PHÊ
PHÁN CHẾ ĐỘ TƯ HỮU, TƯ BẢN TỰ DO VÀ
CHẾ ĐỘ VÔ SẢN ĐỘC
TÀI ĐẢNG TRỊ CỦA CÁC MÁC
Trong xã hội loài
người hiện nay, tức trên toàn thế giới, hiện có hai chế độ xã hội tiêu biểu, là
thể chế tư bản tự do, và thể chế độc tài đảng trị. Kết quả này, do sự phát triển
của lịch sử từ sau chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ thực dân, chế độ cộng sản
của cuộc cách mạng tháng mười Nga 1917, và lẫn cả đến hai lần cuộc Thế chiến.
Chế độ độc tài hiện
tại có thể do một nhóm cầm quyền, một cá nhân cầm quyền, trong sự hậu thuẩn của
một đảng chính trị nào đó, hoặc thế tục hay tôn giáo, có thể là vô thần hay hữu
thần. Tuy vậy kinh tế tự do tùy theo những mức độ nào đó ngày nay là phổ biến,
không còn chủ trương vô sản như sau cuộc cách mạng tháng mười của Nga nữa.
Điều đó cho thấy học
thuyết Các Mác đã hoàn toàn phá sản, hay phải chịu một bước lùi toàn diện,
không còn ý nghĩa nguyên thủy tuyệt đối của nó nữa, như kiểu chính quyền chuyên
chính hay độc tài vô sản, kinh tế tập thể toàn diện, đánh đổ tư hữu, tiến tới
thế giới không có giai cấp, hủy bỏ toàn diện thị trường và tiền tệ, nhắm đến
làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Kể cả cuối cùng cũng không còn nhà nước,
không còn pháp luật, vì tất cả các thiết chế đều không còn cần thiết và bị đào
thải.
Tất cả chỉ còn duy
một giai cấp công nhân công nghiệp, và cuối cùng cũng không còn giai cấp nào nữa,
mà mọi người cùng lao động và tự phân chia sản phẩm với nhau, là chế độ xã hội
cộng sản tuyệt đối theo Mác quan niệm. Đây thật là một ý niệm hoàn toàn không
tưởng, đầy mê tín phiêu lưu mà Mác từng chủ trương mê muội nhưng tự xưng là
khoa học xác thực khiến một lớp người ban đầu kém nhận thức, đầy cuồng tín, quyết
thực hành cho bằng được.
Trong khi đó chế độ
xã hội tư bản tự do chỉ là sự phát triển tự nhiên, khách quan của loài người
không hơn không kém. Con người lúc đầu chỉ mới biết hái lượm là xã hội cộng sản
nguyên thủy, hoàn toàn chưa có của cải riêng tư, chưa có tư hữu. Rồi dần dần
các công cụ được phát sinh, qua thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, tư hữu cũng dần dần
được phát sinh đa dạng và củng cố thêm. Tất nhiên vẫn phải có một nền pháp luật
làm nền để chi phối và tránh mọi sự hổn tạp hay quá đáng trong đó.
Mặt khác công cụ
tiền tề và quy chế thị trường cũng ra đời tạo mọi sự tiện dụng, tiện nghi, tiện
ích không thể thiếu để đời sống xã hội phát triển đi lên, mọi người được hưởng
thụ theo hoàn cảnh riêng cùng đóng góp theo điều kiện riêng vào cho lợi ích xã
hội nói chung một cách tự động theo hệ hoạt động nói chung mang tính cách phổ
biến, hiệu quả và hữu ích nhất.
Khi nền khoa học dần
dần phát triển cũng làm cho nền kỹ thuật lần lượt ra đời và tăng tiến lên, ban
đầu là kỹ thuật đơn sơ, sau lên ký thuật cơ giới máy móc, cuối cùng là kỹ thuật
phức hợp, điện tử, tự động ngày nay trên thế giới là hoàn toàn chính đáng,
khách quan, thiết yếu, không có gì là tệ hại hay lạc hướng cả. Tức kỹ thuật làm
cho tư bản ra đời như một định chế thiết yếu, ngày càng cải thiện và tiến lên
mãi, càng giúp ích cho nền kinh tế phát triển và tạo đà cho tiến bộ khoa học kỹ
thuật thêm nói chung, và vòng quay khách quan đi lên chỉ đều là vậy.
Có nghĩa tư hữu
chính là yếu tố khách quan của mọi sinh vật tồn tại tùy theo mức độ khác nhau
mà cao nhất chính là loài người bởi loài người có lý trí, có tình cảm vượt xa
trên loài vật. Tư hữu bảo đảm sự tiện ích, sự an toàn, sự tự do cho mỗi cá nhân
lẫn cho các thế hệ tương lai mà chính cá nhân đó có yêu cầu cưu mang và phát
triển. Tư hữu cũng dễ dàng giúp cho sáng kiến cá nhân, bởi không ai được quyền
can dự vào một cách không chính đáng, tạo mặt bằng và mục tiêu phát triển nói
chung là điều không bao giờ chối cãi được.
Tư hữu bởi vậy
cũng gắn liền với cơ chế thị trường, sự cạnh tranh lành mạnh và thiết yếu, gắn
liền với hệ thống tiền tệ hoàn cảnh và càng ngày càng phát triển, canh tân, làm
mới lên mãi mãi. Tư hữu, tiền tệ, thị trường, nền tự do dân chủ, thực chất là một
hoạt động hài hòa, các yếu tố đều liên đới, cùng phát triển theo sự đi lên của
lịch sử, luôn luôn như là thực tại khách quan, gắn kết vào nhau một cách chính
đáng, làm xã hội phát triển sinh động, tự nhiên, hiệu quả mà không hề có chút
gì là giả tạo cả.
Thành ra các yếu tố
đó nổ bùng ra từ đầu thế kỷ 18 ở châu Âu là nhờ sự xuất hiện của máy hơi nước,
tạo thành động lực cho ngành dệt, là yếu tố thiết yếu của toàn thế giới, thành
khiến nó được phát triển như vũ bão. Vương quốc Anh là nước đầu tiên đi theo hướng
đó rồi cuối cùng nhiều nước Âu châu cũng theo đó. Điều đó ban đầu cũng đặt ra
các ngu cầu về nguyên vật liệu, sự cạnh tranh trên thế giới, nên làm phát sinh
chế dộ thực dân, thuộc địa là điều không thể tránh khỏi bởi do sự không đồng bộ
về khoa học kỹ thuật lẫn sự khác biệt về tồn tại tài nguyên giữa nhiều nơi lúc
đó trên thế giới.
Sự sai trái của chủ
nghĩa thực dân là điều dễ nhìn thấy, đó là tính cách tiêu cực nặng nề ban đầu của
nó, nhưng nói thật ra mặt tích cực không thể chối bỏ là nó giải quyết đầu ra
cho nhu cầu sản suất mọi mặt, đem đến sự phát triển đáp ứng tiện nghi cho bộ phận
người nhất định của toàn nhân loại mọi nơi lúc bấy giờ, làm công kỹ nghệ phát
triển ở nhiều nước, và kể cả nền văn minh vật chất nói chung của nhân loại cũng
được đẩy tới.
Thế nhưng lúc đó
xuất hiện Các Mác là người Đức sống ở Anh khi ấy chỉ nhìn tuyệt đối ở mặt tiêu
cực của chế độ tư bản mà không nhận ra các mặt tích cực tiềm ẩn nơi bản thân
chính nó. Mác chỉ nhìn thấy xã hội thị trường là xã hội bóc lột, xã hội giai cấp,
và tách biệt giàu nghèo, nên Mác chủ trương loại bỏ tư hữu, loại bỏ thị trường,
không dùng tư bản, tiền tệ nữa, mà đấu tranh giai cấp, tận diệt giai cấp, để chỉ
còn giai cấp công nhân tự làm chia nhau theo sản phẩm, coi như giải phóng giai
cấp, giải phóng xã hội để loài người tiến lên trong viên miễn là thế giới đại đồng
hay cộng sản mà có số người vẫn hằng mong ước.
Thật ra Mác chỉ
nhìn riêng mỗi một việc mà không thấy nhiều việc khác, chỉ nhìn duy một chiều
mà không thấy những chiều khác. Mác chỉ nhìn giới công nhân vô sản ở xã hội
công nghiệp lúc đầu là toàn nghèo khó mà không biết rằng nhu cầu xã hội luôn dần
dần cải thiện khi nền kinh tế phát triển đi lên, lần dần dần trí tuệ của những
người hiểu biết, những nhà trí thức chân chính thật sự vẫn quyết tâm phát triển
pháp luật, cải thiện mọi bất công đang tồn tại để phát triển nền tự do dân chủ
đi đúng hướng và càng ngày càng hiệu quả thật sự.
Đó chỉ là sự phát
triển làm sao cho đúng quy luật khách quan thiết yếu, tự nhiên, mà không phải
phát triển theo cách đều ảo tưởng, hoang tưởng mà Mác theo cảm tính chủ quan và
thị hiếu sai lầm của riêng cá nhân mình để nhằm bày đặt. Bởi vì quy luật thị
trường là quy luật luôn luôn khách quan, tự nhiên, cần thiết và thiết yếu, luôn
luôn có sự công bằng tự thích ứng, còn sự bóc lột nào đó nếu có chỉ đều là sự bất
công tạm thời và phải tự điều chỉnh, không bao giờ là quy luật chặt chẽ, bất biến
mà thực chất tư duy thiên kiến hay kể cả bệnh hoạn của Mác chỉ nhằm tưởng tượng,
thêu dệt, bất chấp mọi khách quan thực tế.
Vả chăng giai cấp
xã hội cũng không phải điều gì luôn luôn bất biến mà nó mãi thay đổi, biến chuyển
tùy theo hoàn cảnh điều kiện bên ngoài lẫn bên trong của mọi cá nhân liên quan ảnh
hưởng đến. Vả chăng giai cấp xã hội chỉ là cấu trúc bề ngoài của mỗi giai đoạn
mà yếu tố đẳng cấp phức tạp nơi tâm lý mỗi cá nhân luôn tác động đến. Hơn thế nứa,
mỗi thế hệ xã hội không phải luôn bất biến mà đều đổi thay theo không gian, thời
gian, ẫn theo ý nghĩa nội lực của từng người. Như tài năng, học vấn, ý chí cá
nhân, điều kiện cá nhân, cả sự may mắn tạo ra nhiều yếu tố đẳng cấp khác nhau,
mà kết quả sự khác nhau bề ngoài nơi nấc thang xã hội tạo thành giai cấp, đó chỉ
là sự phân loại, sự nhận thức bề ngoài, chỉ là phạm trù phân biệt các sự dị biệt
mà không gì khác, chỉ là yếu tố hiện tượng nhất thời mà không bao giờ là bản chất
bất biến nơi mỗi con người.
Thế nên khi Mác kết
hợp khái niệm bóc lột với khái niệm đấu tranh giai cấp chỉ thật sự là giả tạo
và khiên cưỡng. Bởi hai yếu tố này không thật sự là bản chất hay tính chất sâu
xa của xã hội, để làm nên nguyên lý đấu tranh giai cấp như là quy luật của xã hội,
thực chất chỉ mang tính hoang tưởng, bịa đặt, tưởng tượng, không có cơ sở thực
tế nào cả. Trong Tuyên Ngôn Cộng Sản, Mác tự tuyên bố xã hội loài người ngay từ
khởi đầu đến nay luôn luôn là xã hội đấu tranh giai cấp. Đó chẳng qua Mác dựa
vào biện chững luận của Hegel, tin tưởng kiểu cuồng tín hay mê tín là khi sự có
hai đầu mâu thuẩn, đối lập nhau tất yếu phải có một đầu bị phủ nhận hay bị tiêu
diệt. Sự đấu tranh bất khoan nhượng giữa vô sản và tư bản cuối cùng sẽ làm cho
tư bản tiệt tiêu hay tự chôn để chỉ cón giai cấp vô sản.
Thật ra khái niệm
biện chứng của Hegel chỉ là khái niệm kiểu tư biện, mơ hồ, không có gì chứng
minh mặt thực tế khoa học khách quan cả. Trên thế gian có bao mặt đối lập mà có
khi nào tiêu diệt nhau đâu. Như mặt trăng mặt trời, ngày và đêm, mặt phải và mặt
trái của một bức tranh, một huân chương, một đồng tiền, giữa giống cái và giống
đực, đàn ông và đàn bà, giữa hai cực một thành nam châm, chúng vẫn tồn tại cùng
nhau và có bao giờ tiêu diệt nhau đâu. Sự huyễn tưởng của Các Mác thật vô tiền
khoáng hậu, chỉ nhìn theo sự mê sảng mà không khách quan, tỉnh táo và sáng suốt
nào cả.
Khi Hegel nói sự
phủ định của phủ định và Mác cũng lặp lại như vậy cho là nguyên lý của sự phát
triển nói chung. Nói như vậy là sự vô ích và bằng thừa, kiểu hoàn toàn tư biện,
vì không mang đến một chân lý mới nào cả, kiểu chỉ nói để nói, nói lòng vòng,
kiểu nói toàn hình thức, rỗng tuếch. Thật ra quà trừng nở ra con gà hay tế bào
phân chia và phát triển, không phải sự phủ định chính nó hay sự phủ định liên tục
mà thực tế là sự vận động của hệ gien hay genom đã nằm sẳn trong bản thân của
nó. Xã hội phát triển không phải nhờ đấu tranh giai cấp mà thật ra nhờ yêu cầu
của trí tuệ đi lên làm ra các vât phẩm mới để đáp ứng các nhu cầu đời sống mới
và cứ tiếp diễn như thế. Xã hội phát triển qua tinh thần con người tác dộng lên
vật chất mà hoàn toàn không phải ngược lại kiểu như Mác ngụy biện.
Chính sự phát triển
cùa khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế tiến lên, đáp ứng các yêu cầu đời sống,
tinh thần cũng như vật chất, làm xã hội đi lên, mà chính có yếu tố tinh thần nằm
trong đó, không phải cơ chế vật chất nào tự động như Mác mường tượng kiểu hoàn
toàn huyền hoặc cả. Nên ngay từ tiền đề Mác cho tồn tại vật chất là duy nhất và
chi phối tất cả. Đó chỉ là kiểu nhìn hiện tượng để quy ra bản chất, từ đó phịa
ra duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chẳng qua là cách nói vu vơ, mê hoặc.
Khi Mác chủ trương tuyệt đối duy vật, điều có cũng có nghĩa học thuyết Mác là học
thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa. Vì tự bản thân vật chất không có thuộc tính nào
khác là bản chất chai ỳ, thế thì còn biện chứng nỏi gì, hay còn nói đến ý nghĩa
đạo đức là thế nào cũng như mục tiêu xây dựng xã hội tốt đẹp là như thế nào được
nữa. Thế nên hệ thống tư duy của Mác chỉ đầy tính nghịch lý và hoàn toàn không
tưởng chính là thế.
Thật ra nền kinh tế
tư bản là sự phát triển tự nhiên, khách quan từ xã hội tư sản đi lên, và tiến
vào thời kỹ nghệ ban đầu và công nghiệp hiện nay. Bản chất của nó luôn là xã hội
tự do và sau này gắn thêm yếu tố khoa học kỹ thuật. Đó là sự phát triển tuyến
tính hay theo đường thẳng khách quan tự nhiên của toàn lịch sử xã hội loài người
tiến lên cho tới nay. Giai đoạn đầu của chế độ tư bản tự do tất nhiên có dầy những
khiếm khuyết do còn non nớt, chưa trưởng thành, chưa hoàn thiện. Nhưng với thời
gian mọi trở ngại, bất công lúc đầu càng ngày càng khác phục do cơ chế nó phải
tự hoàn thiện, bổ sung, củng cố, tăng trường và thích ứng để tự đi lên.
Chẳng hạn sự bóc lột
giới lao động làm thuê hay công nhân ăn lương lúc ban đầu ngày càng được pháp
luật quan tâm và bảo vệ. Đó là yếu tố hay yêu cầu nhân bản tất yếu mà xã hội
loài người lúc nào cũng tự nhiên phải có. Trong khi đó, trước các thực tại cần
phải cải thiện và bổ sung thêm các biện pháp hữu hiệu và cần thiết, thay vì góp
phần mình vào bằng cách yêu cầu hay sáng kiến tích cực nào đó để hoàn thiện nó,
Mác lại nghĩ ra một ý thức hệ mới để thay thế hoàn toàn đối với nó. Mác vin vào
lý thuyết biện chứng mơ hồ của Hegel để cho rằng hai đầu đối lập, tức ở đây hai
giai cấp đối lập là vô sản và tư bản phải triệt tiêu nhau và vô sản phải thắng
và tư bản phải tự hủy diệt hay tự chôn.
Một tầm nhin cá
nhân lạ tự cho là bảo quát lịch sử, là chân lý tuyệt đối, chân lý duy nhất
đúng, chân lý vô địch theo luận điệu tuyên truyền về sau, và cả Lênin cũng coi
là đêm đầu của cách mạng vô sản là điều thật sự khó hiểu được. Bởi dựa vào
nguyên lý biện chứng của Hegel theo kiểu tin càn, khẳng định càn, thì lấy gì
làm cơ sở, nếu không phải chỉ vì cảm tính và thị hiếu có sẳn để áp dụng một
cách võ đoán một niềm tin vu vơ chẳng có chút gì là nền tảng khoa học thật sự vững
chắc khách quan thì có khác nào chỉ kiểu tinh thần ngụy tín và cuồng tín mà
ngay chính bản thân Mác cũng vấp phải.
Nên thật sự Mác chỉ
kết lại một số ý niệm đầy cảm tính, rồi dựng ra như các nguyên lý khách quan, gọi
là sự bóc lột, giai cấp, đấu tranh giai cấp, biện chứng, thiên đường cộng sản,
tuy toàn là những suy nghĩ, tư duy một chiều, để tạo nên một hệ thống ý thức hệ
giả tạo, đầy tính khiên cưỡng, nhằm áp dụng bạo lực, cưỡng chế nhằm thực hiện
nó, tin đó là chân lý cách mạng thì thật sự đầy tính huyền hoặc hay tính cảm
khoái. Trong khi cách mạng đúng nghĩa chỉ là sự khai mở nhằm vượt qua một nút
thắt cản ngại tạm thời nào đó để tiến lên, Mác lại nhằm xóa bài làm lại ngay từ
đầu, dốt rừng trồng lại ngay từ đầu thì thật sự hoàn toàn quá đáng và quá
khích. Chỉ cần một nhánh cây còn èo ọt, thay vì quan tâm săn sóc nó, lại đốn
cây trồng lại cây khác cho tốt đẹp hơn thật là phản khách quan và vô lý chỉ kiếu
tư tưởng phiêu lưu, vô lối.
Vả chăng nguyên lý
xã hội cũng như mục đích xã hội là từng cá nhân con người kết lại. Chính cá thể
là mỗi đơn vị thiết yếu tạo nên xã hội và làm ra lịch sử mà không gì khác. Đa
phần cá nhân lành mạnh là cơ sở để xã hội lành mạnh, và mục tiêu chung của xã hội
cũng không gì khác là phục vụ cho nguyên lý đó. Cá thể phát triển tự nhiên thì
tổng thể cũng phát triển tự nhiên. Mỗi tế bào trong thân thể, mỗi cá thể cây
trong rừng, từng cá nhân trong xã hội, đó chỉ là nguyên lý bình thường, khách
quan, tự nhiên, chẳng có gì là ghê gớm cả. Cho nên nguyên tắc tự do dân chủ và
bình đẳng luôn và phải đi đôi với nhau, mọi nguyên lý độc tài và bất công đều
không có cửa và không có cơ sở bởi vì nó phản lại mọi ý nghĩa khách quan và ý
nghĩa độc lập tự do của mỗi cá nhân.
Mác dựa vào nguyên
lý biện chứng mơ hồ huyễn hoặc để tự cho đấu tranh sẽ tất yếu tiêu diệt hai đầu
đối kháng, chỉ còn lại duy giai cấp vô sản và dẫn đến thiên đường cộng sản làm
theo năng suất hưởng theo nhu cầu, điều đó kiểu hoàn toàn thần bí, huyễn tường
mà không bao giờ có cơ sở khách quan nào cả. Từ đó Mác phịa ra phải có đảng
toàn trị của giai cấp làm tiên phong dẫn đường đưa lối, điều này cũng chỉ võ
đoán, khiên cưởng vì không thực tế. Đây cũng chỉ là quan điểm thần bí, mê tín,
một niềm tin chủ quan một chiều mà không có yếu tố khách quan nào xác định cả.
Chỉ bởi vì tâm lý con người là vô cùng phức tạp, thường có chứa những bản năng
tiềm ẩn, có cá nhân nào là hoàn toàn tuyệt đối thần thánh mà không có yếu tố
tham vọng, thời có hay cơ hội xen vào. Đây cũng là yếu tố mê tín và hoàn toàn
hoang tưởng nơi tư duy của Mác.
Chính bời vậy
nguyên lý độc tài vô sản như cái ngàm mà Mác đã gài độ cho toàn xã hội. Dưới
cái ngảm đó xã hội sẽ không bao giờ thay đổi được nữa cho dầu là chỉ đi vào các
triển vọng bế tắt nguy hại hoặc vô bổ. Cũng có người nói các khuynh hướng xã hội
Mác xít về sau này đã hoàn toàn từ bỏ quan niệm độc tài hay chuyên chinh vô sản.
Điều đó thực chất chỉ ngụy biện nay nằm mơ, bởi đây là xương sống quyết định
cho mục tiếu học thuyết Mác, có bao giờ mà được loại bỏ, vả lại khuynh hướng của
mọi người nắm quyền và lợi, có ai dại gì mà từ bỏ các lợi ích hay ưu tiên của
chính mình. Chính cái ngàm hay cái chốt tiêu cực này mà phải chịu trách nhiệm về
sự khống chế xã hội nhiều mặt đối với xã hội mà Mác đã tạo ra.
Trong khi đó xã hội
tư sản hay tư bản chỉ là xã hội khách quan, tự nhiên, tự nó tồn tại và phải
phát triển đi lên thiết yêu, vì một mặt phải dựa vào các yếu tố, yêu cầu khoa học
kỹ thuật, mặt khác phải dựa vào nguyên lý tự do dân chủ và mục đích nhân bản mà
loài người đương nhiên phải có. Vậy nhưng vì tâm lý độc tài độc đoán, vì sự cuồng
tín một chiều vốn có Mác cho rằng xã hội tư sản hay tư bản đều là xã hội có
giai cấp, và mọi cấu trúc, hoạt động cũng như giá trị thừa nhận của nó chỉ nhằm
phục vụ giai cấp, cả tôn giáo, tư duy triết học mà mọi lãnh vực tinh thần khác,
kể cả đạo đức đều cũng vậy. Mác cho chỉ có xã hội vô sản và đạo đức vô sản mới
là ý nghĩa và giá trị tuyệt đối. Đây là điều bất di bất dịch của học thuyết
Mác, và điều này cũng cho thấy Mác không bao giờ là nhà triết học, nhà khoa học
hay nhà tư tưởng nhân văn mà thực chất chỉ là nhà tư tưởng chính trị huyền hoặc,
không khách quan, thiếu xác đáng, mà kiểu chỉ nhằm tính kênh kiệu, để cốt phục
vụ thuần túy cho sự cuồng tín, cùng mưu đồ đầy tính chất cảm tính, cũng như đầy
chất thị hiếu của riêng mình.
THƯỢNG NGÀN
(12/4/24)
**
No comments :
Post a Comment