đó, thực chất chỉ luôn làm hại con người và xã hội không hơn không kém. Nhận thức đúng đắn và ý nghĩa cùng giá trị đạo đức chuẩn mực luôn luôn và đều chỉ như thế. Không thể có cái này mà không có cái kia cũng như ngược lại. Nguyên lý đúng luôn luôn như những đường rây vững chãi, hiệu nghiệm, hữu dụng, còn nhận thức luôn luôn là những toa tàu chỡ đầy những vật liệu quý nhằm phục vụ hữu ích cho chính cá nhân và xã hội.

Học thuyết Mác thực chất chỉ là một học thuyết ảo tưởng. Nó chứa đựng những nguyên lý sai trái, giả tạo, cả những thông tin ngụy tạo chứa trong đó như đấu tranh giai cấp cũng như độc tài hay chuyên chế vô sản. Cả mục tiêu đại đồng, cộng sản, xã hội không có giai cấp, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, giải phóng giai cấp, giải phóng loài người thực tình đều chỉ huyền ảo, hư tưởng, tượng tượng, chẳng bao giờ có thật được vì không dựa trên cơ sở khách quan hay chắc chắn nào cả. Đó chỉ là sự điên loạn hay sự mê hoặc do Mác tưởng tượng ra mà không hề có cơ sở thực tế hay khoa học đích thực cùng khách quan nào cả.

Học thuyết Mác còn là học thuyết đầy chất chủ quan, tuyệt đối quá khích, tuyệt đối cực tả, vì cho rằng xã hội không giai cấp trong tương lai là xã hội vô sản tuyệt đối, không còn tư hữu, cũng không cần pháp luật, không cần nhà nước. Bởi Mác cho nhà nước và pháp luật trong lịch sử chỉ luôn là công cụ của giai cấp, của bóc lột giai cấp, nên xã hội lý tưởng trong tương lai hay xã hội cộng sản thực chất cũng không cần nhà nước, không cần pháp luật, bởi thị trường đã bị loại bỏ, tiền tệ lưu thông cũng bị loại bỏ, chỉ còn người công nhân trực tiếp đặt kể hoạch chương trình sản xuất với nhau và chia sản phẩm trực tiếp cùng nhau. Giai đoạn đầu thấp gọi là giai đoạn xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực, chia theo công sức. Giai đoạn sau cao gọi là xã hội cộng sản, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.

Mục đích đó Mác tin là chân lý khách quan tất yếu đúng, nhất định thắng, vì Mác mê tín kể cả cuồng tín vào quy luật biện chứng của Hegel, tức hai đầu đối ngược phải tiêu diệt một phía, vô sản và tư bản đối nghịch tất vô sản tiến lên và tư bản phải tự chôn. Đó là kết quả hay tất yếu mà Mác tin chắc là nguyên lý vô địch nhất định thắng. Thật sự đây chỉ là sự tin tưởng mơ hồ, mù quáng một chiều, theo kiểu tư biện hoang tưởng, vì như thành nam châm có hai đầu đối lập, có bao giờ nói triệt tiêu hay hủy diệt cả đâu. Trời đất sinh giống phái nam nữ đối lập nhau cũng đều vậy cả. Mác biết một mà không biết mười là thế. Sự nhận thức không có cơ sở khách quan tự nhiên là thế. Mác cũng quên thực chất con người luôn luôn tiềm ẩn ích kỷ, làm sao mà có xã hội tuyệt đối lý tưởng được nếu chẳng phải đó chỉ là hư tưởng hay không tưởng như kiểu cha chung không ai khóc.  

Vả tư bản chủ nghĩa chỉ là sự phát triển khách quan tự nhiên trong lịch sử nhân loại. Đó là sự phát triển theo đường thẳng tuyến tính, không thể gián đoạn và cũng không thể nhảy vọt kiểu phi lý. Bởi khi nền công nghệ phát triển cộng vào nền tư hữu lâu đời đã có, tất chuyển thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thế thôi, không ai chủ quan đặt ra nó, không ai chủ yếu sáng tạo lập thành nó. Tiền tệ, thị trường và tư hữu, luôn là định chế hay nguyên lý khách quan tiện ích từ ngàn năm đã có trong xã hội. Đó là sự khám phá thiết thực nhất mà con người từng tạo ra, hoàn toàn không có gì giả tạo hay sai trái cả. Mác tiêu hủy toàn bộ bề dày đã có nhiều ngàn năm trong lịch sử, để thay vào cái hoàn toàn giả tạo, tự chế phi lý là xã hội vô sản, không dùng thị trường, không dùng tiền tệ, không cần pháp luật, không cần nhà nước, vậy có khác chi là tư tưởng bệnh hoạn, không tưởng, đi ngược lại lịch sử phát triển và chỉ làm hổn độn, bấn loạn xã hội một cách giả tạo, vô tích sự và hoàn toàn tai hại.

Nhưng quan trọng nhất, từ niềm tin không tưởng, cuồng tín đó, Mác cho nhất thiết phải thành công nên cũng chủ trương việc độc tài vô sản, càng là điều bạo ngược và phi lý hơn nữa. Bởi điều này phản lại nguyên lý khách quan tự nhiên là sự bình đẳng giữa con người với nhau. Thì điều này khác gì là hoàn toàn nghịch lý và phản xã hội, bởi giai cấp vô sản đâu phải giai cấp hoàn toàn chọn lọc và tuyệt đối tinh hoa. Vả lại mọi thành phần cơ hội, thậm chí lưu manh vẫn sẳn sàng có mặt trong đó, cũng sẽ nhân danh vô sản, thì xã hội làm sao tránh được mọi sự bế tắt, hổn loạn, hổn độn, làm thế nào đi lên và phát triển được. Mác cũng đã từng cho đạo đức truyền thống đến nay chỉ là đạo đức kiểu tư sản, nên cần phải hủy bỏ thể thay vào kiểu đạo đức mới là đạo đức vô sản. Và câu thiệu cứu cánh biện minh cho phương tiện thực chất ngay từ đầu tiên cũng vì chính đây mà xuất hiện.

Bởi vậy chính nước Nga là nước đầu tiên đã tạo nên nhiều nghịch lý tai quái nhất và tuyền ra khắp toàn cầu. Nên nói khác, đó chẳng khác gì là tội lỗi hay kể cả tội ác của nhân dân Nga, hay đúng hơn những người lãnh đạo nhân dân Nga, trong suốt 70 năm hay cả dọc dài thế kỷ. Đó là chế độ độc tài đảng trị hay kiểu toàn trị. Bởi thật ra chính đảng hay đảng phái chính trị là gì. Nó không có gì kiểu thần bí đại diện giai cấp như Mác tự thêu dệt và tuyệt đối tin tưởng cả. Đó cũng chỉ là một tập hợp người có thể gồm đủ thành phần, nhưng chấp nhận một quyền lợi chung, một lãnh đạo chung, một kỹ luật chung, một mục đích và nguyên lý chung. Nhưng vậy nó rất dễ dàng biến thành công cụ của một hay vài kẻ cầm đầu, lãnh đạo duy nhất, chẳng còn gì là tự do hay lý tưởng cả. Có nghĩa cả nguyên lý tam quyền phân lập chính đáng, thiết thực, khoa học, hiệu dụng mà nhân loại từng khám phá ra từ xưa cũng bị chính Mác hoàn toàn phủ nhận và loại bỏ đi chỉ do tâm thức mê tín hay ý thức kiểu hoàn toàn cuồng tín.

Nên nói tóm, sự nhận thức ở cả nhân con người cũng như xã hội loài người là hoàn toàn quan trọng và thiết yếu trong chính lịch sử nhân loại là vậy. Nhận thức không luôn đứng yên mà tiến tới nhưng không thể thụt lùi. Bởi mỗi thế hệ trên toàn cầu luôn luôn tiến tới và có các phát hiện mới. Nguyên tắc của nhận thức cũng chính là như vậy. Sự nhận thức luôn có hai phương diện là phương pháp luận hay nguyên lý được đề ra và chính các nội dung hiểu biết về nhận thức hay tri thức được cung cấp hay đi kèm theo đó. Cả hai luôn phải là những thông tin tích cực, chuẩn mục, không thể xuyên tạc kiểu giả tạo làm mê tín, cuồng tín con người theo cách ngu dân mà học thuyết Mác vẫn thường phạm phải. Bởi do sự mê tín hay cuồng tín dẫn tới sự ngu đân, tự cho là chính đáng, tạo nên sự vong thân cá nhân và xã hội, làm sự đánh mất bản thân, do sự tuyên truyền lừa dối, áp đặt sai trái, nhờ đi kèm theo mọi dạng tổ chức, cùng bạo lực, cưỡng chế cách độc tài độc đoán, làm cho con ngươi co cụm, thụ động, tiêu cực, vẫn nghĩ là  sáng suốt, cần thiết, chính đáng ấy, vẫn từng luôn là những hệ lụy trên toàn cầu của bản thân ngay từ đầu của chính học thuyết Mác.

 

ĐẠI NGÀN

(14/4/24)

 

**

No comments :

Post a Comment