Tuesday, June 14, 2016

NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO - (11)


NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO- [11]



PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC TRONG TƯ TƯỞNG

CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI


Phật thật ra cũng chỉ là người bình thường đi tu thành chánh quả. Trước hết Phật trải qua tu khổ hạnh, rồi tu thiền định trong rừng già, cuối cùng ngồi dưới cội bồ đề trầm tư mà đắc đạo. Như vậy Phật trước hết là người tư duy và người chiêm nghiệm.

Phật chiêm nghiệm cuộc đời và thấy cuộc đời là toàn khổ. Toàn khổ vì trong đời con người mang cái dục, và do tính dục, tức lòng ham muốn mà con người thành khổ. Bởi vì ham muốn, tức là ước nguyện nào đó không được thỏa mãn tất nhiên thành khổ. Vì đời là vô thường, vạn sự luôn luôn biến chuyển, thế làm sao có cái gì trụ lại hoài mà ham muốn, đó là lý do tại sao cõi dục là cõi khổ, và đời muốn diệt khổ thì trước tiên phải cần diệt dục.

Diệt dục trước tiên phải hạn chế lòng ham muốn, biết lòng ham muốn của mình là vô giới hạn, có nghĩa cũng không bao giờ thỏa mãn trọn vẹn, không bao giờ đạt tới được, mà có khi chỉ phải thất vọng, vậy trước hết phải hạn chế lòng dục, lòng ham muốn, và cuối cùng nếu triệt tiêu được lòng dục thì hoàn toàn thanh thản nhẹ nhàng, đó cũng chính là con đường an bình, giải thoát. Diệt dục rõ ràng là phương pháp và mục tiêu căn bản của đạo Phật.

Nhưng diệt dục trước hết phải dựa trên nguyên lý nhận thức. Phải nhận thức ra sự vô lý của tính dục thì mới có thể hạn chế hay diệt nó được. Đó chính là phương pháp luận khoa học mà đức Phật trước tiên đã sử dụng đến. Cũng qua phương pháp luận nhận thức này, việc lý giải đời là biển khổ được xây dựng trên nền tảng nhận thức về sinh lão bịnh tử. Con người khổ là do được sinh ra, khổ vì cần phải lớn lên, khổ vì bịnh tật, cuối cùng khổ khi phải chết đi. Chính trong các trạng thái cơ bản đó vẫn có lòng ham muốn hay tính dục trong đó, như vậy tính dục là đầu mối của tất cả. Có nghĩa phương pháp diệt dục chính là phương pháp hạn chế điều khổ và cuối cùng là giải thoát khỏi điều khổ để đạt đến cõi an tịnh, niết bàn hay chân như.

Nhưng như vậy là nói người bình thường. Còn nói về cái ác, người ác thì sao ? Phật lý giải việc này là do nghiệp báo, nhân quả. Nghiệp báo, nhân quả là do tính vô minh mà ra. Vô minh là không nhận thức ra được cái đúng, bị điều ác, điều tối che khuất, vậy là cứ phải mãi quay trong vòng luân hồi, nhân quả. Chỉ khi thoát khỏi vô minh, nhận ra được điều thiện, cái ác, bỏ ác làm thiện, như vậy cũng phần nào thoát khỏi vòng vô minh, phần nào thoát khỏi vòng nhân quả, để kiếp sau được thong dong, cao quý, thư thái và hạnh phúc hơn, đó là ý nghĩa của việc buông đao thành Phật.

Qua đó cũng thấy được Phật không phải người vô thần hay duy vật, trái lại Phật là người duy tâm, vì tin vào cái tâm nơi con người và tin vào ý nghĩa của nghiệp báo, nhân quả. Có nghĩa thuyết lý của Phật không chỉ là vấn đề của ý thức luận, của nhận thức luận, mà còn có cả ý nghĩa của vấn đề siêu hình học. Nhưng đây là ý nghĩa siêu hình học triết học, không phải siêu hình học kiểu tôn giáo khải thị như Kitô giáo. Bởi một bên thì tin vào luật siêu hình, bên thì tin vào Đấng siêu hình, đó là điều khác nào giữa niềm tin siêu việt và niềm tin độc thần giáo mà đạo Phật và đạo Kitô tự phân biệt. Đó cũng là lý do tại sao giải thoát Phật giáo là giải thoát tự thân, còn giải thoát Thiên chúa giáo là sự cứu rỗi linh hồn của đấng Thượng đế.

Khi Phật nhận ra thế giới vô thường, đó là ngài nhìn trên bình diện vũ trụ luận, thế giới luận và vật chất luận. Thế giới là vô thường vì nó kết nên bởi muốn vàn sự vật, mà mọi sự vật đều vô thường, vậy thế giới cũng không thể hữu thường. Tính vô thường của thế giới còn do nơi tâm ý và tâm thức của ta, đó là bản chất của loài vượn, ngựa, luôn luôn chạy nhảy, thế thì có cái gì thường trụ hay ổn định được.
Ngày nay về mặt nguyên tử luận hay cơ học lượng tử người ta có thể dễ dàng hiểu ra được điều đó, và về mặt nhận thức luận, tức mặt hiện tượng luận ý thức thì cũng không xa mấy với lập luận hay hiểu biết từ ngàn xưa của Phật.

Chỉ có điều, qua những nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận nhận thức khoa học như thế thì Phật có công nhận linh hồn hay công nhận nhân vị của con người hay không là điều phải bàn đến. Rõ ràng quan điểm nhân vị của Phật là quan điểm sự tồn tại của bản thân chúng sinh. Nhưng sự tồn tại đó nói chung cũng chỉ là hiện tượng như mọi hiện tượng sự vật bề ngoài khác. Chỉ cái bên trong, cái chân như bất biến đó mới là nội hàm của linh hồn thật. Đạt tới chỗ chân như là hòa đồng được với chân lý, tức chân lý tột cùng của vũ trụ, là sự thường hằng bất biến, hay trạng thái niết bàn mà chính bản thân Phật đã đạt được. Khi tới đó rồi cũng không còn luân hồi sỉnh tử, chỉ có trạng thái viên mãn bất tận đời đời bất diêt, đó là ý nghĩa giải phóng tột cùng của Phật giáo. Đạt tới ý nghĩa đó cũng không còn nghiệp báo, vì không còn luân hồi, không còn sắc không gì nữa, không còn tính cách vô thường gì nữa.

Điều này cho thấy tư tưởng Phật giáo thật sự cũng nằm trông hay không thoát ra khỏi tư tưởng Ấn độ, nhưng nó vượt lên trên mọi dạng chủ thần giáo để đi đến tri thức luận triết học và khoa học thuần túy thế thôi. Nhưng tri thức luận Phật giáo thực ra không phải loại tri thức luận hay nhận thức luận bình thường. Nó vượt lên nhiều bậc, và đó là cái người ta gọi là duy thức luận Phật giáo. Nói chung lại, tư tưởng triết học Phật giáo là loại tư tưởng triết học siêu hình học thuần túy, không phải chỉ loại triết học thế tục duy lý như cách phương Tây. Ở trong Phật, trực giác siêu hình học là điều cốt lõi nhất. Đó là ý nghĩa sau bao nhiêu năm ngồi thiền của Phật. Đó cũng là tính chân chất của Phật giáo nguyên thủy tức Phật giáo Tiểu thừa hay Phật giáo Nam tông, nó có hơi khác với Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Bắc tông, là kết quả của đạo Phật truyền qua Trung Quốc, chịu ảnh hưởng nhiều về phần tư tưởng duy lý về sau của tinh thần Trung Hoa. Dĩ nhiên Tiểu thừa hay Đại thừa Phật giáo đều có cái hay riêng, tức một bên nặng về ý thức nguyên thủy, còn một bên nặng về ý thức suy lý, bác học.

Vậy thì con đường tu đạo của Phật giáo không phải chỉ là con đường tu đạo của luận lý đạo đức thông thường mà chính là con đường hóa giải trong tư duy siêu hình học, giải thoát không phải chỉ là giải phóng khỏi trần tục mà còn là sự hòa nhập vào cõi chân như vô hạn, đó là con đường tu đạo của Phật giáo từ thấp lên cao, từ từ bi hỉ xả của đời thường cho đến ý thức siêu hình giác ngộ của những bậc bồ tát thượng thừa như những bậc đạo hạnh kiểu thánh nhân mà ai cũng rõ. Đó là những bậc đại giác ngộ, những bậc chính giác, không phải chỉ là bậc giác ngộ bình thường như mọi người đều hiểu. Đại giác ngộ là giác ngộ, hòa nhập vào chân lý tối hậu của chỗ thường hằng viên mãn, còn giác ngộ chỉ mới là sự nhận thức ra cuộc đời vô thường, biến đổi, để tạo ra để tạo ra để tạo ra những bước đại ngộ thật sự về sau. Đấy tính cách của phương pháp luận tu đạo hay phương pháp luận nhận thức khoa học của đạo Phật hay của chính đức Thích Ca Mâu Ni quả là như thế.


ĐẠI NGÀN
(14/6/16)


**


SỰ KIỆN LỊCH SỬ : TRƯỜNG HỢP

NGUYỄN ÁNH VÀ NGUYỄN HUỆ


Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay đều luôn luôn là xã hội dân sự cộng với tầng lớp vua quan cai quản ở trên. Xã hội dân sự nói chung là xã hội kinh tế, đời sống, văn hóa, còn tầng lớp cai quản bên trên là tầng lớp cầm quyền hay chính quyền. Dĩ nhiên nguyện vọng an cư lạc nghiệp, đó là nguyện vọng muôn đời của toàn dân, tức của mọi người hay toàn xã hội trong một thời điểm, tức trong không gian và thời gian nào đó. Đời sống chính của người dân là đời sống lao động, làm ra của cải mọi mặt và có phận sự đóng thuế các loại để nuôi sống bộ máy chính quyền.

Có nghĩa lịch sử luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của từng thời điểm. Có những hoàn cảnh kinh tế xã hội bất ổn, bất công nhiều mặt, vậy là xảy ra tao loạn, hay hoàn cảnh địa lý nào đó cũng có thể xảy ra chiến tranh với bên ngoài, và nói chung chiến tranh loại gì cũng tác động tới hoàn cảnh kinh tế xã hội nói chung, tác động tới người cầm quyền nói chung, và chính sự tương tác qua lại của hai phía đó, khi đẩy tới cực kỳ sẽ tạo nên những biến cố lịch sử quan trọng để chuyển sang một thời đại mới và cứ như vậy. Có nghĩa bất kỳ triều đại nào dài hay ngắn cũng đều quyết định do hoàn cảnh lịch sử của nó, tức do kinh tế xã hội cũng như yếu tố cầm quyền chính cai quản nó. Ở các giai đoạn có người cầm quyền tài năng, sáng suốt hay được việc, yếu tố tồn tại và phát triển của nó được lâu dài, cường thịnh, nếu không thì biến động, tiêu vong trong ngắn ngủi.

Cho nên bất kỳ triều đại nào mới lên, cũng không phải chỉ do một người, mà do nhiều người ở trong cùng trường hợp hưởng ứng với người Việcđó. Tất nhiên lúc đầu là vậy, nhưng khi đã lớn mạnh rồi, đã có quyền lực hay chính quyền rồi, mọi sức mạnh cưỡng chế là chính, và mọi người bắt buộc phải quy phục là chính. Việc bắt lính, lấy thuế để phụ vụ cho guồng máy quyền hành đều diễn ra như vậy. Ý nghĩa của quyền hành cai trị và xã hội dân sự cũng là vậy. Xã hội luôn phải sống, còn chính quyền luôn phải có, chỉ khác nhau là tính cách sống thế nào và chính sách cai trị ra sao vậy thôi.

Nguyễn Phúc Ánh khi còn là chàng thanh niên 17 tuổi xuống thuyền vào Gia Định cùng người bác của mình là Nguyễn Phúc Thuần để sau lập nên nghiệp lớn cũng trong trường hợp như thế. Có nghĩa hoàn cảnh hổn độn của Phú Xuân lúc đó tạo nên sự kiện, và nhiều sự kiện sau này tiếp theo nhân lên nhau, để cuối cùng tạo nên kết quả có tính kết thúc nào đó nhằm giải quyết mọi sự việc tương tự. Cũng giống như thế, Nguyễn Nhạc lúc đầu chỉ là viên cai bạ nhỏ, vì mê đánh bạc thâm lạm phải trốn vào rừng, cuối cùng khởi loạn và nhà Tây Sơn ra đời. Vị anh hùng Nguyễn Huệ cũng từ đó nảy sinh ra, không khác gì Nguyễn Ánh.

Cho nên lịch sử đôi khi giống như sự tình cờ không theo quy luật chặt chẽ nào cả, hay quy luật đó chỉ là quy luật kinh tế xã hội làm nên để cho các nhân vật lịch sử xuất hiện rồi cuối cùng tạo nên lịch sử thế thôi. Có nghĩa những nhân vật lịch sử tất yếu phải có tài hay nổi trội hơn người khác về những mặt nào đó, được hoàn cảnh cho phép xuất hiện và nuôi dưỡng, cuối cùng họ giải mã được nhiều vấn đề đang phức tạp lúc ấy, đó là sự thành công hay sự nghiệp của họ. Gia Long hay Quang Trung đều là những con người như thế cả.

Nhưng cái hay, cái ý nghĩa hay giá trị của những người làm nên nghiệp lớn, không phải nghiệp lớn của bản thân họ mà là họ đã có những công nghiệp gì cho xã hội, họ để lại được gì cho sự phát triển của đất nước và lịch sử vậy thôi. Nếu chẳng để lại gì cả hoặc chỉ để lại một sự hổn độn nào đó thì cũng chẳng có ý nghĩa hay giá trị gì. Lịch sử xưa nay trên toàn cầu đều vậy và vào thời buổi nào cũng vậy. Đó chính là điều mà Quang Trung và Gia Long đều thực hiện được. Quang Trung chống ngoại xâm bảo vệ đất nước toàn vẹn, Gia Long thì thống nhất, phát triển sơn cả cho một đất nước tiến lên nhiều mặt, đó đúng là công lớn của hai kẻ địch thủ một thời mà thật sự đều hai vị anh hùng hay vĩ nhân hiếm có.

Bởi cuộc đời của Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ hầu như thời trẻ trung đều ngồi trên mình ngựa. Nhưng khi đã có được cơ đồ rồi, đều cùng xây dựng đất nước kết quả nhiều mặt, chỉ có những thế hệ về sau mới bất lực và phá tán để trở nên tiêu vong triều đại mà thôi. Nhưng cái sai lầm nhất của Nguyễn Ánh là lúc đầu cầu viện nước ngoài như Xiêm la và người Pháp để tranh hùng với Nguyễn Huệ. Đây là vết đen đầu tiên mà Nguyễn Ánh sẽ không bao giờ rửa sạch trước lịch sử. Mặc dầu sau khi đã thành công thì Gia Long và Quang Trung đều một lòng bảo vệ phát triển đất nước chẳng ai thua ai. Còn điều nữa Gia Long giết hại công thần, là điều Quang Trung chưa phạm, mặc dầu cả hai vì vua đều thuộc dạng võ biền nhưng thông minh trí tuệ và tài hiểu biết các mặt văn hóa cũng như nhau.

Thế thì lịch sử rõ ràng vẫn có nhiều điều tình cờ, ngẫu nhiên hay bí ẩn. Sự cầu viện nước ngoài của Nguyễn Ánh cuối cùng cũng mang lại được sự hình thành nên tiếng Quốc ngữ, là tài sản vô giá cho đất nước sau này, còn Quang Trung hết lòng hỗ trợ chữ nôm trước đó cũng thật là một danh nhân văn hóa của dân tộc. Tuy vậy lịch sử luôn có sự phân ranh giữa hai đàng là xã hội kinh tế dân sự và thiểu số nắm quyền qua những thời kỳ hay giai đoạn nào đó là điều hầu như luôn luôn đã có. Mọi nhân vật lịch sử có khi từ thành phần chính quyền của triều đại mà ra, có khi từ xã hội dân dã mà ra. Nên đó có khi cũng là điều may rủi hay là chân mạng của những người có sự nghiệp mà ngày xưa loài người đã từng biết. Bởi thế quan niệm đấu tranh giai cấp của Mác chỉ là quan niệm u mê, lập dị hay dối gạt, và cuối cùng việc sử dụng ý nghĩa chuyên chính mù quáng trong lịch sử quả là ý nghĩa tội đồ đối với xã hội nhân loại hiện đại.

Nhưng như trên đã nói, xã hội kinh tế dân sự chính là nền tảng hay sân chơi cho toàn thể mọi biến chuyển của lịch sử diễn ra. Bởi vì không có nó cung không có tất cả. Vậy thì ý nghĩa của nền tảng hay sân chơi xã hội lịch sử đó là gì, đó không ngoài là sự phát triển kinh tế xã hội dựa trên các thành quả của khoa học kỹ thuật, văn hóa và giao thương như mọi người đều biết. Điều đó có thể tự bên trong làm ra hay từ bên ngoài mang lại. Các nước phương Tây trong thời cận đại hay ngay từ thời cổ, các phát triển khoa học kỹ thuật hay công nghiệp đều do tự họ làm ra. Trái lại các nước Á đông thì thường do các nước du nhập đến qua con đương giao thương buôn bán. Ý nghĩa của con đường tơ lụa ngày xưa là như thế. Nên nói chung lại lịch sử chính trị đều ít nhiều phải phụ thuộc vào lịch sử hay hoàn cảnh kinh tế xã hội và địa lý. Phương Tây vẫn phát triển hơn phương Đông ngay từ xa xưa đều không ngoài yếu tố đó. Não trạng của phương Tây là não trạng khoa học kỹ thuật và tự do dân chủ. Não trạng của phương Đông thường hay là não trạng quân chủ chuyên chế, phong kiến và văn minh văn hóa lạc hậu về khoa học kỹ thuật và về cơ chế xã hội. Đó là ý nghĩa tại sao phương Tây luôn luôn tiên tiến, đi đầu mọi mặt, còn phương Đông luôn luôn chậm lụt, đi sau hay theo đuôi người ta nhiều loại đều không ngoài như thế, chẳng những ngày xưa mà cả trong thời kỳ công nghệ hiện đại ngày nay cũng vậy.


ĐẠI NGÀN
(14/6/16)


**


CÁC MÁC VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO


Trong Tạp chí Đại học Huế số 11 được ông Nguyễn Văn Lục số hóa và đưa lên mạng DCVonline vừa qua, tôi được đọc lại bài viết "Đối Thoại" của Gs. Nguyễn Văn Trung. Đây là bài viết cách đây 60 năm và tôi cũng không có chủ ý tập trung vào bài này của thầy Trung. Bởi trong bài viết này Gs. Trung xoáy vào nội dung bài diễn thuyết của Lm. Trần Thái Đỉnh khi đó đã ca ngợi giáo lý đạo Phật khiến vài người Thiên chúa giáo khi ấy phật ý và phản đối. Trong bài viết Gs. Trung cũng nêu ý tưởng về Mác, và đây chính là ý nghĩa của bài viết này.

Trước hết phải nói tôn giáo là hiện tượng đời sống của nhân loại, nói rõ hơn là hiện tượng ý thức và tinh thần mà không loài vật nào khác trên thế giới này có được. Tôn giáo là niềm tin, và niềm tin vào thế giới siêu việt, cũng như nhằm thực hiện và thăng tiến ý thức theo niềm tin ấy. Phần khác của tôn giáo là ý nghĩa tình cảm và ý nghĩa đạo đức, tình cảm yêu thương con người, yêu thương xã hội, và đạo đức răn giữ mình.

Bởi tôn giáo là hiện tượng có từ ngàn đời, nên có rất nhiều loại tôn giáo khác nhau trên thế gian, nhưng ở đây chỉ nói hai tôn giáo lớn gần gủi nhất đối với người Việt Nam cho tới nay là đạo Phật và Kitô giáo hay Thiên chúa giáo. Đạo Phật được truyền sang rất xa xưa từ Ấn độ, còn công giáo được truyền đến từ phương Tây đã nhiều thế kỷ. Đạo Phật chủ trương đồng đều và từ bi, đạo Thiên chúa chủ trương bình đẳng và bác ái, đây có lẽ là hai điều căn bản thu hút người Việt Nam nhiều nhất hơn các tôn giáo khác.

Còn nói về ý nghĩa siêu hình, đạo Phật tin vào nguyên lý vô thường, nguyên lý chân như, và nguyên tắc nhân quả. Trong khi đó đạo Kitô tin vào một đấng Thượng đế vô hình có quyền năng vô hạn cai quản thế gian từ nơi cõi trời. Sự giải  thoát của Phật giáo là giải thoát tự thân, sự cứu rỗi trong Thiên chúa giáo là sự cứu rỗi từ bên ngoài nhưng qua tâm thức rèn luyện của mình. Cả hai nói chung đều hữu thần, duy tâm, bởi vì bất cứ tôn giáo hay đạo giáo nào cũng vậy tuy rằng màu sắc cũng có những mặt khác nhau.

Như vậy nếu Lm. Trần Thái Đỉnh từng đăng đàn ca ngợi giáo lý đạo Phật thì cũng chẳng phải điều gì lạ lẫm hay bất thường cả. Hay nếu có nhà sư nào đó đề cao điều gì đó trong Thiên chúa giáo thì cũng chẳng có gì là lạ lùng hoặc khác thường. Chẳng qua chỉ những đầu óc nhỏ hẹp, thiển cận trong tôn giáo này hay tôn giáo khác mới có thái độ chống báng nhau thế thôi. Bởi thế ý nghĩa của bài viết "Đối Thoại" của Gs. Nguyễn Văn Trung đưa ra là rất đúng. Trong đó ông cũng phân tích và chê trách những thái độ trí thức dỏm và trí thức giả của nhiều người đời như là điều thấp kém và không đúng đắn.

Bây giờ chuyển qua ý nghĩa của Mác. Các Mác là người duy vật vô thần nên ông ta phê phán tôn giáo một cách khốc liệt chỉ là chuyện tự nhiên. Vì ý nghĩa duy vật và vô thần tất phải đi đôi với nhau, và ý nghĩa vô tôn giáo cũng chỉ là hệ quả như thế. Chính vì vậy Mác cho rằng tôn giáo nói chung đều chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, đưa quần chúng vào thế giới hư ảo để quên đi chính thực tế bị đày đọa khổ ải, bị bóc lột, trấn áp nơi thế gian. Cho dù gia tộc của Mác có nguồn gốc đạo Do Thái, và cha của Mác chuyển thành mục sư Tin lành, cũng như Mác từ hồi còn niên thiếu đã được học tập qua những trường lớp giáo lý tôn giáo.

Song có điều người ta thắc mắc là trong tâm thức và trong lý luận của Mác. Bởi duy vật thuần túy thì cũng cần gì phải có lý thuyết Mác. Vì nếu thế gian cũng chỉ là cục đất thì mọi ý nghĩa xây dựng lý thuyết, xây dựng xã hội phỏng để làm gì. Đó là điều nghịch lý và sự hời hợt nông cạn ngay từ đầu mà chính Mác đã vấp phải. Vả chăng hòn sỏi thì bao giờ cũng chỉ là hòn sỏi, có làm sao lại biến đổi được thành cái khác hơn nó. Dầu cho có bị phong hóa qua năm tháng hay có bị đập nát, giả nhỏ đi, cuối cùng đó cũng chỉ là vật chất ở mọi mức độ khác nhau mà có gì khác, dẫu có thành phân tử, nguyên tử, rồi hạt cơ bản hay năng lượng nói chung thì cũng chỉ có thế. Công thức E = mc2 của Einstein đã cho thấy điều đó.

Bây giờ chuyển qua ý nghĩa của Mác. Các Mác là người duy vật vô thần nên ông ta phê phán tôn giáo một cách khốc liệt chỉ là chuyện tự nhiên. Vì ý nghĩa duy vật và vô thần tất phải đi đôi với nhau, và ý nghĩa vô tôn giáo cũng chỉ là hệ quả như thế. Chính vì vậy Mác cho rằng tôn giáo nói chung đều chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, đưa quần chúng vào thế giới hư ảo để quên đi chính thực tế bị đày đọa khổ ải, bị bóc lột, trấn áp nơi thế gian. Cho dù gia tộc của Mác có nguồn gốc đạo Do Thái, và cha của Mác chuyển thành mục sư Tin lành, cũng như Mác từ hồi còn niên thiếu đã được học tập qua những trường lớp giáo lý tôn giáo.

Song có điều người ta thắc mắc là trong tâm thức và trong lý luận của Mác. Bởi duy vật thuần túy thì cũng cần gì phải có lý thuyết Mác. Vì nếu thế gian cũng chỉ là cục đất thì mọi ý nghĩa xây dựng lý thuyết, xây dựng xã hội phỏng để làm gì. Đó là điều nghịch lý và sự hời hợt nông cạn ngay từ đầu mà chính Mác đã vấp phải. Vả chăng hòn sỏi thì bao giờ cũng chỉ là hòn sỏi, có làm sao lại biến đổi được thành cái khác hơn nó. Dầu cho có bị phong hóa qua năm tháng hay có bị đập nát, giả nhỏ đi, cuối cùng đó cũng chỉ là vật chất ở mọi mức độ khác nhau mà có gì khác, dẫu có thành phân tử, nguyên tử, rồi hạt cơ bản hay năng lượng nói chung thì cũng chỉ có thế. Công thức E = mc2 của Einstein đã cho thấy điều đó.

Trong khi đó cái cây, con vật, con người là ý nghĩa của sự sống, của ý thức, của sự nhận thức. Đó là thực tế tiến hóa qua nhiều triệu năm, và đó không thể và cũng không còn là thế giới vật chất hoàn toàn thuần túy hay thô nhám nữa. Tất nhiên mọi bí mật hay huyền nhiệm của thế gian là ở đó. Ý nghĩa vấn đề này cần phải được khoa học và triết học luôn luôn không ngừng lý giải để tìm ra chân lý tối hậu, không thể chỉ như Mác kiểu nói bừa giống trẻ con nông nỗi.

Bởi vì mọi sự trên thế gian đang có mặt nhất thiết phải có nguồn gốc nào đó của nó, không thể bổng dưng hoặc tự nhiên mà có, ý thức, nhận thức của con người, hay ý thức, nhận thức trong các tôn giáo cũng y như vậy. Giống như vườn hoa vẫn thường có nhiều loại hoa khác nhau, nhưng đó không thể chỉ là sỏi đá. Cũng không thể có loài hoa nào là loài hoa duy nhât, bởi như vậy có còn đâu ý nghĩa của thế gian.

Mác chỉ là học trò của Hegel nhưng là anh học trò tồi nhất. Mác không thèm hiểu Hegel hay cũng chẳng hiểu Hegel chút nào. Nên cái gọi là biện chứng duy vật của Mác chỉ là thứ quái thai do từ hạt giống của Hegel mà nẩy mầm ra. Nhưng hạt giống duy tâm lại nảy sinh ra cái cây duy vật, đó là điều hoàn toàn phi lô-gích, phi khoa học, phản thực tế, hoàn toàn phi lý và nghịch lý mà Mác đã từng dại dột mắc phải. Lại còn từ đó mà cho ra hoa trái gọi là duy vật lịch sử thì thật Mác là kẻ gàn, kẻ điên, kẻ hoang tưởng trên đời hoàn toàn chưa hề thấy. Thế nên Trần Đức Thảo để gần suốt một đời để rao giảng duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cho sinh viên Miền Bắc trước đây, thật là sự xuẩn ngốc hay sự ngây thơ hết biết của Thảo. Mái tới khi về già được quay lại Paris Thảo mới nhận thức được ông ta sai vì Mác đã hoàn toàn sai.

Đã sai về mặt lý thuyết khoa học, lý thuyết triết học như vậy, Mác lại phịa ra nguyên lý đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, thì sự sai càng lậm và hậu quả của nó trong thực tế thật vô cùng tai hại về nhiều mặt. Từ nguyên tắc phủ định của phủ định trong biện chứng luận của Hegel, vốn là nguyên lý duy tâm, Mác lại phịa thành nguyên lý duy vật thì thật là sự ngổ ngáo và sự bất chấp hết mọi lẽ.

Nguyên lý biện chứng thật ra chỉ là nguyên lý nhận thức hay nguyên lý trừu tượng, Mác lại biến thành nguyên lý thực tại, thật là điều quá đản và ngu dốt đến cùng tận, thế mà bọn xu phụ còn xưng tụng như là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Thật ra viên sỏi thì tự nó không thể biện chứng gì cả, điều đó ở trên đã nói. Còn như con vật, khi lớn lên là biện chứng phát triển, nhưng khi chết đi, thân xác rã mục, thì đó gọi là biện chứng gì. Bởi nếu biện chứng có cả hai đường thì đường nào mới đúng. Quả là một cách lý luận hàm hồ vô lối mà ngoài Mác khó có ai nghĩ tới được.

Cũng chính từ công thức phủ định của phủ định mà Mác hiểu cách mơ hồ, giản đơn đó, ông ta chuyển qua lý lý luận cộng sản nguyên thủy tự phủ định thành kinh tế xã hội tư sản, tư bản, còn kinh tế xã hội tư sản tư bản tự phủ định đê thành kinh tế xã hội cộng sản khoa học sau này. Đó thực chất chỉ là sự tư biện, sự đoán mò, sự ngụy biện của Mác, bởi vì chỉ có xã hội hoang dã, làm gì có xã hội kiểu cộng sản nguyên thủy, đó là sự cưỡng từ, ép ý của Mác. Còn đã độc tài chuyên chính thì có bao giờ tự do để trở thành khoa học, để giải phóng loài người được nữa. Chẳng qua do Mác quá mê tín vào ý niệm biện chứng của Hegel mà tự cho đó là khoa học thế thôi. Vả lại xã hội phi giai cấp, tức phi cấu trúc mà Mác nghĩ ra là hoàn toàn không tưởng. Ngay vật chất còn phải có cấu trúc huống nữa là xã hội hay là ý thức, tâm lý con người.

Nên nói nhiều về mọi khía cạnh sai lầm và sai trái trong lý luận nhận thức và trong thực hành lý thuyết của Mác thì chẳng bao giờ cho hết. Nói chung Mác chẳng hiểu gì về các quy luật khách quan của tâm lý xã hội, của kinh tế chính trị, của nhân văn khoa học, và kể cả của khoa học vật chất, nên chỉ luôn đem đến mọi kết luận tai hại mà không gì khác.

Chẳng hạn như nhà sinh học chỉ luôn nghiên cứu được hiện tượng sự sống, tức hiện tượng cấu trúc khác nhau của cơ thể sống, nhưng không bao giờ thấy rõ được chính bản thân của sự sống đó là gì. Nên Mác nói tôn giáo, văn hóa nói chung chỉ là thượng tầng ý thức đặt trên cơ cấu hạ tầng là kinh tế xã hội chính trị chỉ là nói bừa. Nói mà không chứng minh cụ thể, nói trong tính cách khá nhiều ngụy biện, áp đặt, đó là đặc trưng lý luận của Mác, nên mọi sự độc tài chuyên chính vốn đã có ngay từ trong tư tưởng, ý thức, quan điểm của Mác. Chính điều đó đã tạo nên bao nhiêu tai hại trong lịch sử xã hội loài người nhiều mặt từ khi học thuyết Mác xuất hiện. Nếu nói không ngoa, đó thực là điều tội lỗi của Mác. Bởi vì việc đưa ra những ý niệm sai lầm, sai trái, tạo nên những lý luận, tư duy sai lầm, sai trái, đó không hề giai phóng được gì cho ai mà chỉ tạo nên sự nô lệ, mù quáng, và sự chuyên chính, bạo động giữa người và người, đó chính là sự lầm lỗi và tội lỗi muôn đời của Mác.

Như giai cấp vô sản công nghiệp, lúc đầu chỉ mới là thiểu số trong xã hội tư bản sơ khai, Mác vì mê tín vào biện chứng luận của Hegel, thổi phồng lên là giai cấp tiên phong có sứ mệnh giải phóng lịch sử, giải phóng xã hội, nhưng thực tế một giai cấp có nhiều bất cập thời đó làm sao mà làm điều trọng đại được. Cuối cùng họ chỉ bị lợi dụng bởi các thành phần khác thôi, đó là sự ngây thơ, sự ẩu tả hay sự mê muội của Mác.

Nên cuối cùng tuy ban đầu Mác lên án tôn giáo, cho tôn giáo là vong thân, cuối cùng học thuyết Mác bị biến thành học thuyết chính trị kiểu tôn giáo, nó làm cho con người vong thân, xã hội vong thân, kể cả lịch sử bị vong thân, bởi trong chế độ độc tài chuyên chính kiểu Mác không còn ai có tự do nữa cả, tất cả đều trở thành nô lệ cho độc tài và nô lệ lẫn nhau, bạo lực lẫn nhau, sợ hãi và ngờ vực lẫn nhau, trở thành một tập thể khổng lồ bị vong thân không còn hạn chế hay giới hạn, và đó quả thật là đỉnh cao trí tuệ nơi chính bản thân Mác.


ĐỈNH NGÀN
(14/6/16)


**


DẶM NGÀN says:



CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI


Con đường phát triển của lịch sử nhân loại thật ra chỉ có một. Chỉ có một con đường chính, còn bao nhiêu là những con đường nhánh. Nhưng những con đường nhánh chỉ là những con đường cụt. Trên con đường phát triển chung duy nhất đó, có thể có người đi trước, có người đi sau, có người vượt lên, có người chậm lại, nhưng đó là điều kiện, năng lực hay hoàn cảnh riêng của mỗi người, không phải cứ đi trước là đi trước mãi, không phải cứ đi sau là đi sau mãi, chỉ tùy mình có đi đúng hướng hay không vậy thôi.

Con đường phát triển đó ngày từ đầu đã rẽ thành hai nhánh khác nhau, nhánh phương Đông và nhánh phương Tây. Con đường phương Tây là con đường mang tính tuệ, lô-gích, nên cuối cùng phương Tây phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, và cuối cùng là nền tự do dân chủ. Đó là trường hợp của châu Âu và Bắc Mỹ. Con đường đó bắt nguồn từ ý nghĩa tư duy thuần lý của người Hy lạp, và được các nươc phương Tây gìn giữ và phát triển, phát huy cho mãi tới ngày nay.

Trái lại con đường của phương Đông là con đường cảm tính, nông nghiệp lạc hậu và dậm chân tại chỗ. Cuối cùng vẫn là tính cách chậm tiến và khuynh hướng độc tài chính trị. Giả dụ nếu không có sự bứt phá của chế độ thực dân thuộc địa xuất phát từ phương Tây, phương đồng sẽ vẫn mãi lạc hậu trong cơ chế quân chủ phong kiến và cuối cùng cũng chẳng biết đi về đâu. Sự kiện xã hội thuộc địa thực chất là con dao hai lưỡi mà phương Tây mang lại cho phương Đông, nó vừa là yếu tố thức tỉnh, vừa là yếu tố hi sinh và mất mát.

 Học thuyết Mác là học thuyết phát sinh từ phương Tây, nhưng cuối cùng chỉ có phương Đông bị lậm còn phương Tây thì không hề màng đến. Nga là nước lạc hầu phương Đông khi áy đã lậm đầu tiên, cũng như bên cạnh đó là Trung Quốc cùng số nước nhỏ khác trong đó có Việt Nam. Đó chỉ là do não trạng của phương Đông không theo kịp phương Tây, đặc biệt là Tây Âu về ý nghĩa phát triển và nhận thức cũng như tinh thần khoa học. Nước Việt Nam ban đầu phải chịu lép vế và thua đau trước thực dân Pháp, cuối cùng lại bị lậm bởi nước Nga và Trung Quốc trong phong trào cộng sản quốc tế, âu đó cũng là hoàn cảnh lịch sử khách quan cũng một phần do não trạng của người Việt Nam như đã nói.

Bây giờ thì mọi chuyện qua rồi nhưng kết quả của lịch sử thì vẫn còn đó. Đã từng một thời kỳ Việt Nam đua theo Nga và Tàu để chưởi các nước phương Tây là tư bản, là đế quốc. Bây giờ thì Liên Xô cũng đã không còn còn Trung Quốc cũng đã chuyển hướng. Thế nhưng con đường đã đi qua thì có bao giờ quành trở lại được nữa. Ngay như cả nước Nga mà hiện nay còn chưa bỏ được não trạng phương Đông, não trạng phong kiến lạc hậu, huống gì là Trung Quốc. Nga đã chơi trò Ukraina, còn Trung Quốc thì chơi trò Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam. Nhưng tới giờ Việt Nam vẫn còn chưa sáng suốt để nhận ra con đường phát triển của nhân loại nhằm áp dung cho đất nước của mình. Như Tổng thống Putin của Nga tới nay cũng còn mơ hão một ý hệ nhà nước cho toàn dân huống gì là Việt Nam. Não trạng quân chủ phong kiến phương Đông nó vẫn khác hẳn với não trạng dân chủ tự do và khoa học của phương Tây là như thế đó.


PHƯƠNG NGÀN

(13/6/16)  



**


ĐẠI NGÀN says:



CHÍNH TRỊ TIÊN TIẾN VÀ CHÍNH TRỊ LẠC HẬU


Thời đại nào cũng vậy, chính trị tiên tiến là chính trị tự do dân chủ, chính trị lạc hậu là chính trị độc tài ý thức hệ. Tự do dân chủ có nghĩa mọi người sinh ra đời đều bình đẳng nhau, cùng kết hợp nhau để sống và phát triển khách quan tự nhiên. Quyền lực chung của xã hội là do mọi người cùng tương thuận, tức bầu cử dân chủ, không ai có quyền hành riêng nào để áp đặt ý chí hay ý muốn, thị hiếu riêng của mình lên cho mọi người khác bất chấp nguyện vọng của họ.

Trong khi đó chính trị độc tài ý thức hệ thì một thiếu số nào đó trong xã hội nhân danh một ý thức hệ nào đó để áp đặt lên xã hội một cách độc đoán. Ngày xưa thời quân chủ phong kiến, vua quan nhân danh thần quyền để tự ý cai trị dân theo ý mình. Đó chỉ là kiểu nhân danh, làm gì có thần quyền thật sự trong chính trị. Còn thời cận đại, các chủ nghĩa quốc xã, phát xít, cộng sản mác xít cũng nhân danh hệ tư tưởng mà mình thị hiếu để áp đặt, cưỡng chế lên xã hội một cách độc đoán.

Thật ra ý thức hệ chỉ là hệ tư tưởng của một cá nhân nào đó đề ra cho xã hội, nó có thể chỉ là chủ quan hay riêng biệt. Nhưng trong tôn giáo ý thức hệ chỉ là sự mời gọi, sự thuyết phục, không phải sự bạo lực, sự cưỡng chế như trong chính trị. Các ý thức hệ chính trị đều dùng bạo lực để cưỡng chế xã hội, đó là điều sai trái vì cách thức đó là phản lại tự do dân chủ, phản nhân văn, phi khoa học. Như Engels, Hitler, Moussolini đều chủ trương dùng bạo lực. Các Mác chủ trương dùng độc tài chuyên chính giai cấp nhằm khống chế toàn xã hội.

Thực chất mọi con người sinh ra đời đều tự do và bình đẳng. Mọi ý nghĩa giai cấp hay tầng lớp xã hội chỉ có về sau do kết quả của bao nhiêu yếu tố khác nhau mà không cá nhân có thể hoàn toàn chủ động được. Do vậy ý nghĩa tự do dân chủ và ý nghĩa hòa hợp toàn xã hội là bản chất tiên tiến nhất của mọi xã hội. Trái lại tính cách dùng ý thức hệ chủ quan nào đó để áp đặt, cưỡng chế lên toàn xã hội đều phi lý, phi nhân, phản khách quan khoa học vì không bất kỳ ai có quyền gì để tự tiện, tùy tiện làm như vậy.

Quan điểm chuyên chính vô sản của Mác là quan điểm hết sức bậy bạ. Bởi vô sản không bao giờ là bản chất của xã hội. Giai cấp vô sản thật ra chỉ là thành phần thiểu số ban đầu của xã hội tư bản mới phát triển. Đó là giai tầng còn nhiều mặt hạn chế, không phải là tầng lớp ưu tú của xã hội thời đó. Thế nhưng Mác mê tín vào biện chứng luận của Hegel, mù quáng vào lý thuyết phủ định của phủ định, cho rằng phủ định của tư bản, tư sản phải là vô sản và cộng sản, nên công nhân phải là giai cấp tiên phong lãnh đạo xã hội. Đó chỉ là quan điểm thần bí, dốt nát, phản thực tế, phản xã hội, phản khoa học khách quan. Bỏi vì luôn phải là tầng lớp ưu tú của bất kỳ giai cấp nào cùng kết hợp lãnh đạo xã hội trong thể chế tự do dân chủ mà không phải kiểu độc tài mê tín và ngu dốt của Mác.

Putin ở Nga ngày nay cũng là người cộng sản mác xít cũ, cũng đương hô hào lại việc sử dụng một ý thức hệ nhà nước mới cho nước Nga. Đó quả là một quan điểm phản động chẳng khác gì quan điểm phản động ngày xưa của Mác. Bởi như vậy sẽ lấy sự chủ quan ý thức hệ cá nhân hay tập thể nào đó để thay vào cho ý nghĩa tự do dân chủ phát triển và tiến bộ. Đó lại kiểu tôn giáo hóa chính trị dưới một hình thức mới như chính Mác ngày xưa đã làm. Chính trị kiểu tôn giáo hóa là kiểu chính trị đặc biệt phản động vì nó đi ngược lại mọi sự phát triển bình đẳng, tự do và dân chủ của mọi người dân và toàn xã hội, nó chỉ có lợi cho một thiểu số nhân danh, lợi dụng điều đó để ngồi lên đầu lên cổ toàn xã hội nhằm hưởng lợi đối với tất cả mọi người. Chính trị thời Trung cổ tại châu Âu là lối chính trị kiểu lạc hậu như thế.


THƯỢNG NGÀN
(12/6/16)



**


ĐẠI NGÀN says:



TỪ ĐẤT NƯỚC ĐẾN CHÍNH TRỊ


Đất nước là thực tế tự nhiên trên thế gian này, nó đã có từ thời cổ xưa, và qua nhiêu biến đổi thăng trầm của lịch sử nhân loại, đến nay trên thế giới vẫn còn lại chừng trên trăm nước lớn nhỏ họp thành tổ chức Liên Hiệp Quốc của toàn cầu. Mặc dầu trong thời hiện đại cũng có xu hướng tạo thành những khối lớn mạnh chung như khối Cồng đồng châu Âu, hay khối Asean đang có mặt hiện nay. Còn việc thống nhất chung nhân loại toàn cầu thì vẫn còn xa.

Có nghĩa cho dù lịch sử loài người biến đổi trong tương lai thế nào, trong quá khứ hình thành nhân loại trên mặt đất từ khởi thủy cho đến nay, đất nước hay quốc gia vẫn là định chế nền tảng nhất mà nơi nào cũng có. Trong định chế chính trị nền tảng đó, xã hội nói chung là toàn dân, còn đứng đầu trên hết là mỗi nhà nước. Nhà nước là tổ chức chung nhất bao gồm trong đó mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội tạo thành guồng máy cai quản chung. Nguồn sống do dân đóng thuế, nhiệm vụ lo cho toàn dân.

Đến thời cận đại, xuất hiện học thuyết Mác nói bậy bạ cho rằng nhà nước là nhà nước của giai cấp, đặc biệt là giai cấp vô sản, bởi vì Mác chỉ là kẻ mê tín vào thuyết biện chứng luận của Hegel, dựa trên nguyên lý phủ định của phủ định, để nói tướng lên giai cấp vô sản sẽ thay thế giai cấp tư bản, nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước sau cùng trong lịch sử nhân loại để đi đến nhà nước phi giai cấp, không còn nhà nước nữa, không cần đến pháp luật nữa, xã hội chỉ lao động và tự nguyện phân chia trực tiếp sản phẩm với nhau thôi. Đó là học thuyết không tưởng, phi khoa học, phản khoa học và phản thực tế.

Bởi con người không phải thần thánh mà luôn luôn sống đầy bản năng, chỉ khoa học kỹ thuật và văn hóa mới làm loài người phát triển và hạnh phúc mà không phải nhờ đấu tranh giai cấp như kiểu suy nghĩ ngu dốt của Mác. Bởi vậy pháp luật luôn luôn cần thiết, và chỉ pháp luật lành mạnh, đúng đắn mới là pháp luật lợi ích nhất cho mọi xã hội con người. Ngược lại pháp luật độc tài chỉ là pháp luật của thiểu số áp đặt lên đa số, chuyên chính vô sản là sự ngu dốt ngàn đời của Mác. Ngày nay Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu cũ đã hoàn toàn sụp đổ và tan rã đã chứng minh cho thấy sự ngu tối của học thuyết Mác.

Như vậy nhà nước là nhà nước của mọi giai cấp, phải cần tự do dân chủ và sự bầu cử trong sạch, đứng đắn mới là nhà nước lành mạnh nhất. Trong nhà nước đó dân đóng thuế để nuôi bộ máy và quân đội, cảnh sát, viên chức chỉ có nhiệm vụ phục vụ chung đất nước, phục vụ toàn dân mà không phục vụ riêng cho đảng phái hay giai cấp nào cả. Bởi vậy mọi luận điểm cho rằng nhà nước là nhà nước của giai cấp, nhà nước của chuyên chính giai cấp thực chất là nói láo hay nói phi thực tế và phi khoa học.

Học thuyết Mác sự thực chỉ là học thuyết bậy bạ về mặt thực chất và khoa học, do đó mọi người cộng sản đúng đắn ngày nay cần tỉnh táo để xem xét lại toàn diện, đó mới thật sự là có ý thức lành mạnh, có nhận thức hiểu biết đúng đắn, trong sáng, có lòng vì nước, vì dân, vì xã hội, vì con người, và vì cả nhân loại, mà không phải chỉ vì bất kỳ những cái gì đó khác. Và cũng chỉ trên cơ sở đó mới thật sự có ý nghĩa cao quý đối với cả công an và quân đội trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, bảo vệ toàn dân, bảo vệ xã hội, bảo vệ dân tộc nói chung.


THƯỢNG NGÀN

(12/6/16)



**


NÓI VỀ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT


Nhân đọc lại bài "Ngữ học là gì ?" của ông Nguyễn Đình Hòa, và bài "Đọc 'Ngôn ngữ học Việt Nam'" của các ông Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê đăng trên Tạp chí Đại học số 10 của Viện Đại Học Huế vào nửa thế kỷ trước, được ông Nguyễn Văn Lục số hóa và post lên DCVonline vừa rồi, tôi có ngẫu hứng viết vài dòng sau đây.

Nói khoa học ngôn ngữ hay ngôn ngữ học là cách nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ một cách chung nhất. Người ta có thể dựa vào một hay vài ngôn ngữ nào đó làm nền tảng, để từ đó phát hiện, tìm hiểu và hệ thống hóa những đặc điểm của ngôn ngữ nói chung. Nhưng nếu cách đó áp dụng vào ngôn ngữ tiếng Việt, nó thành ra khoa nghiên cứu riêng về ngôn ngữ tiếng Việt, điều bài viết này đang nói tới.

Ngôn ngữ là đặc trưng chung của con người, nhưng mỗi dân tộc có ngôn ngữ khác nhau, bao gồm lời nói và chữ viết. Lời nói là ngôn ngữ thông qua phát âm bằng miệng, diễn đạt bằng điệu bộ, cử chỉ, còn chữ viết là hệ thống ký hiệu nào đó dùng ghi lại lời nói đã có.

Tiếng Việt nói đã có từ ngàn xưa, từ hồi dân tộc và đất nước được hình thành, còn chữ viết cổ thì ngày nay không còn tìm thấy, có lẽ phải có nhưng bị thất thoát hy mai một vì những lý do nào đó. Ngày nay chỉ còn tồn tại chữ nôm vốn có cách đây nhiều trăm năm, một cách biến hóa từ chữ Hán cổ, và quốc ngữ hiện nay, là chữ Việt mới được vận dụng từ mẫu tự la tinh.

Dù sao chăng nữa, ngôn ngữ Việt ngày nay là một ngôn ngữ hiện đại, cả tiếng nói và chữ viết, tức nó hoàn toàn là một sinh ngữ đang tiếp tục hoàn thành và phát triển. Và đặc điểm nổi bật nữa, tiếng Việt rất giàu nhạc tính và hình ảnh. Nhạc tính là ngữ điệu khi nói năng, và hình ảnh là nội dung diễn đạt phong phú qua hình tượng hay được thể hiện.

Chính vì lẽ đó, tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ giàu tính nghệ thuật, được thể hiện đa dạng qua thi ca, văn chương, âm nhạc, đó là đặc điểm không phải ngôn ngữ nào cũng có. Mặt mạnh của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, có nghĩa mỗi từ ngữ, mỗi phát âm, mỗi chữ viết là một đơn vị riêng lẻ, độc lập, do đó cách sử dụng luôn được vận dụng một cách linh hoạt và vô cùng phong phú. Đó cũng là sở trường của cách chơi chữ, cách dùng nghĩa bóng, cách đối ý hay cách điệp từ v.v... Nghệ thuật câu đối, nghệ thuật thi ca, đó là những mặt mạnh đày thú vị mà tiếng Việt thời xa xưa vẫn thường có.

Mặt khác, tiếng Việt không phải chỉ phong phú trong tính cách bản địa của nó, tiếng Việt còn vay mượn rất nhiều từ trong tiếng Hán xưa, khiến tiếng Việt còn được ưu điểm là tập hợp đến hai ngôn ngữ, điều đó hoàn toàn không dư thừa hay lộn xộn, nặng nề, trái lại càng làm tiếng Việt trở nên bác học hơn, trở nên đa dạng và sinh động hơn. Đây là điều có thể có một số người chưa chú ý đúng mức lắm.

Nói về mặt ngữ học hay văn phạm, mà ngày nay người ta thường gọi là ngữ pháp, tiếng Việt là một loại tổ hợp từ mang đầy tính cách nghệ thuật và khoa học. Tức trong tiếng Việt có thể có câu ngắn nhất mà cũng có thể có câu dài nhất. Câu ngắn nhất đương nhiên chỉ là một từ, trong ngữ cảnh của nó, người Việt vẫn dễ dàng hiểu ra được, còn câu dài nhất được tổ hợp lại bằng những câu ngắn một cách có phương pháp hoàn toàn chặt chẽ và khoa học.

Nói khác, tiếng Việt có thể có cách nói rất chuẩn và cách viết rất chuẩn không thể chê vào đâu được, trừ khi người ta viết mà vì những lý do nào đó chẳng cần gì tuyệt đối chuẩn. Nhất là văn nói thì thật khó chuẩn như văn viết, và văn nói hay viết theo cách bình dân, thông thường thì khó mà chuẩn như văn viết hay nói kiểu bác học hoặc học thuật. Có nghĩa tiếng Việt hoàn toàn thích ứng tuyệt hảo trong ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ nghệ thuật, văn học, lẫn ngôn ngữ chuyên môn, khoa học, cả trong thế giới hiện đại.

Có điều, trong ngôn ngữ tiếng Việt mọi từ ngữ tiếng Hán đã được Việt hóa từ xa xưa thành tiếng Hán Việt, nên máu huyết của nó là tiếng Việt mà hoàn toàn không còn là tiếng Hán trong câu chữ tiếng Việt nữa, đó là điều phải lưu ý. Nên từ Hán Việt thì phải đi chung với nhau, cũng như từ thuần Việt phải đi chung với nhau, để chúng thành các tổ hợp riêng để kết hợp lại mà không thể lộn xộn, hổn độn.

Như chỉ có thể nói nam quân nhân, nữ quân nhân, không thể nói quân nhân trai, quân nhân gái. Từ bộ đội cũng là từ Hán Việt ghép lại, nên nếu nói bộ đội gái là nói ẩu, không đúng cách. Phải nói nữ bộ đội hay nam bộ đội, không thể nói bộ đội trai. Cả ngôn ngữ viết cũng thế, bảng mẫu tự la tinh của tiếng Việt từ xa xưa đã hoàn toàn chỉnh, không thể sử dụng ký âm nào bên ngoài bảng đó từ A tới Y. Bởi thế không thể dùng chữ Z để thay cho D, chữ F để thay cho chữ PH, chữ I (ngắn) để thay cho Y (dài) hay ngược lại. Viết như vậy là kém tiếng Việt, kém văn hóa.

Còn phát âm miệng thì đương nhiên giọng Hà nội là giọng chuẩn, nó phải được dùng trong ca hát đúng phát âm chuẩn, nhưng không có nghĩa giọng miền Trung như Huế, hoặc giọng miền Nam như Saigon là không hay ho hoặc dễ thương. Nói chung phát âm phải cần tự nhiên, thoải mái theo vùng miền, còn ngôn ngữ viết luôn phải chuẩn mực chung là điều bắt buộc.

Vì đặc trưng tiếng Việt như thế, nên những ca từ trong âm nhạc tiền chiến hay nhạc trữ tình cũ rất hay, rất nên thơ, thi vị, giàu hình tượng. Trái lại ca từ nhạc hiện thời thì rất lai căng, đó cũng là một dấu hiệu báo nguy về văn hóa nói chung và về ngôn ngữ Việt nói riêng. Ngày nay hình như lớp trẻ không còn có tâm hồn như cha anh họ nữa, và tính cách quay lưng lại với nghệ thuật ngôn ngữ nói chung, nhất là ngôn ngữ tiếng Việt nói riêng, đó chính là điều xuống cấp tệ hại và nguy hiểm trầm trọng nhất.

Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ mỗi dân tộc đều có các quy tắc giống và khác nhau. Tiếng Việt cũng thế. Vấn đề nghiên cứu tìm ra những mặt thông thường của nó, và những mặt đặc điểm hay đặc biệt của nó, đó là một khoa học. Khoa học nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt thực chất rất triển vọng và phong phú mà cho tới ngày nay nhiều người còn chưa thấy ra hết. Đó là tính khoa học và tính nghệ thuật trong tiếng Việt không hề thiếu điều nào cả.

Thi ca của Nguyễn Du, của Đoàn Thị Điểm chẳng hạn, không thể nào có được nếu ở bên ngoài tiếng Việt. Đó là điều trên kia đã nói. Tính hình ảnh, tính âm nhạc, đó là mặt mạnh hay sở trường của tiếng Việt, ngay cả đến các giai thoại mọi loại thường đều vận dụng đến chính bản thân tiếng Việt. Chẳng hạn "dang tay ướm thử trời cao thấp, xoạt cẳng mà xem đất vắn dài". "Trên trời mây trắng như bông, ở giữa cánh đồng bông trắng như mây, mấy cô má đỏ hây hây, đội bông như thể đội mây về làng”.

Có điều, trong ngôn ngữ tiếng Việt mọi từ ngữ tiếng Hán đã được Việt hóa từ xa xưa thành tiếng Hán Việt, nên máu huyết của nó là tiếng Việt mà hoàn toàn không còn là tiếng Hán trong câu chữ tiếng Việt nữa, đó là điều phải lưu ý. Nên từ Hán Việt thì phải đi chung với nhau, cũng như từ thuần Việt phải đi chung với nhau, để chúng thành các tổ hợp riêng để kết hợp lại mà không thể lộn xộn, hổn độn.

Còn phát âm miệng thì đương nhiên giọng Hà nội là giọng chuẩn, nó phải được dùng trong ca hát đúng phát âm chuẩn, nhưng không có nghĩa giọng miền Trung như Huế, hoặc giọng miền Nam như Saigon là không hay ho hoặc dễ thương. Nói chung phát âm phải cần tự nhiên, thoải mái theo vùng miền, còn ngôn ngữ viết luôn phải chuẩn mực chung là điều bắt buộc.

Nên nghiên cứu một ngôn ngữ trước hết chính là nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ đó. Dù có gọi tên là gì đi nữa, cấu trúc chính là văn phạm hay ngữ pháp của ngôn ngữ. Ngữ pháp hay văn phạm là cái tự nhiên trong ngôn ngữ, nghiên cứu không là thay đổi gì nó mà chỉ có nghĩa chỉ ra cái chuẩn mực của nó. Bởi thật sự ngôn ngữ thật ra chỉ là thói quen sinh hoạt trong sử dụng giao tiếp giữa con người. Dùng lâu rồi thành quen. Nhưng quen cũng có nghĩa phù hợp theo dân tộc tính, theo bản sắc riêng của dân tộc đó.

Mặt khác, tiếng Việt là tiếng nói xuôi, không phải tiếng nói ngược như các dân tộc khác. Có nghĩa danh từ trong tiếng Việt đi trước còn tính từ tức bổ từ phải luôn đi sau. Tiếng Việt chỉ nói hoa hồng, trời trong, không ai nói hồng hoa hay trong trời như các tiếng nước khác. Chỉ trừ ra những tiếng gốc Hán Việt thì nói ngược nói xuội có khi đều được cả. Nhưng đó thật ra chỉ là số ít. Như chiến chinh, chinh chiến, hòa hiếu, hiếu hòa, nhưng không thể nói hòa bình thành bình hòa, âm hưởng thành hưởng âm thì hoàn toàn trật lất. Tuy vậy tính bổ âm hay láy từ cũng là một hương vị tự nhiên mà chỉ ngôn ngữ Việt mới có.

Cuối cùng, điều thú vị nhất là đôi khi trong tiếng Việt có thể có sự lặp từ, lặp ý, tưởng thừa mà thật ra không phải là thừa. Đó chỉ là ý muốn nhấn mạnh thêm hay bổ sung thêm vậy thôi, có cũng tốt mà không có cũng chẳng sao. Như kiểu "Tôi đã nói rồi mà". Chữ rồi thật ra chỉ nhằm nhấn mạnh thêm cho chữ đã để trọn vẹn hơn, hay cũng cho thuận tai vậy thôi. Bởi ngôn ngữ phải có âm điệu, ngữ điệu, tức phải nghe êm tai hay thuận tai tùy trường hợp, mà ý nghĩa này thì tiếng Việt là đặc điểm hơn nhiều ngôn ngữ khác.

Nên nói chung lại, điệp từ, điệp ý, mượn ý, mượn từ, đảo ý, đảo từ, một từ nhiều nghĩa, một nghĩa nhiều từ để nhằm tránh trùng lắp trong từ ngữ, tựu trung cũng chỉ cho ngôn ngữ được mượt mà, phong phú, linh hoạt, hay có khi mở rộng hoặc đào sâu thêm thế thôi. Còn đặc điểm nữa là cách nói lái, có khi lái hai từ, lái ba từ, lái nhiều từ, càng cho thấy tiếng Việt quả hết sức tinh tế, phong phú và ngộ nghĩnh. "Kia mấy cây mía", "có vài cái vò", đố ai mà ngồi thống kê cho hết. Thôi thì cũng mượn bài phóng bút ngắn, chớp nhoáng này để hầu lăng xê thêm một chút ít tiếng Việt cũng là điều để mọi người có dịp mà thêm ngẫm nghĩ. Tuy vậy tiếng Việt rất chặt chẽ trong cấu trúc của nó, đó là điều mọi người cần quan tâm trước hết để hầu nhằm viết chuẩn xác, có nghĩa đây không phải chỉ là ngôn ngữ của âm nhạc, của nghệ thuật, mà còn là ngôn ngữ của khoa học và của học thuật thật sự. Và phải làm sao cho tiếng Việt càng ngày càng phong phú, điệu nghệ và chuẩn xác thêm lên, đó chính là nhiệm vụ của những nhà ngữ học, những người nghiên cứu đào sâu tiếng Việt.


ĐẠI NGÀN
(10/6/16) 


**





TẠI SAO CÓ TỆ NẠN SÙNG BÁI LÃNH TỤ

NƠI NHỮNG NƯỚC CỘNG SẢN ?


Nguyên do chính yếu nhất là những người cộng sản thật bụng đầu tiên quá cuồng tín, quá mê tín vào học thuyết Mác, nghĩ rằng nó là học thuyết cứu nhân độ thế chẳng khác gì lý thuyết nhà Phật hay lý thuyết của đạo Kitô, bởi vì phần lớn họ không tường sâu xa về khoa học và triết học, nên từ sự hiểu biết hạn hẹp họ cho rằng những lãnh tụ cộng sản đầu tiên cũng chẳng khác gì những người làm việc nghĩa vĩ đại, đó là lý do sự tôn sùng, thần thánh hóa cá nhân thực sự. Nhưng về sau đó chỉ là kết quả của tuyên truyền chính trị có ý đồ mà không là gì khác.

Nhưng trong hệ thống chính trị kiểu toàn trị cộng sản, các hệ lụy về sau của không còn phải như trước nữa. Vì sau đó mọi người phải đóng kịch tôn thờ để khỏi bị nguy hiểm, để thăng tiến, để hưởng lợi, nói chung chỉ núp bóng thần tượng, lợi dụng thần tượng, trục lợi thần tường mà không gì khác. Từ đó thần tượng trở thành huyễn tượng, thành ảo tượng, khiến nhiều người bị mê hoặc, nhất là giới bình dân it học. Do đó kiểu đất nước nghèo mà xây tượng lãnh tụ đến ngàn tỉ đồng, thậm chí có người đưa lên thờ trên bàn thờ gia tiên, tổ phụ mình, những cái lố bịch đó đều chỉ có cùng cơ sở.

Còn lý do nữa, là thuần chỉ là phương chước nhằm tập hợp sức mạnh chính trị quần chúng trong nước kể cả quốc tế. Khi phong trào cộng sản quốc tế còn tồn tại, ở nước cộng sản nào người ta cũng thấy đầy tượng Lênin và lãnh tụ cộng sản trong nước họ. Sự tôn sùng cá nhân kiểu như thế thực chất chỉ là bề ngoài, nhưng bên trong nhằm lợi dụng kiểu thần tượng đó để nhằm mối lợi chính trị. Đó chỉ là kiểu đầu cơ thần tượng. Vốn bỏ ra thực chất không bao nhiêu mà thật sự có thể thu về được nhiều lợi. Hay sự buôn thần bán thánh cũng phát sinh ra từ đó.

Thật ra việc thờ ngẫu tượng đã là hủ tục thời xa xưa khi những dân tộc còn lạc hậu. Đó đi theo với sự mê tín dị đoan và trình độ dân trí thấp kém. Bởi thế ở những nước dân chủ văn minh phát triển, không hề còn tệ nạn đó nữa, chỉ có những nhân vật lịch sử được công luận ghi nhận hay phê phán một cách khách quan, chính xác các điều hay điều dở về họ mà không thể có sự cuồng tín, u mê, lạc hậu như những nước kém phát triển.

Nhưng nói cho cùng lại, mọi ý nghĩa thủ đoạn hay phương thức chính trị nhất thời về lâu về dài đều vô nghĩa và không còn giá trị. Bởi thế mọi thần tượng trong xã hội cộng sản, đặc biệt thần tượng về các lãnh tụ chính trị đầu tiên, cuối cùng đều chỉ phụ thuộc vào ý nghĩa đúng sai hay các hậu quả mang lại của học thuyết Mác. Tất cả mọi điều này toàn thể lịch sử nhân loại cũng như lịch sử từng đất nước liên quan cũng dần dần khám phá hay phanh phui ra hết, có nghĩa tuổi thọ của các thần tượng kiểu cộng sản thực chất cũng chẳng còn lâu, như trường hợp tượng đài và thần tượng Lênin ở các nước cộng sản trước kia giờ đây đã cho thấy rõ.

Có nghĩa từ sự hiểu lầm của những người cộng sản đầu tiên, đến sau chỉ còn là sự mị dân và coi thường dân vì các mục tiêu chính trị tách rời xa dân, đó là con đường đi của hầu hết mọi thần tượng lãnh tụ trong các chế độ cộng sản. Bởi hễ thần tượng càng lên cao thì nhân dân càng xuống thấp. Cuối cùng người ta chỉ còn biết thần tượng lãnh tụ mà không còn biết nước hay dân là gì nữa. Thần tượng càng thành thần thánh thì nhân dân càng trở thành như đất cục. Tính cách tỉ lệ ngược nhau là như thế.

Cũng có khi thần tượng trở thành như những con bò sữa để mọi kẻ vắt sữa đủ loại cùng nhau vắt sữa, còn toàn xã hội đều trở thành một tập đoàn kiếm cỏ về để nuôi những con bò sữa ấy. Đấy mọi tệ nạn của sự thần thánh hóa cá nhân lãnh tụ ở các nước cộng sản mác xít nói chung đều chỉ giống như thế. Cả đến giới  văn nghệ sĩ đủ loại cũng ưa chơi trò vắt sữa như vậy. Nên chỉ có xã hội kiểu độc tài toàn trị thì mới có hiện tượng đó, còn xã hội tự do dân chủ thật sự thì hoàn toàn không bao giờ có cả.


DẶM NGÀN

(10/6/16)



**


     NÚI NGÀN says:



TỪ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN ĐẾN

VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN NGỤY BIỆN


Học thuyết chủ nghĩa Mác từng tuyên bố nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại nên những lớp người cộng sản đầu tiên đi theo nó thường tỏ ra kiêu ngạo vì nghĩ rằng mình nắm lẽ phải, nắm chân lý, việc làm của mình là tốt, mình là giai cấp tiên phong, tiên tiến nên coi thường hết mọi người khác là lạc hậu, là phản động, là tư sản ích kỷ.

Nhưng chính bản thân Mác cũng mắc bệnh chủ quan, kiêu ngạo hơn ai cả, vì Mác cả tin lý thuyết cộng sản của mình là đúng, giai cấp công nhân tiên phong là đúng, nên Mác chủ trương quan điểm độc tài vô sản tức chuyên chính vô sản. Thật sự Mác chỉ bé cái lầm, vì ông ta mù quáng, mê tín vào biện chứng luận duy tâm Hegel một cách trái quẻ, nên sinh kiêu ngạo cho rằng mình là người chiếm lĩnh chân lý khách quan, chủ trương độc tài bất chấp tự do dân chủ là yêu cầu chân chính của thế giới loài người.

Nhưng bởi do tính cách cao ngạo trong lý thuyết, từ Stalin đến Mao Trạch Đông, đến Pôn Pốt ... đều cao ngạo như thế cả. Điều đó dẫn đến các hậu quả như các cuộc thành trừng của Stalin, các tại tập trung tại Nga thời sau cách mạng, chính sách trăm hoa đua nở hay chính sách cải cách ruộng đất của Mao Trạch Đông v.v... đều cùng trong trạng thái cao ngạo trở thành ngược ngạo đó. Kiểu Krutschev từng lột giày đạp lên bàn tại diễn đàn LHQ cũng là thứ như thế.

Nhưng ngày nay sau khi Liên Xô sụp đổ và tan rã, ai cũng biết quan điểm cao ngạo của cộng sản trước kia đã xẹp xuống rồi, chỉ cón lại một số tép riu nào đó còn bám víu, như trường hợp Vương Nghị trả lời trong cuộc họp báo tại Canada vừa qua là một sự điển hình. Ngày nay nhiều người đã thấy học thuyết Mác là phi khoa hoc, phi thực tế, không giải phóng cho ai cả, trái lại chỉ đưa nhân loại vào chỗ độc tài độc đoán một chiều, vào chỗ chậm phát triển, lạc hậu nhiều mặt, thế thì có gì để cao ngạo nữa.

Cho nên ý nghĩa của con người là nắm được khách quan, chân lý đích thực và tôn trọng lẫn nhau. Nếu chỉ cưỡng đoạt được sự thật giả dối, điều đó cũng chẳng gì giá trị, và sự hiểu lầm về ý nghĩa con người cũng chẳng có gì giá trị. Bởi ý nghĩa của con người là ý thức, tinh thần, quyền làm người, quyền tự do dân chủ mà không phải chỉ được nuôi sống. Trong trại chăn nuôi thì loài vật cũng được nuôi sống mà làm gì có nhân quyền, vật quyền cũng chưa chắc là có. Cho nên sự lạc hậu trong quan điểm của ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã cho mọi người thấy rõ. Nghị tự hào nhà nước Trung Quốc đã nuôi sống, đã phát triển được cả tỳ dân đó đã là nhân quyền rồi.

Đó là bé cái lầm, tại sao không đòi hỏi vừa nuôi sống, vừa sống tốt, vừa hợp nhân quyền mọi mặt mà chỉ nhằm thỏa mãn có nuôi sống thôi. Chính quan điểm cao ngạo cộng sản ngày xưa đã trở thành quan niệm ngụy biện ngày nay của nhiều người cộng sản hiện thời về nhân quyền là như thế. Nói chung từ đầu đến cuối học thuyết Mác không đem lại cho con người điều gì cao quý cả, nó chỉ đem lại sự tầm thường là chỉ biết sống ở trạng thái sinh học mà quên đi hết hay bất chấp mọi ý nghĩa phong phú của con người mà cả nhân loại từ ngàn đời xưa đã có. Đúng là quan điểm duy vật thô lậu thì khó có được quan điểm nhân quyền nhân văn chỉ đơn giản là như vậy.

Đời sống kinh tế tập thể, đời sống xã hội sinh học thuần túy, đời sống kỹ cương trại lính, nói cho cùng đó là các tiêu chí tối hậu mà ngày xưa chủ trương đấu tranh giai cấp của Mác đã từng mơ ước đến như một đáp số của bài toán xã hội cần giải quyết. Mác chưa đủ thông minh hay sự trầm lắng để thấy được rằng mọi gút mắc của xã hội loài người chỉ có thể giải quyết tốt đẹp bằng ý thức đạo đức và tri thức khoa học mà không phải bằng độc tài để nhằm thực hiện đấu tranh giai cấp giả dối theo môt kiểu cách u mê và ảo tưởng.


MÂY NGÀN

(09/6/16)

Reply     


**


PHÂN TÍCH THỰC CHT V T DO VÀ ĐC TÀI


Thời phong kiến quân ch đương nhiên là đc tài. Khi đó sc mnh quân s lt vào tay cá nhân nào thì cá nhân đó làm vua vy thôi. Đó là ý nim mt nước không th hai vua vn ngày xưa rt ph biến. Cũng có triu đi nhiu người cùng thế lc như nhau, cùng kết hp hay cu kết nhau làm vua, đó là mô thc nh du chế, tam đu chế, đa đu chế thay vì nht đu chế thông thường, đó là kiu vua tp th, vua phe nhóm, vua cát c, như nước ta thi vua Lê chúa Trnh. Kiu vua theo phe phái này có khi cũng xy ra trước kia dưới vương quyn La Mã. Thi t nhân bang hay Cách mng văn hóa trước đây  Trung Quc cũng na ná như thế. Nói chung chế đ quyn lc duy nht ch tp trung vào mt cá nhân hay nhóm riêng nào đó, đu gi chung là chế đ đc tài hay chế đ vua quan, dù cá nhân hay tập th, và ngày nay gi chung là chế đ vua cá nhân hay vua tp th.

Thường chế đ vua chúa hay quan quyn hay đi đôi vi mt hc thuyết nào đó v thn quyn, như kiu thn quyn tôn giáo Châu Âu thi trung c, hay kiu thn quyn mnh tri, vua thay tri tr dân, như trong thi xa xưa ca ta và Trung Quc. Trong thi cn đi hc thuyết mác xít cũng theo quan đim thn quyn nhưng trong dng cách tân cũng như thế. Mác tuy là người duy vt, không tin có tri đt, thánh thn gì, nhưng mê tín vào thuyết bin chng lun duy tâm ca Hegel mt cách trái khoáy, cũng ch trương đc tài hay chuyên chính vô sn, biến giai cp vô sn thành giai cp vua mi, tuy rng trong thc tế h không bao gi có được điu đó. Nên vua không phi là th quyn lc lý thuyết nào hết, ch là th quyn lc thc tế thế thôi, ai nm quyn được mà khng chế được mi người khác phi thn phc thì được quyn làm vua ch là s t nhiên. Vua thì đi đôi vi quan đim đc tài, cho mình là nht, hay làm b đóng kch như mình là nht, bng mi cách tuyên truyn đ người khác tin là như vy.

Thời Min Nam cũ, ông Ngô ĐÌnh Dim đ đương đu li chế đ đc tài Min Bc, cũng tm thi, chơi chế đ đc tài cá nhân kiu như Lý Tha Vãng, Lý Quang Diu, Tưởng Kinh Quc, Sukarno thi đó đ chng li ch nghĩa cng sn, nhưng các người khác thành công còn ông Dim tht bi vì hoàn cnh mi nơi mt khác. Min Nam có các yếu t khunh t do Min Bc đưa vào, có phong trào Pht giáo thân Cng mt thi ca Thích Trí Quang tung hoành  Huế mà các nước khác không có. Chính s tht bi ca ông Dim là như vy. Nhưng M là đng minh khi y ca Min Nam, thy ông Dim tht bi trong quan đim đc tài, bèn âm mưu đo chánh lt ông Dim, cui cùng ông Dương Văn Minh là người Pht giáo được đc li và mi vic đã thành ngã ngũ. M mt c chì ln chài cũng ging như Min Nam vào nm 1975 là như thế.

Nhưng thôi chuyn cũ qua ri thì không tính. Vn đngay nay Việt Nam nên đi theo con đường dân ch hay đc tài khi đt nước đã hòa bình và thng nht, đó mi phi là điu cn tính. Bi vì đc tài thc cht ch có li cho cá nhân hay thiu s mà không có li cho đi cc hay s đông. Ông Dim đnh chơi trò ly đc tr đc tưởng là hay nhưng cui cùng hóa d. Nhưng đc tài cá nhân hay giai đon dù sao cũng ch là đc tài tm thi, còn chính đc tài đng tr hay đc tài ý h mi là kiu đc tài không li thoát và mút mùa l thy. Lý do vì cái đơn l không bao giờ to nên cơ chế còn c h thng thì luôn to nên cơ chế, khiến tr nên quán tính chng khác gì cái mũ ca T Thiên thì đ có con kh nào mà thoát ra được. Nên ông Mác ch cn mt ln đưa ra lý thuyết v vn thì sut đi xã hi phi ly vào ông, đó chính là cái hay của ông Mác mà cũng là cái ti đ ca ông ta. Bi trong xã hi đc tài kiu ông ta đt ra, đâu có khác gì đám gà b mc tóc, đâu có con nào mà bương ra riêng r được.   

Cho nên đối vi loài người, cơ chế xã hi là cái quan trng nht. Trong xã hội t do dân ch không th to nên s đc đoán vì có quyn bu cng c t do và ba quyn phân lp đ chế ng và kim soát ln nhau. Trong chế đ đc tài nói chung đu không có các quyn như thế. Đc tài quân ch phong kiến, đc tài phát xít quc xã, độc tài cng sn mác xít đu không ngoài tính cách như thế. Nó chng khác gì vt cây ct chum vi nhau làm sao mà ln lên được, by chim ct chùm vi nhau làm sao mà bay lên được, cũng vy loài người mà dính chùm vi nhau làm sao mà đc lp t do đ nhằm phát huy được. Cho dù quy lut vt lý, quy lut sinh hc, quy lut tâm lý cũng ch như thế thôi. Các Mác thc s là nhà triết hc đt nát nht trong chính lch s nhân loi là như thế. Ngày nay rõ ràng nó chng giúp ích kết qu mt nào cho loài người mà thực cht nó ch gây tai hi nhiu mt. Bi vì trong xã hi đc tài mác xít, mi cái tinh hoa trong xã hi đu biến mt đ nhường ch cho mi cái kém tinh hoa cai qun và phát trin, thế thì th hi còn gì gii phóng hay vươn lên cách t nhiên khách quan n trong mi chế đ t do dân ch đúng đn, đàng hoàng được.

Nên vấn đ ngày nay nếu Vit Nam vn còn bám hoài theo hc thuyết ch nghĩa Mác v phương din nào đó thì trách ai bây gi. Trách nhng người đã thc hin ch nghĩa Mác, trách nhng người còn theo đuổi ch nghĩa Mác, hay trách toàn đt nước, toàn dân ch có th đng v ch nghĩa Mác ? Có l trách c ba thì đúng hơn. Bi vì nếu không có đu không có đuôi ln chng có c khúc gia thì còn có cái gì được na ? Nhưng nếu ngày nay thc cht đã b chủ nghĩa Mác lạc hu phi lý đ tiến vào kinh tế th trường, tiến vào hi nhp toàn cu ri, thì th hi đc tài làm chi, vì con th thì có cn gì c gi mãi chiếc mai ca con rùa ? Đó là điu chng ai lý gii ngày hôm nay, c tp th cm quyn cũng như toàn dân cũng vậy. Đó phi chăng ch là do tính ù tr ca bn cht con người hay dân tc Vit Nam, tc là tính th đng, tính quán tính, tính thiếu năng đng, tính y m, tính, tính vô trách nhim và tính phi đ kháng mà rt it các dân tc nào trong lch s cũng như trong thế gii cn và hin đi có được như thế.


MAI NGÀN

(09/6/16)


**


ĐẠI NGÀN says:



MỘT THÓI XẤU CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC TỪ BỎ

Ở CÁC NƯỚC CỘNG SẢN


Thói xấu đó là tôn thờ vô nguyên tắc về lãnh tụ, đặc biệt lãnh tụ sáng lập ra chế độ cộng sản. Nói vô nguyên tắc vì nó giả tạo, già đò, chưa chắc là thực chất. Bởi vì ai cũng hiểu lịch sử chỉ phê phán, nhận thức đúng khi nào sự kiện lịch sử nào đó đã qua lâu. Ngược lại mọi sự kiện lịch sử còn gắn liền với quyền bính của nó trong hiện tại, điều đó chưa chắc khách quan mà thực chất phần lớn đều chỉ giả tạo.

Như thế bất kỳ nhân vật lịch sử nào đã qua xong thời đại của mình, sẽ thuộc khách quan phê phán và lịch sử sau này kết luận, không thể nào quá khứ cứ mãi vượt thời gian qua hiện tại rồi cũng mút mùa đến tương lai chưa biết khi nào mới chấm hết. Đó chỉ là điều khác thường và bất cứ những người nào tham gia vào điều bất thường cũng chứng tỏ họ cũng đều bất thường, tức không còn ý nghĩa hay giá trị bình thường nào cả.

Ngay như nước Mỹ là nước tự mình lập quốc, thế nhưng người lãnh tụ lập quốc đầu tiên của họ là G. Washington ngày nay cũng chỉ để lại những tượng đài do các thế hệ sau dựng lên, được ghi vào sử sách hay chương trình giảng dạy cho học sinh một cách khách quan như sự kiện lịch sử quan trọng, không hề có thói quen suy tôn, thần thánh hóa, mê muội hóa toàn dân của họ. Nên ví thử như ông Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản, không đi theo cộng sản, vậy có thể nào có hiện tượng đó không ?

Tất nhiên là không. Bởi bất kỳ nước cộng sản nào cũng có thói quen như thế. Đó là thói quen tuyên truyền, thần thánh hóa nhằm lôi kéo nhiều người khi các lãnh tụ đó chưa lên cầm quyền. Khi họ đã lên cầm quyền rồi, sự thần thánh hóa vẫn tiếp tục để giữ giềng mối cho chế độ độc tài. Cuối cùng, khi lãnh tụ đã chết rồi, vẫn cứ được thần thánh hóa để cố giữ cho các thế hệ sau phải luôn tuân phục hay thúc thủ như thế. Trường hợp điển hình nhất tới nay là các lãnh tụ Bắc Hằn, cho dầu thật ra mọi lãnh tụ cộng sản trong quá khứ thực chất ban đầu cũng chỉ là những cán bộ cộng sản được đào tạo bình thường từ Mạc tư khoa thời Lênin trở đi mà chẳng có gì ghê gớm hay thần thánh khác thường cả.

Nhưng thật sự càng đề cao lãnh tụ bao nhiều, có nghĩa là càng xem thường con người, xem thường dân tộc, xem thường đất nước bấy nhiêu. Bởi như vậy là đặt tất cả vế sau phải gục đầu, phủ phục trước vế trước, còn làm sao khiến con người có độc lập tự do, cũng như xã hội được phát triển và tiến lên theo triển vọng của mình, làm sao đất nước được nở mày nở mặt như là một quốc gia, một dân tộc hoàn toàn độc lập, tự do và tự chủ.

Như thế cũng có nghĩa mọi người cộng sản chỉ là nạn nhân của học thuyết chuyên chính của Mác. Bởi một khi đã chuyên chính rồi không bất cứ một ai thoát ra được kể cả những lãnh đạo cộng sản cao nhất về sau. Đó là kiểu xếp hàng dọc đi lên, không ai có thể ra khỏi hàng hay hay ngững đầu cao hơn tấm đanh quyền lực ý hệ thường xuyên vẫn có trên đầu của họ, quan cũng vậy mà dân cũng vậy. Quan thì chịu phép của hệ thống quan trên, còn dân thì chịu phép của hệ thống quan dưới. Đó là cái từng một thời người ta gọi là sự lãnh đạo toàn diện.

Đó cũng là thứ được gọi là dân chủ tập thể, lãnh đạo tập thể, dân chủ cả triệu lần, dân chủ nhân dân v.v... mà thực chất nó cũng đều chỉ một như thế. Đó chẳng qua vì lúc đầu học thuyết Mác đã thần bí hóa giai cấp vô sản. Nhưng thực chất nó chỉ là phản khoa học, vì con người ai cũng bình đẳng như nhau lúc ban đầu, chỉ khác nhau về sau do hoàn cảnh, do tài năng, do học vấn hiểu biết. Và xã hội luôn phải cần những thành phần tinh hoa lèo lái, không phải cần giai cấp vô sản kiểu thần bí lãnh đạo như quan điểm mê tín, ngu dốt của Mác đưa ra vào thời kỳ thế hệ của ông ta.

Nhưng giai cấp vô sản thực chất chỉ là thứ bung xung ban dầu, về sau trong thực tế họ cũng chẳng cầm quyền hay lãnh đạo gì cả mà đó chỉ là những người nhân danh họ, lợi dụng họ. Trường hợp nhà nước Liên Xô trước đây hay nhà nước Trung Quốc cho tới nay cũng y như thế. Nhưng chính những người lợi dụng họ phải thổi phồng lãnh tụ lên nhiều mặt để làm mê muội họ nhằm tạo nên một sức mạnh quần chúng mù quáng để các tầng lớp trên dễ bề thống trị.

Nên kết luận lại, mọi thói quen tâng bốc, thành thánh hóa lãnh tụ trong mọi nước cộng sản từ xưa nay thực chất đều thảy giả tạo, kiểu như chút cái bong bóng cao su nhỏ xíu ban đầu được thổi phồng lên to tướng. Đó là một thói quen giả dối, phi lý và thậm chí vô nhân bởi vì hi sinh bao quyền lợi chính đáng của mọi người nhằm cho hư danh ảo của chỉ một người, đó là lãnh tụ cộng sản. Mà đã có tâm lý như thế thì còn nói gì đến tình cảm yêu nước, yêu dân, yêu con người hay yêu xã hội thật lòng được nữa. Ấy chẳng qua cũng chỉ hùa theo để sống sao có lợi cho bản thân thế thôi. Đó là ý nghĩa tại sao lịch sử khách quan không trả về cho lịch sử khách quan là như vậy.


NON NGÀN

(09/6/16)



**


NGÀN KHƠI says:



CHIẾN TRANH VÀ LỊCH SỬ


Lịch sử là sự diễn biến chung của xã hội đã lui về quá khứ nên trong lịch sử có lịch sử của thời bình và lịch sử của thời chiến. Tất nhiên lịch sử của thời bình ít người lưu ý tới, nhưng lịch sử của thời chiến thường được ghi đầy đủ và đậm nét nhất. Đó là ý nghĩa chung của thói quen  những người viết sử mặc dầu chưa phải hợp lý, và mọi nơi trên thế giới từ hồi xa xưa đến nay vẫn thế.

Bởi vì chiến tranh hay sự đối kháng giữa hai bên nào đó, không chỉ trên bình diện đất nước, dân tộc, mà cả trên bình diện dòng tộc, phe phái hoặc cá nhân cũng đều vậy. Người Việt có câu được là vua thua là giặc, câu nói rất hay, vì nó chỉ mang tính khách quan mà không nhằm nói xấu hay bôi bác bên nào cả. Bởi chính kẻ chiến thắng mới tiếp tục ý nghĩa lịch sử về phần mình, cho dù hay hoặc dở, tốt hoặc xấu, điều đó không phải hiện tại mà chỉ tương lai mới phán xét chung về nó.

Đặc biệt, mỗi thời đại ý nghĩa của chiến tranh cũng lại khác nhau. Thời cổ đại xa xưa chiến tranh chỉ vì mộng tranh bá đồ vương riêng, thời cận đại chiến tranh là do nhu cầu kinh tế của đất nước, còn trong thời hiện đại vừa qua trong thế kỷ trước, chiến tranh còn mang màu sắc ý thức hệ kiểu ông nói gà bà nói vịt, sãi bảo sãi hay vãi bảo vãi đúng, nhưng chỉ khi ngã ngủ kết cục rồi mới thấy ai là hay hoặc ai là đúng.

Như vậy chiến tranh và lịch sử là điều không thể không đề cập, vì nó liên quan đến mọi người và toàn xã hội nói chung. Nhưng chiến tranh thực chất cũng chỉ là hiện tượng bên ngoài, chính cái bên trong là ý nghĩa của nó, mục đích của nó, thực chất của nó về mọi mặt, đó mới là điều quyết định nhất. Thế cho nên không phải thái độ ham chiến hay phản chiến nào đó mới là đúng mà thực chất chính thái độ nào đó với chiến tranh có nhận thức sáng suốt và tự chủ mới là đúng.

Bởi vì trong chiến tranh luôn có sự hùa theo, sự kéo theo, sự ăn theo, sự bắt buộc theo, nó như một hiện tượng xã hội, hiện tượng nhân loại, và chỉ sau khi nó qua rồi người ta mới có thể thực tình đánh giá nó được. Nên nói cho cùng lại chính con đường hòa bình, con đường văn hóa mới là ý nghĩa phát triển của lịch sử xã hội mà không phải chiến tranh. Những học thuyết về bạo lực, kể cả bạo lực cách mạng đều cho thấy là hoàn toàn sai trong quá khứ. Bởi vì từ ngữ cách mạng bị lợi dụng, bị lạm dụng theo cách sai trái, phi đạo lý, phi khoa học, thì thử hỏi ý nghĩa của bạo lực làm sao biện minh hay chính đáng được đối với mọi điều từng xảy ra trong nó.

Nên nói chung lại, lịch sử cuối cùng chỉ là ý nghĩa và kết quả của nó, tức qua các giai đoạn, sự kiện của nó, mà không phải mọi hiện tượng bề ngoài của nó. Chiến tranh thực chất chỉ là hiện tượng bề ngoài. Đi ca ngợi, tâng bốc, kể công một hiện tượng bề ngoài đó luôn chỉ là lời nói điêu không thành thật, không chính đáng. Bởi thế mọi thái độ thần thành hóa chiến tranh, tôn thờ chiến tranh, thần thánh hóa, tôn thờ các tác nhân chiến tranh đều chỉ là các thái độ của quần chúng xu phụ, không phải thái độ của người hiểu biết đúng đắn. Bởi mọi bà học của lịch sử người ta chỉ có thể rút ra được trong tương lai mà không bao giờ rút ra được trong hiện tại.


NON NGÀN

(09/6/16)



**





Ý NGHĨA VÀ TƯ CÁCH TRÍ THỨC


Cái hơn của người trí thức là hiểu biết hơn và sáng suốt hơn người kém trí thức một bậc. Muốn được như thế cần phải có học, tức có tri thức và có tư duy tự chủ, độc lập. Hiểu biết và tư duy độc lập rốt lại là ý nghĩa đặc trưng của người trí thức. Hiểu biết vừa có nghĩa có kiến thức, lại vừa có khả năng vận dụng tốt các kiến thức mà mình có.

Do đó thời sinh viên chưa thể ai được gọi là trí thức, bởi vì khi đó kiến thức đều chưa đầy đủ và nhận thức còn chưa trưởng thành. Đó là lý do khi thời sinh viên tham gia phong trào nọ phong trào kia chưa hẳn là điều gì công trạng chung hay hãnh diện cả. Sinh viên đi với các phong trào nhất thời trên toàn thế giới ở đâu cũng có cả. Đặc biệt phong trào sinh viên khuynh tả trước kia cuối cùng rồi cũng chẳng còn lại ý nghĩa gì ngoài một số được áo mũ xênh xang, địa vị trên trước nhờ được ban thưởng hay có công năng sử dụng. Những người như thế thì còn gì có tư duy độc lập mà chỉ suy nghĩ theo chiều, theo lệnh.

Nên trí thức nói cho cùng lại, là người có hiểu biết và tư duy của riêng mình. Chính sự độc lập trong nhận thức và sự độc lập trong suy xét, đó mới là ý nghĩa hay giá trị cao nhất của người trí thức. Tức người trí thức sẳn sàng hợp tác với người khác vì lợi ích chung, không thể theo đuôi, theo lệnh của người khác vì lợi ích riêng hay vì thiếu quan điểm độc lập của mình. Trí thức được đào tạo từ đầu tới cuối theo một vết mòn đã có, theo mục đích đã có của người khác, đó thực chất đều không phải là trí thức đúng nghĩa hay chân chính.

Bởi nếu trí thức chân chính phải thấy rằng chiến tranh chỉ là việc bất đắc dĩ nào đó trong xã hội loài người. Bởi vậy chống chiến tranh là đúng nhưng không phải phản chiến mọi loại là đúng hay phản chiến kiểu có lợi cho riêng ta là đúng. Đó là chưa nói khi chiến tranh đã qua lâu rồi mà ý thức còn hận chiến tranh, cho dù thực tâm hay giả tạo, đóng kịch, đều không phải là thái độ trí thức đúng nghĩa.

Vả chăng khi chiến tranh xảy ra ở hai nước, công dân nước nào cũng phải làm nhiệm vụ của nước mình trong thời chiến. Cái đó là bắt buộc chẳng có gì đáng nói. Chính việc trốn quân dịch, hay a tòng vào cái gì đó vốn không phải là nghĩa vụ đối với đất nước mà tự mình hiểu ra được, đó mới là đáng khinh hay đáng tội. Như vậy nếu trường hợp ông Bob Kerry, từng là một quân nhân Mỹ thời trẻ, nay ông đã lớn tuổi rồi, đã có nhiều đóng góp cho văn hóa giáo dục, có nhiều hiểu biết về văn hóa và giáo dục trội hơn nhiều người khác để tham gia vào ban quản trị điều hành Đại học Fulbright Mỹ tại Việt Nam thì có gì để người trí thức Việt Nam phải câu mâu hoặc phản đối ?


PHƯƠNG NGÀN

(09/6/16)



**


NÓI VỀ NGUYÊN LÝ KHOA HỌC

VÀ NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC


Nhân đọc lại các bài viết "Cạnh tranh sinh tồn" của cố giáo sư Trần Văn Toàn, bài "Tìm hiểu xã hội học" của GS Lâm Ngọc Huỳnh, bài "Sứ bộ Việt Nam Trần Viết Xương sang Pháp 1840" của ông Nguyễn Toại, được đăng trên Tạp Chí Đại Học Huế những năm 1950, tức cách đây trên nửa thế kỷ, vừa rồi được ông Nguyễn Văn Lục cho số hóa và đưa lên báo điện tử DCV online, tôi muốn có bài phóng bút ngắn, chớp nhoáng này, coi như một điểm xuyết thêm với các ý tưởng của những bậc tiền bối.

Thật vậy mọi sự tìm tòi, hiểu biết, nghiên cứu của con người về mọi mặt đều không ra ngoài hai khu vực nền tảng là khoa học và triết học, đó mới là điều đáng nói nhất. Nhưng cả khoa học và triết học đều đặt cơ sở trên lý trí và tư duy con người, đó là tiêu chuẩn chung nhất, và đó cũng là điều ý nghĩa nhất. Có điều đối tượng của khoa học là mọi cái cụ thể, còn đối tượng của triết học là mọi cái trừu tượng. Như thế cũng có thể nói khoa học và triết học luôn không khác nhau, nhưng triết học chính là thượng tầng kiến trúc còn khoa học là hạ tầng cơ sở, tức cả hai không hề triệt tiêu nhau mà hỗ trợ hay đòi hỏi nhau để có trong những ý nghĩa nào đó. Nói khác đi, không gian của khoa học là không gian phẳng, tức không gian bề mặt, còn không gian của triết học là không gian chiều sâu, tức không gian nhiều chiều. Vì khoa học bao giờ cũng chỉ bắt buộc dừng lại ở cấu trúc cụ thể, còn triết học thì phải đi tới tận kỳ cùng nhằm lý giải ý nghĩa bên trong.

Thế nhưng nguyên tắc của cả hai là nguyên tắc tư duy lô-gích, có nghĩa nguyên lý lô-gích hay hữu lý hoặc thuần lý của vấn đề chính là điều bó buộc mà cả hai không thể nào tách rời được. Như thế cũng hiểu được không gian cụ thể là vô cùng, nhưng có đi đâu cũng chỉ gặp có cái cụ thể. Trong khi đó không gian chiều sâu cũng là cái vô cùng, và có đi tới đâu cũng không bao giờ cùng tận.

Nói như thế cũng để thấy rằng triết lý tư biện thuần túy cũng chỉ là triết lý nghèo nàn nhất, và nhà triết học danh tiếng Hegel là trường hợp như thế. Hegel nổi tiếng không phải do cái gì ông ta tìm thấy mà là do chính cái gì ông ta suy nghĩ trong đầu óc của ông ta. Cũng tương tự như thế, nếu triết học mà chỉ mượn thực tiển hay khoa học một cách thô thiển, thiếu căn cơ, triết học đó cũng chỉ chỉ vớ vẩn hay cạn hẹp, đó là trường hợp của Mác. Cho nên từ Hegel tới Mác chỉ là từ cái cực đoan này tới cái cực đoan khác, và cái gọi là biện chứng luận chẳng qua cũng chỉ là lối nói suông, thậm chí vô nghĩa và dư thừa về mặt khoa học cụ thể cũng như về mặt triết học chiều sâu.

Chuyển qua khoa học xã hội hay xã hội học, thực ra cơ bản đây vẫn là khoa học về con người hay nhân học. Vì xã hội cũng chỉ là tổ hợp mọi vận động của từng cá nhân con người. Nhưng nơi con người ý nghĩa quan trọng nhất là ý nghĩa ý thức, tâm lý, không phải ý nghĩa sinh học như mọi loài sinh vật khác. Có nghĩa xã hội học con người không phải kiểu xã hội học sinh vật, cũng không phải khoa tổ hợp yếu tố thể lý nơi mọi cá nhân. Nhưng tâm lý ý thức con người lại là cái gì trừu tượng, bởi vậy xã hội học nhân văn vừa có nền tảng triết học lại vừa có cơ sở khoa học thực nghiệm. Nhưng cái sau lại nặng hơn cái trước, đó mới là ý nghĩa thực chất của khoa xã hội học. Cho nên cũng có thể nói khoa kinh tế học, khoa chính trị học, khoa lịch sử học, thực chất cũng chỉ là những khía cạnh, những bộ phận riêng của khoa xã hội học thế thôi.

Bây giờ chuyển sang lịch sử học. Phái bộ Trần Viết Xương của triều Nguyễn ta sang Pháp vào giữa thế kỷ 19 đó là vấn đề sử học. Nó nhằm giải quyết mối căng thẳng của Việt Nam với tác động của phương Tây đang xảy ra lúc đó, mà cụ thể là vấn đề thực dân và vấn đề truyền đạo. Khi đó người ta biết rõ các thủ đoạn của thực dân Anh đối với các nước thuộc địa như thế nào, và chính sách của nước Pháp cũng không đi ra ngoài ý nghĩa đó. Tuy thế ý nghĩa truyền đạo chỉ là ý nghĩa riêng, còn ý nghĩa thực dân cũng là ý nghĩa riêng, nó có thể gắn với nhau về mặt nào đó, hay gắn với chính trị chính quốc về mặt nào đó, nhưng tuyệt đối không thể nhập nhằng hay úp bộ cả ba vào một. Có nghĩa vấn đề chính trị quốc tế của châu Âu thời đó, vấn đề truyền bá tôn giáo mà cụ thể là tôn giáo độc thần Thiên chúa giáo cũng là bối cảnh chung thời ấy mà các nước  Á đông phải hứng chịu. Tôn giáo là về mặt triết học, còn thực dân là ý nghĩa kinh tế. Nhưng chính sự vụng về, lạc hậu về mọi tầm nhìn và hiểu biết của triều Nguyễn lúc đó đối với thời cuộc đương thời mới là ý nghĩa đáng nói nhất. Triều Nguyễn đã cấm đạo một cách hẹp hòi, đã thúc thủ trước yêu cầu bành trướng hay xâm lược của thực dân chính là yếu tố thất bại về ngoại giao và chính trị quân sự để tạo ra sự mất nước.

Thế nên chính trị thực chất phải đòi hỏi như một chính trị khoa học, cụ thể, khách quan, sáng suốt, không thể chính trị kiểu ý thức hệ mù mờ vu vơ như chính trị phong kiến kiểu Khổng giáo ngày xưa và ngày nay là chính trị kiểu ý hệ mác xít cộng sản. Bởi ý thức hệ hay hệ thống tư tưởng chẳng phải dó khoa học khách quan tạo nên, cũng chẳng phải mặc khải huyền bí từ trời rơi xuống. Nên cá nhân đưa ra một hệ thống tư duy thì làm sao không thiếu sót, không gắn vào hoàn cảnh lịch sử mỗi lúc. Cho dù Khổng từ hay Các mác cũng thế. Nhưng cái ít tệ hại của Khổng tử là một triết học nhân văn, lấy đạo nhân làm nền tảng, lấy đạo đức làm khuyến thiện. Trong khi đó tư tưởng của Mác lấy duy vật làm nền móng, lấy đấu tranh giai cấp làm tiêu chí, và lấy bạo lực, cưỡng chế làm công cụ. Đã thê nó lại nhân danh khoa học nên khiến một bộ phận lớn trong nhân loại đã từng nhầm lẫn. Nên cái tệ hại nữa của nó là tuyên truyền, mà tuyên truyền là nói sai sự thật một cách sai trái. Ngược lại tuy thời đại của Khổng tử là phong kiến, ông không có gì về tư duy khoa học để nhân danh cả, nhưng ông chỉ nhân danh luân lý đạo đức, nhất là ông đề cao tính chân chính, chân thực cả cá nhân con người và xã hội, đó là điều nổi bật và ưu việt nhất của Khổng tử so với Mác. Bởi Khổng tử luôn luôn nêu cao thuyết chính danh, trong khi Mác chỉ bám vào quan điểm vô sản và quan điểm đấu tranh giai cấp bằng bạo lực. Đó là lý do qua hàng ngàn năm học thuyết Nho giáo của Khổng tử được áp dụng khắp hầu Á đông, vẫn không có hệ lụy nào thật sự khủng khiếp, và nó vẫn lan tỏa trong xã hội với nhiều cảm tình. Ngược lại học thuyết Mác mới chỉ được áp dụng non một thế kỷ đã mang đến quá nhiều hệ lụy và thất bại, làm vong thân cá nhân và xã hội quá nhiều mặt không thể nói hết. Bởi vì nó không phải là học thuyết triết học chiều sâu, chính danh và xứng đáng, cũng chỉ là một học thuyết khoa học nông cạn, phi thực tế và nửa mùa. Đấy đó là ý nghĩa khác nhau của sự có hay không có nguyên lý khoa học và triết học đúng đắn cũng như sự vô cùng cần thiết các nguyên lý khoa học và triết học đúng đắn đều luôn luôn như vậy.


THƯỢNG NGÀN
(08/6/16)


**


MỸ, TRUNG QUỐC, VIỆT NAM NGÀY NAY

VÀ TRONG TƯƠNG LAI

Ngày nay thế giới chia làm nhiều nhóm chính : nhóm Bắc Mỹ, nhóm Cộng đồng chung châu Âu, nhóm các nước Asean, nhóm các nước Ả Rập Hồi giáo, nhóm các nước Phi châu, nhóm Nga Trung Quốc, nhóm các nước Á châu, nhóm các nước cộng sản cũ còn lại. Việt Nam ngày nay thực chất vừa thuộc nhóm các nước cộng sản cũ còn lại vừa thuộc nhóm các nước Asean. Nhóm Asean có nghĩa là nhóm các nước đang phát triển, nhóm các nước cộng sản còn lại có nghĩa còn lâu dài chịu hậu quả kinh tế xã hội chính trị để lại trong quá khứ về nhiều mặt tinh thần cũng như vật chất ngheo nàn, lạc hậu, nhất là thói quen về cơ chế tổ chức xã hội kiểu quán tính khó thể nào sớm thoát ra được.

Khi thế giới chiến tranh lần thứ nhất rồi lần thứ hai nổ ra, nguyên nhân chủ yếu là do nước Đức khi ấy xé rào đối với trật tự chung của châu Âu, lần đầu với tham vọng đế quốc, lần sau với tham vọng chủ nghĩa quốc xã, khiến cả châu Âu phải rơi vào cuộc chiến tàn khốc, cả hai lần nước Mỹ phải đều nhảy vô để ổn định lại thế giới, châu Âu lại được yên bình phát triển, ngày nay trở thành cộng đồng chung châu Âu, là mô hình thành công phát triển thống nhất trong hòa bình mà toàn thể các quốc gia châu Âu đều được hưởng. Cộng đồng châu Âu trở thành một khối quốc gia đồng minh với Mỹ, bình đẳng với Mỹ cho đến ngày nay, cả hai cùng phát triển có lợi.

Cũng thế, khi cuộc cách mạng bôn sê vích nổ ra ở Nga năm 1917, nước Nga đi theo chủ nghĩa cộng sản, điều đó sau thế chiến thứ hai dẫn đến nhiều cuộc chiến tranh nóng và lạnh ở một số nước trong khối cộng sản than Liên Xô và khối tư bản than Mỹ. Cuối cùng chiến tranh lạnh chấm dứt khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Liên Xô tan rã, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới cáo chung, chỉ còn một số nước vẫn kiên trì đường cũ là Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam, cả thảy chỉ bốn nước. Thế nhưng trong bốn nước này chỉ có Triều Tiên là nước không giống ai, trong khi Trung Quốc và Việt Nam đều hướng theo đổi mới, tức từ bỏ chủ nghĩa cộng sản it ra là mặt hình thức để quay về thực tế kinh tế thị trường, riêng Cuba rang kỳ cượng rồi nay cũng phải đi theo nốt.

Như vậy rõ ràng nói về chính trị thế giới thì mọi nước bình thường, mọi nước tự do dân chủ khó thể nào đánh nhau, khuynh loát nhau, trừ khi các nước rơi vào chỗ độc tài như phát xít, quốc xã, hay các nước cộng sản cũ mới thường đánh nhau để giành quyền lợi và địa vị lãnh đạo, đó là chuyển hiển nhiên bình thường mà ai cũng có thể thấy được qua lịch sử quá khứ. Chẳng hạn như trong thế kỷ trước, sự đánh nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Trung Quốc và Việt Nam, giữa Việt Nam và Khmer đỏ là điều hết sức rõ ràng không ai có thể phủ nhận. Bởi vì trong các chế độ độc tài, quyền hành chỉ tập trung vào tay thiểu số, thiểu số đó dù là bè nhóm dù là cá nhân vẫn hướng đến cái lợi cụ bộ, cái lợi riêng tư là chính, như vậy chiến tranh thôn tính nhau là điều khó thể nào tránh khỏi cho dù ngôn ngữ tuyên truyền như thế nào để cuối cùng phải có một kẻ làm vua chung.

Thế nhưng ngày nay hoàn cảnh Trung Quốc và Việt Nam không còn giống hoàn toàn như ngày xưa nữa. Mỹ vẫn là nước còn đó và nước đủ sức mạnh duy nhất để can thiệp vào mọi sự xung đột các nơi, đó vừa quyền lợi của Mỹ cúng vừa quyền lợi chung cho toàn thế giới. Vì Mỹ là nước tư bản tự do, luôn muốn tìm kiếm lợi nhuận trong hòa bình. Những luận điệu như xa xưa như Mỹ là nước đế quốc, Mỹ là nước mong chiến tranh để bán vũ khí, chỉ là những luận điệu rẻ tiền của những kẻ hung thần chính trị và đám quyền chúng dốt nát cả tin bị tuyên truyền lừa bịp mà loại các kẻ khuynh tả ở miền Nam trước năm 1975 luôn không thiếu, thậm chí còn bêu rếu ngu xuẩn Mỹ là nước thực dân mới. Bởi thế mọi sự xoay trục của Mỹ từ xa xưa vẫn đều cho thấy Mỹ bao giờ cũng thế, chẳng khi nào có tham vọng đế quốc theo kiểu tuyên truyền rẻ tiền, dối gạt gì cả.

Ngược lại Trung Quốc tuy danh nghĩa là nước đồng chí anh em với Việt Nam, Trung Quốc lại cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, nay lại đang tôn tạo và lập căn cứ quân sự trên phần đảo Trường Sa của Việt Nam, có nghĩa học thuyết cộng sản luôn không tin được và những tập đoàn lãnh đạo các nước cộng sản từ trược nay luôn không tin được. Bởi chủ nghĩa đó không có thực chất mà chỉ là những ngôn ngữ tuyên truyền để nhân danh các quyền lợi chung cho các mục đích riêng nào đó vậy thôi. Nói như thế cũng để phân biệt dân tộc, đất nước, xã hội như một thực thể tự nhiên và ý thức hệ, chủ nghĩa, cơ chế chế độ chính trị vẫn chỉ cái bề nổi bên ngoài, nhiều khi chỉ là cái bề nổi giả tạo, giả dối và áp đặt sai trái. Vậy nên nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc, đất nước Việt Nam, đất nước Trung Quốc thực ra chẳng có điều gì để phải sợ nhau. Nhưng cái sợ nhất là tập đoàn độc tài lãnh đạo hay cầm quyền tại các nước đó.

Nên ngày nay Việt Nam có sợ Trung Quốc chính là sợ ban lãnh đạo độc quyền hay độc đoán độc tài tại Trung Quốc. Đó là điều tại sao Việt Nam cần sợ Trung Quốc mà không cần sợ Mỹ hiện nay. Bởi cơ chế đất nước Mỹ là cơ chế tự do dân chủ đúng nghĩa, không bất kỳ người lãnh đạo Mỹ là có toàn quyền tự tung tự tác mà không được sự chấp nhân của toàn dân nếu họ thấy hoàn toàn phi lý. Điều này khó có thể áp dụng được với Trung Quốc, vì guồng máy chuyên chính bạo lực và guồng máy tuyên truyền là hai yếu tố khống chế nhân dân khiến toàn dân của họ đều phải chịu phép. Nên nói cho cùng, chừng nào nước Trung Quốc còn trong chế độ độc tài độc đảng, Việt Nam coi như vĩnh viễn mất Hoàng Sa, Trường Sa và biết đâu còn mất nhiều thứ khác nữa. Vì ngày xưa quân chủ phương Bắc nguy hiểm như thế nào thì ngày nay cộng sản phương Bắc cũng không thể tốt hơn là mấy.

Đó là một sự thật, chẳng cần gì phải nghiên cứu chuyên sâu mới có thể khẳng định được. Nên nói chung lại, trong thế giới hiện đại ngày nay chính thể chế chính trị là điều quan trọng nhất để giữa hòa bình và giềng mối hữu lý của mọi quốc gia. Đó là ý nghĩa thực tế, vì ngày nay con đường hòa hợp và thống nhất chung của nhân loại chỉ có thể là con đường tự do dân chủ, văn mnh khoa học, con đường đạo lý, con đường phát triển kinh tế xã hội hoàn toàn tự nhiên, không phải phải là kiểu ý thức hệ ngu ngốc hay kiểu chuyên chính độc tài một cách hoang dã nữa.


NON NGÀN

(08/6/16)


**


CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ÍT VÀ CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ĐÔNG


Trong mọi trường hợp bình thường số it bao giờ cũng thất thế hơn số đông. Bởi ai cũng biết nguyên tắc kẹt đường và nguyên tắc lấy thịt đè người. Số đông đó là số đông vật chất, số đông sinh học, sức mạnh của nó là sức mạnh thể xác, sức mạnh sinh học thé thôi. Đó là kiểu thuở trời đất nổi cơn gió bụi. Đương bão bùng thì ai cũng phải tránh, it người có khí phách đứng đầu sóng ngọn gió để làm việc nghĩa. Số đông mù quáng cũng chẳng khác sức mạnh của một cơn bão là như thế. Mọi chế độ độc tài đều chuyên dùng số đông để trấn át số it sau khi đã truyên truyền vận động thành công theo hướng nào đó để nắm trong tay được số đông. Thời kỳ chiến tranh, thời kỳ tao loan, đó chính là miếng đất màu mỡ của mọi chế độ độc tài. Quân chủ cũng như cộng sản đều như thế. Tần Thỉ Hoàng hay Mao Trạch Đông đều giống nhau như thế.

Ngược lại với chính trị số đông là chính trị của số it. Số it đây là thiểu số nhưng tinh hoa, đó là những người tài năng, dùng độc tài sáng suốt hay dùng dân chủ tự do đúng nghĩa để phát triển số đông lương thiện chống lại các số it lươn lẹo, bằng con đường truyền thông khoa học, con đường giáo dục tiên tiến để nâng cao dân trí, khiến mọi người đều sáng suốt, hiểu biết, tôn trọng sự thật, tôn trọng khách quan, tốn giáo giá trị lành mạnh, tôn trọng tinh hoa của xã hội, đó là chính trị kiểu Lý Thừa Vãng của Nam Hàn, kiểu Lý Quang Diệu của Singapore, chính trị kiểu các nước phát triển tự do dân chủ như các nước châu Âu hay Bắc Mỹ. Trong những nước đó, số đông là số đông hiểu biết, phát triển, giàu có, trái lại số it là số người người vô sản, thất cơ lở vận, hay thất nghiệp vì không có chuyên môn trong xã hội vì vô số các lý do khác nhau.

Chính trị của số đông cũng là kiểu chính trị theo tư tưởng của Mác, đề cao giai cấp vô sản một cách mê tín. Đặt vị trí của người công nhân vô sản thời tiền tư bản lên trên cả trí tuệ của trí thức, của kỷ sư. Thật ra các thành phần đó đúng ra chỉ là số it trong xã hội trước hết, nhưng sau đó được tổ chức, tuyên truyền, huấn luyện. phát triển lên dần qua thời gian thành số đông, nhưng là số đông mù quáng, số đông khuynh tả u mê, nó trở thành sức mạnh ở mọi cuộc cách mạng vô sản mác xít, khiến cho mọi thành phần đi ngược lại nó đều trở thành số it, cho dù tài giỏi, tinh hoa đi nữa, cuối cùng chính trị kiểu số đông đó vẫn chiến chiến thắng. Như trường hợp của Trần Trọng Kim là kiểu chính trị số it, nhưng đơn độc, buộc phải thất bại trược chính trị số đông theo cách quần chúng đang lên lúc đó.

Nên cuối cùng chính Các Mác là người đáng trách mà không phải những người mù quáng đi theo thuyết Mác là đáng trách. Bởi nếu lý thuyết ông ta mà khoa học, là khách quan, là đúng đắn, tật nhiên những người thực hành theo ông ta là tốt, là có công, làm sao đáng trách. Nhưng thực chất nó chỉ là ngược lại. bởi vì đó là lý thuyết bạo ngược và không tưởng nên nó mới đáng trách là chỗ đó. Bạo ngược nhưng nếu lý tưởng thì có thể biện minh được. Hay không tưởng mà không bao ngược thì cũng chẳng có gì tai hại. Trong khi đó học thuyết Mác đầy đủ cả hai, tức vừa phi khoa học vừa bạo lực thì cũng chỉ có thể bạo phát bạo tàn mà không khi nào lâu dài, vĩnh cửu được. Cuộc cách mạng tháng Mười Nga sau bảy mươi năm phải hoàn toàn tan rã, thất bại đó là như thế

Bởi thế, chính trị theo nguyên tắc tự nó không tốt không xấu, hay đúng ra nó là tốt, vì mục đích là nhằm quản lý xã hội sao cho thành công nhất. Chỉ có người sử dụng chính trị là tốt hay xấu, tốt nếu có mục đích tốt, xấu nếu có tà tâm tà ý. Chính trị cũng chỉ như con dao hai sắc bén, nếu vào tay người nào chuyên môn, có năng lực, con dao thành hữu ích, giá trị, ngược lại nếu vào tay bọn trẻ nhóc hay người kém năng lực, hậu quả của nó về mọi mặt thì thật vô lường. Nhất là nếu học thuyết chính trị mà mù quáng, phi khoa học, nó sẽ trở thành loại tôn giáo mê hoặc số đông, biến số đồng thành sức mạnh cuồng tín cũng càng vô phương cứu chữa.

Tại vì nếu lý thuyết sai mà còn số it sáng suốt, biết nhận định phê phán, sự sai lầm tức khắc bị phản biện và it thành nguy hiểm. Ngược lại nếu chỉ có số đông mù quáng, chắc chắn số đông sẽ chiến thắng, và lý thuyết sai đó trở thành cái hỗ thẳm cho xã hội. Đó là chưa nói có những sự sai lầm mà lại bị tuyên truyền giả dối, dối gạt cho là đúng, tạo nên số đông nhầm lẫn thì đó cũng là sức mạnh xã hội vô địch. Phong trào khuynh ta miền Nam trước năm bảy lăm đại loại cũng kiểu như thế. Nên làm sao trách cho hết những tay như Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Huỳnh Tấn Mẩm, Trinh Công Sơn v.v... chẳng qua cũng chỉ là số đông ô tạp đối với một số it trí thức có hiểu biết lúc bấy giờ. Chính số đông ô tạp đó đã chiến thắng đối với số it tinh hoa lúc đó, và tuy họ là số it đối với đối với dân chúng lúc đó, nhưng dân chúng này đã bị  vô hiệu hóa bởi số it kia, như phong trào bàn thờ Phật giáo xuống đường, chỉ do một tay Thích Trí Quang cầm lái, nhưng cái cầm lái đó lại dựa vào số đông mù quáng thì đại loại cũng lại chỉ như vậy. Số it mù quáng tạo nên số đông mù quáng đó là nguyên lý thường xuyên của mọi loại chính trị tuyên truyền giả dối và độc tài vô nguyên tắc đều luôn luôn như thế.


ĐẠI NGÀN

(07/6/16)


MỤC LỤC NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,

CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO - [11]


979.          PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC TRONG TƯ TƯỞNG

                       CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI (14/6/16)

980.          SỰ KIỆN LỊCH SỬ : TRƯỜNG HỢPNGUYỄN ÁNH

                                VÀ NGUYỄN HUỆ (14/6/16)

981.          CÁC MÁC VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO (14/6/16)

982.          CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

                                                         (13/6/16)

983.          CHÍNH TRỊ TIÊN TIẾN VÀ CHÍNH TRỊ LẠC HẬU

                                                          (12/6/16)

984.          TỪ ĐẤT NƯỚC ĐẾN CHÍNH TRỊ (12/6/16)

985.          NÓI VỀ NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT (10/6/16)

986.          TẠI SAO CÓ TỆ NẠN SÙNG BÁI LÃNH TỤ NƠI NHỮNG

                                NƯỚC CỘNG SẢN ? (10/6/16)

987.          TỪ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN ĐẾN VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN

                                             NGỤY BIỆN (09/6/16)

988.          PHÂN TÍCH THỰC CHT V T DO VÀ ĐC TÀI (09/6/16)

989.          MỘT THÓI XẤU CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC TỪ BỎ Ở CÁC

   NƯỚC CỘNG SẢN (09/6/16)

990.          CHIẾN TRANH VÀ LỊCH SỬ (09/6/16)

991.          Ý NGHĨA VÀ TƯ CÁCH TRÍ THỨC (09/6/16)

992.          NÓI VỀ NGUYÊN LÝ KHOA HỌC VÀ NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC

(08/6/16)

993.          MỸ, TRUNG QUỐC, VIỆT NAM NGÀY NAY VÀ TRONG TƯƠNG  

                                                   LAI (08/6/16)

994.          CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ÍT VÀ CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ĐÔNG

                                                        (07/6/16)

                                                                            

No comments :

Post a Comment