NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO- [11]
PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC TRONG TƯ TƯỞNG
CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI
Phật thật ra cũng chỉ là người bình thường đi tu thành chánh
quả. Trước hết Phật trải qua tu khổ hạnh, rồi tu thiền định trong rừng già, cuối
cùng ngồi dưới cội bồ đề trầm tư mà đắc đạo. Như vậy Phật trước hết là người tư
duy và người chiêm nghiệm.
Phật chiêm nghiệm cuộc đời và thấy cuộc đời là toàn khổ. Toàn
khổ vì trong đời con người mang cái dục, và do tính dục, tức lòng ham muốn mà
con người thành khổ. Bởi vì ham muốn, tức là ước nguyện nào đó không được thỏa
mãn tất nhiên thành khổ. Vì đời là vô thường, vạn sự luôn luôn biến chuyển, thế
làm sao có cái gì trụ lại hoài mà ham muốn, đó là lý do tại sao cõi dục là cõi
khổ, và đời muốn diệt khổ thì trước tiên phải cần diệt dục.
Diệt dục trước tiên phải hạn chế lòng ham muốn, biết lòng ham
muốn của mình là vô giới hạn, có nghĩa cũng không bao giờ thỏa mãn trọn vẹn,
không bao giờ đạt tới được, mà có khi chỉ phải thất vọng, vậy trước hết phải hạn
chế lòng dục, lòng ham muốn, và cuối cùng nếu triệt tiêu được lòng dục thì hoàn
toàn thanh thản nhẹ nhàng, đó cũng chính là con đường an bình, giải thoát. Diệt
dục rõ ràng là phương pháp và mục tiêu căn bản của đạo Phật.
Nhưng diệt dục trước hết phải dựa trên nguyên lý nhận thức.
Phải nhận thức ra sự vô lý của tính dục thì mới có thể hạn chế hay diệt nó được.
Đó chính là phương pháp luận khoa học mà đức Phật trước tiên đã sử dụng đến.
Cũng qua phương pháp luận nhận thức này, việc lý giải đời là biển khổ được xây
dựng trên nền tảng nhận thức về sinh lão bịnh tử. Con người khổ là do được sinh
ra, khổ vì cần phải lớn lên, khổ vì bịnh tật, cuối cùng khổ khi phải chết đi.
Chính trong các trạng thái cơ bản đó vẫn có lòng ham muốn hay tính dục trong
đó, như vậy tính dục là đầu mối của tất cả. Có nghĩa phương pháp diệt dục chính
là phương pháp hạn chế điều khổ và cuối cùng là giải thoát khỏi điều khổ để đạt
đến cõi an tịnh, niết bàn hay chân như.
Nhưng như vậy là nói người bình thường. Còn nói về cái ác,
người ác thì sao ? Phật lý giải việc này là do nghiệp báo, nhân quả. Nghiệp
báo, nhân quả là do tính vô minh mà ra. Vô minh là không nhận thức ra được cái
đúng, bị điều ác, điều tối che khuất, vậy là cứ phải mãi quay trong vòng luân hồi,
nhân quả. Chỉ khi thoát khỏi vô minh, nhận ra được điều thiện, cái ác, bỏ ác
làm thiện, như vậy cũng phần nào thoát khỏi vòng vô minh, phần nào thoát khỏi
vòng nhân quả, để kiếp sau được thong dong, cao quý, thư thái và hạnh phúc hơn,
đó là ý nghĩa của việc buông đao thành Phật.
Qua đó cũng thấy được Phật không phải người vô thần hay duy vật,
trái lại Phật là người duy tâm, vì tin vào cái tâm nơi con người và tin vào ý
nghĩa của nghiệp báo, nhân quả. Có nghĩa thuyết lý của Phật không chỉ là vấn đề
của ý thức luận, của nhận thức luận, mà còn có cả ý nghĩa của vấn đề siêu hình
học. Nhưng đây là ý nghĩa siêu hình học triết học, không phải siêu hình học kiểu
tôn giáo khải thị như Kitô giáo. Bởi một bên thì tin vào luật siêu hình, bên
thì tin vào Đấng siêu hình, đó là điều khác nào giữa niềm tin siêu việt và niềm
tin độc thần giáo mà đạo Phật và đạo Kitô tự phân biệt. Đó cũng là lý do tại
sao giải thoát Phật giáo là giải thoát tự thân, còn giải thoát Thiên chúa giáo
là sự cứu rỗi linh hồn của đấng Thượng đế.
Khi Phật nhận ra thế giới vô thường, đó là ngài nhìn trên
bình diện vũ trụ luận, thế giới luận và vật chất luận. Thế giới là vô thường vì
nó kết nên bởi muốn vàn sự vật, mà mọi sự vật đều vô thường, vậy thế giới cũng
không thể hữu thường. Tính vô thường của thế giới còn do nơi tâm ý và tâm thức
của ta, đó là bản chất của loài vượn, ngựa, luôn luôn chạy nhảy, thế thì có cái
gì thường trụ hay ổn định được.
Ngày nay về mặt nguyên tử luận hay cơ học lượng tử người ta có thể dễ dàng hiểu ra được điều đó, và về mặt nhận thức luận, tức mặt hiện tượng luận ý thức thì cũng không xa mấy với lập luận hay hiểu biết từ ngàn xưa của Phật.
Ngày nay về mặt nguyên tử luận hay cơ học lượng tử người ta có thể dễ dàng hiểu ra được điều đó, và về mặt nhận thức luận, tức mặt hiện tượng luận ý thức thì cũng không xa mấy với lập luận hay hiểu biết từ ngàn xưa của Phật.
Chỉ có điều, qua những nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận
nhận thức khoa học như thế thì Phật có công nhận linh hồn hay công nhận nhân vị
của con người hay không là điều phải bàn đến. Rõ ràng quan điểm nhân vị của Phật
là quan điểm sự tồn tại của bản thân chúng sinh. Nhưng sự tồn tại đó nói chung
cũng chỉ là hiện tượng như mọi hiện tượng sự vật bề ngoài khác. Chỉ cái bên
trong, cái chân như bất biến đó mới là nội hàm của linh hồn thật. Đạt tới chỗ
chân như là hòa đồng được với chân lý, tức chân lý tột cùng của vũ trụ, là sự
thường hằng bất biến, hay trạng thái niết bàn mà chính bản thân Phật đã đạt được.
Khi tới đó rồi cũng không còn luân hồi sỉnh tử, chỉ có trạng thái viên mãn bất
tận đời đời bất diêt, đó là ý nghĩa giải phóng tột cùng của Phật giáo. Đạt tới
ý nghĩa đó cũng không còn nghiệp báo, vì không còn luân hồi, không còn sắc
không gì nữa, không còn tính cách vô thường gì nữa.
Điều này cho thấy tư tưởng Phật giáo thật sự cũng nằm trông
hay không thoát ra khỏi tư tưởng Ấn độ, nhưng nó vượt lên trên mọi dạng chủ thần
giáo để đi đến tri thức luận triết học và khoa học thuần túy thế thôi. Nhưng
tri thức luận Phật giáo thực ra không phải loại tri thức luận hay nhận thức luận
bình thường. Nó vượt lên nhiều bậc, và đó là cái người ta gọi là duy thức luận
Phật giáo. Nói chung lại, tư tưởng triết học Phật giáo là loại tư tưởng triết học
siêu hình học thuần túy, không phải chỉ loại triết học thế tục duy lý như cách
phương Tây. Ở trong Phật, trực giác siêu hình học là điều cốt lõi nhất. Đó là ý
nghĩa sau bao nhiêu năm ngồi thiền của Phật. Đó cũng là tính chân chất của Phật
giáo nguyên thủy tức Phật giáo Tiểu thừa hay Phật giáo Nam tông, nó có hơi khác
với Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Bắc tông, là kết quả của đạo Phật truyền
qua Trung Quốc, chịu ảnh hưởng nhiều về phần tư tưởng duy lý về sau của tinh thần
Trung Hoa. Dĩ nhiên Tiểu thừa hay Đại thừa Phật giáo đều có cái hay riêng, tức
một bên nặng về ý thức nguyên thủy, còn một bên nặng về ý thức suy lý, bác học.
Vậy thì con đường tu đạo của Phật giáo không phải
chỉ là con đường tu đạo của luận lý đạo đức thông thường mà chính là con đường
hóa giải trong tư duy siêu hình học, giải thoát không phải chỉ là giải phóng khỏi
trần tục mà còn là sự hòa nhập vào cõi chân như vô hạn, đó là con đường tu đạo
của Phật giáo từ thấp lên cao, từ từ bi hỉ xả của đời thường cho đến ý thức
siêu hình giác ngộ của những bậc bồ tát thượng thừa như những bậc đạo hạnh kiểu
thánh nhân mà ai cũng rõ. Đó là những bậc đại giác ngộ, những bậc chính giác,
không phải chỉ là bậc giác ngộ bình thường như mọi người đều hiểu. Đại giác ngộ
là giác ngộ, hòa nhập vào chân lý tối hậu của chỗ thường hằng viên mãn, còn
giác ngộ chỉ mới là sự nhận thức ra cuộc đời vô thường, biến đổi, để tạo ra để
tạo ra để tạo ra những bước đại ngộ thật sự về sau. Đấy tính cách của phương
pháp luận tu đạo hay phương pháp luận nhận thức khoa học của đạo Phật hay của
chính đức Thích Ca Mâu Ni quả là như thế.
ĐẠI NGÀN
(14/6/16)
(14/6/16)
**
SỰ KIỆN LỊCH SỬ : TRƯỜNG HỢP
NGUYỄN ÁNH VÀ NGUYỄN HUỆ
Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay đều luôn luôn là
xã hội dân sự cộng với tầng lớp vua quan cai quản ở trên. Xã hội dân sự nói
chung là xã hội kinh tế, đời sống, văn hóa, còn tầng lớp cai quản bên trên là tầng
lớp cầm quyền hay chính quyền. Dĩ nhiên nguyện vọng an cư lạc nghiệp, đó là
nguyện vọng muôn đời của toàn dân, tức của mọi người hay toàn xã hội trong một
thời điểm, tức trong không gian và thời gian nào đó. Đời sống chính của người dân
là đời sống lao động, làm ra của cải mọi mặt và có phận sự đóng thuế các loại để
nuôi sống bộ máy chính quyền.
Có nghĩa lịch sử luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội
của từng thời điểm. Có những hoàn cảnh kinh tế xã hội bất ổn, bất công nhiều mặt,
vậy là xảy ra tao loạn, hay hoàn cảnh địa lý nào đó cũng có thể xảy ra chiến
tranh với bên ngoài, và nói chung chiến tranh loại gì cũng tác động tới hoàn cảnh
kinh tế xã hội nói chung, tác động tới người cầm quyền nói chung, và chính sự
tương tác qua lại của hai phía đó, khi đẩy tới cực kỳ sẽ tạo nên những biến cố
lịch sử quan trọng để chuyển sang một thời đại mới và cứ như vậy. Có nghĩa bất
kỳ triều đại nào dài hay ngắn cũng đều quyết định do hoàn cảnh lịch sử của nó,
tức do kinh tế xã hội cũng như yếu tố cầm quyền chính cai quản nó. Ở các giai
đoạn có người cầm quyền tài năng, sáng suốt hay được việc, yếu tố tồn tại và
phát triển của nó được lâu dài, cường thịnh, nếu không thì biến động, tiêu vong
trong ngắn ngủi.
Cho nên bất kỳ triều đại nào mới lên, cũng không phải chỉ do
một người, mà do nhiều người ở trong cùng trường hợp hưởng ứng với người Việcđó.
Tất nhiên lúc đầu là vậy, nhưng khi đã lớn mạnh rồi, đã có quyền lực hay chính
quyền rồi, mọi sức mạnh cưỡng chế là chính, và mọi người bắt buộc phải quy phục
là chính. Việc bắt lính, lấy thuế để phụ vụ cho guồng máy quyền hành đều diễn
ra như vậy. Ý nghĩa của quyền hành cai trị và xã hội dân sự cũng là vậy. Xã hội
luôn phải sống, còn chính quyền luôn phải có, chỉ khác nhau là tính cách sống
thế nào và chính sách cai trị ra sao vậy thôi.
Nguyễn Phúc Ánh khi còn là chàng thanh niên 17 tuổi xuống
thuyền vào Gia Định cùng người bác của mình là Nguyễn Phúc Thuần để sau lập nên
nghiệp lớn cũng trong trường hợp như thế. Có nghĩa hoàn cảnh hổn độn của Phú
Xuân lúc đó tạo nên sự kiện, và nhiều sự kiện sau này tiếp theo nhân lên nhau,
để cuối cùng tạo nên kết quả có tính kết thúc nào đó nhằm giải quyết mọi sự việc
tương tự. Cũng giống như thế, Nguyễn Nhạc lúc đầu chỉ là viên cai bạ nhỏ, vì mê
đánh bạc thâm lạm phải trốn vào rừng, cuối cùng khởi loạn và nhà Tây Sơn ra đời.
Vị anh hùng Nguyễn Huệ cũng từ đó nảy sinh ra, không khác gì Nguyễn Ánh.
Cho nên lịch sử đôi khi giống như sự tình cờ không theo quy
luật chặt chẽ nào cả, hay quy luật đó chỉ là quy luật kinh tế xã hội làm nên để
cho các nhân vật lịch sử xuất hiện rồi cuối cùng tạo nên lịch sử thế thôi. Có
nghĩa những nhân vật lịch sử tất yếu phải có tài hay nổi trội hơn người khác về
những mặt nào đó, được hoàn cảnh cho phép xuất hiện và nuôi dưỡng, cuối cùng họ
giải mã được nhiều vấn đề đang phức tạp lúc ấy, đó là sự thành công hay sự nghiệp
của họ. Gia Long hay Quang Trung đều là những con người như thế cả.
Nhưng cái hay, cái ý nghĩa hay giá trị của những người làm
nên nghiệp lớn, không phải nghiệp lớn của bản thân họ mà là họ đã có những công
nghiệp gì cho xã hội, họ để lại được gì cho sự phát triển của đất nước và lịch
sử vậy thôi. Nếu chẳng để lại gì cả hoặc chỉ để lại một sự hổn độn nào đó thì
cũng chẳng có ý nghĩa hay giá trị gì. Lịch sử xưa nay trên toàn cầu đều vậy và
vào thời buổi nào cũng vậy. Đó chính là điều mà Quang Trung và Gia Long đều thực
hiện được. Quang Trung chống ngoại xâm bảo vệ đất nước toàn vẹn, Gia Long thì
thống nhất, phát triển sơn cả cho một đất nước tiến lên nhiều mặt, đó đúng là
công lớn của hai kẻ địch thủ một thời mà thật sự đều hai vị anh hùng hay vĩ
nhân hiếm có.
Bởi cuộc đời của Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ hầu như thời trẻ
trung đều ngồi trên mình ngựa. Nhưng khi đã có được cơ đồ rồi, đều cùng xây dựng
đất nước kết quả nhiều mặt, chỉ có những thế hệ về sau mới bất lực và phá tán để
trở nên tiêu vong triều đại mà thôi. Nhưng cái sai lầm nhất của Nguyễn Ánh là
lúc đầu cầu viện nước ngoài như Xiêm la và người Pháp để tranh hùng với Nguyễn
Huệ. Đây là vết đen đầu tiên mà Nguyễn Ánh sẽ không bao giờ rửa sạch trước lịch
sử. Mặc dầu sau khi đã thành công thì Gia Long và Quang Trung đều một lòng bảo
vệ phát triển đất nước chẳng ai thua ai. Còn điều nữa Gia Long giết hại công thần,
là điều Quang Trung chưa phạm, mặc dầu cả hai vì vua đều thuộc dạng võ biền
nhưng thông minh trí tuệ và tài hiểu biết các mặt văn hóa cũng như nhau.
Thế thì lịch sử rõ ràng vẫn có nhiều điều tình cờ, ngẫu nhiên
hay bí ẩn. Sự cầu viện nước ngoài của Nguyễn Ánh cuối cùng cũng mang lại được sự
hình thành nên tiếng Quốc ngữ, là tài sản vô giá cho đất nước sau này, còn
Quang Trung hết lòng hỗ trợ chữ nôm trước đó cũng thật là một danh nhân văn hóa
của dân tộc. Tuy vậy lịch sử luôn có sự phân ranh giữa hai đàng là xã hội kinh
tế dân sự và thiểu số nắm quyền qua những thời kỳ hay giai đoạn nào đó là điều
hầu như luôn luôn đã có. Mọi nhân vật lịch sử có khi từ thành phần chính quyền
của triều đại mà ra, có khi từ xã hội dân dã mà ra. Nên đó có khi cũng là điều
may rủi hay là chân mạng của những người có sự nghiệp mà ngày xưa loài người đã
từng biết. Bởi thế quan niệm đấu tranh giai cấp của Mác chỉ là quan niệm u mê,
lập dị hay dối gạt, và cuối cùng việc sử dụng ý nghĩa chuyên chính mù quáng
trong lịch sử quả là ý nghĩa tội đồ đối với xã hội nhân loại hiện đại.
Nhưng như trên đã nói, xã hội kinh tế dân sự chính là nền tảng
hay sân chơi cho toàn thể mọi biến chuyển của lịch sử diễn ra. Bởi vì không có
nó cung không có tất cả. Vậy thì ý nghĩa của nền tảng hay sân chơi xã hội lịch
sử đó là gì, đó không ngoài là sự phát triển kinh tế xã hội dựa trên các thành
quả của khoa học kỹ thuật, văn hóa và giao thương như mọi người đều biết. Điều
đó có thể tự bên trong làm ra hay từ bên ngoài mang lại. Các nước phương Tây
trong thời cận đại hay ngay từ thời cổ, các phát triển khoa học kỹ thuật hay
công nghiệp đều do tự họ làm ra. Trái lại các nước Á đông thì thường do các nước
du nhập đến qua con đương giao thương buôn bán. Ý nghĩa của con đường tơ lụa
ngày xưa là như thế. Nên nói chung lại lịch sử chính trị đều ít nhiều phải phụ
thuộc vào lịch sử hay hoàn cảnh kinh tế xã hội và địa lý. Phương Tây vẫn phát
triển hơn phương Đông ngay từ xa xưa đều không ngoài yếu tố đó. Não trạng của
phương Tây là não trạng khoa học kỹ thuật và tự do dân chủ. Não trạng của
phương Đông thường hay là não trạng quân chủ chuyên chế, phong kiến và văn minh
văn hóa lạc hậu về khoa học kỹ thuật và về cơ chế xã hội. Đó là ý nghĩa tại sao
phương Tây luôn luôn tiên tiến, đi đầu mọi mặt, còn phương Đông luôn luôn chậm
lụt, đi sau hay theo đuôi người ta nhiều loại đều không ngoài như thế, chẳng những
ngày xưa mà cả trong thời kỳ công nghệ hiện đại ngày nay cũng vậy.
ĐẠI NGÀN
(14/6/16)
(14/6/16)
**
CÁC MÁC VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
Trong Tạp chí Đại học Huế số 11 được ông Nguyễn Văn Lục số
hóa và đưa lên mạng DCVonline vừa qua, tôi được đọc lại bài viết "Đối Thoại"
của Gs. Nguyễn Văn Trung. Đây là bài viết cách đây 60 năm và tôi cũng không có
chủ ý tập trung vào bài này của thầy Trung. Bởi trong bài viết này Gs. Trung
xoáy vào nội dung bài diễn thuyết của Lm. Trần Thái Đỉnh khi đó đã ca ngợi giáo
lý đạo Phật khiến vài người Thiên chúa giáo khi ấy phật ý và phản đối. Trong
bài viết Gs. Trung cũng nêu ý tưởng về Mác, và đây chính là ý nghĩa của bài viết
này.
Trước hết phải nói tôn giáo là hiện tượng đời sống của nhân
loại, nói rõ hơn là hiện tượng ý thức và tinh thần mà không loài vật nào khác
trên thế giới này có được. Tôn giáo là niềm tin, và niềm tin vào thế giới siêu
việt, cũng như nhằm thực hiện và thăng tiến ý thức theo niềm tin ấy. Phần khác
của tôn giáo là ý nghĩa tình cảm và ý nghĩa đạo đức, tình cảm yêu thương con
người, yêu thương xã hội, và đạo đức răn giữ mình.
Bởi tôn giáo là hiện tượng có từ ngàn đời, nên có rất nhiều
loại tôn giáo khác nhau trên thế gian, nhưng ở đây chỉ nói hai tôn giáo lớn gần
gủi nhất đối với người Việt Nam cho tới nay là đạo Phật và Kitô giáo hay Thiên
chúa giáo. Đạo Phật được truyền sang rất xa xưa từ Ấn độ, còn công giáo được
truyền đến từ phương Tây đã nhiều thế kỷ. Đạo Phật chủ trương đồng đều và từ
bi, đạo Thiên chúa chủ trương bình đẳng và bác ái, đây có lẽ là hai điều căn bản
thu hút người Việt Nam nhiều nhất hơn các tôn giáo khác.
Còn nói về ý nghĩa siêu hình, đạo Phật tin vào nguyên lý vô
thường, nguyên lý chân như, và nguyên tắc nhân quả. Trong khi đó đạo Kitô tin
vào một đấng Thượng đế vô hình có quyền năng vô hạn cai quản thế gian từ nơi
cõi trời. Sự giải thoát của Phật giáo là giải thoát tự thân, sự cứu rỗi
trong Thiên chúa giáo là sự cứu rỗi từ bên ngoài nhưng qua tâm thức rèn luyện của
mình. Cả hai nói chung đều hữu thần, duy tâm, bởi vì bất cứ tôn giáo hay đạo
giáo nào cũng vậy tuy rằng màu sắc cũng có những mặt khác nhau.
Như vậy nếu Lm. Trần Thái Đỉnh từng đăng đàn ca ngợi giáo lý
đạo Phật thì cũng chẳng phải điều gì lạ lẫm hay bất thường cả. Hay nếu có nhà
sư nào đó đề cao điều gì đó trong Thiên chúa giáo thì cũng chẳng có gì là lạ
lùng hoặc khác thường. Chẳng qua chỉ những đầu óc nhỏ hẹp, thiển cận trong tôn
giáo này hay tôn giáo khác mới có thái độ chống báng nhau thế thôi. Bởi thế ý
nghĩa của bài viết "Đối Thoại" của Gs. Nguyễn Văn Trung đưa ra là rất
đúng. Trong đó ông cũng phân tích và chê trách những thái độ trí thức dỏm và
trí thức giả của nhiều người đời như là điều thấp kém và không đúng đắn.
Bây giờ chuyển qua ý nghĩa của Mác. Các Mác là người duy vật
vô thần nên ông ta phê phán tôn giáo một cách khốc liệt chỉ là chuyện tự nhiên.
Vì ý nghĩa duy vật và vô thần tất phải đi đôi với nhau, và ý nghĩa vô tôn giáo
cũng chỉ là hệ quả như thế. Chính vì vậy Mác cho rằng tôn giáo nói chung đều chỉ
là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, đưa quần chúng vào thế giới hư ảo để quên đi
chính thực tế bị đày đọa khổ ải, bị bóc lột, trấn áp nơi thế gian. Cho dù gia tộc
của Mác có nguồn gốc đạo Do Thái, và cha của Mác chuyển thành mục sư Tin lành,
cũng như Mác từ hồi còn niên thiếu đã được học tập qua những trường lớp giáo lý
tôn giáo.
Song có điều người ta thắc mắc là trong tâm thức và trong lý
luận của Mác. Bởi duy vật thuần túy thì cũng cần gì phải có lý thuyết Mác. Vì nếu
thế gian cũng chỉ là cục đất thì mọi ý nghĩa xây dựng lý thuyết, xây dựng xã hội
phỏng để làm gì. Đó là điều nghịch lý và sự hời hợt nông cạn ngay từ đầu mà
chính Mác đã vấp phải. Vả chăng hòn sỏi thì bao giờ cũng chỉ là hòn sỏi, có làm
sao lại biến đổi được thành cái khác hơn nó. Dầu cho có bị phong hóa qua năm
tháng hay có bị đập nát, giả nhỏ đi, cuối cùng đó cũng chỉ là vật chất ở mọi mức
độ khác nhau mà có gì khác, dẫu có thành phân tử, nguyên tử, rồi hạt cơ bản hay
năng lượng nói chung thì cũng chỉ có thế. Công thức E = mc2 của Einstein đã cho
thấy điều đó.
Bây giờ chuyển qua ý nghĩa của Mác. Các Mác là người duy vật
vô thần nên ông ta phê phán tôn giáo một cách khốc liệt chỉ là chuyện tự nhiên.
Vì ý nghĩa duy vật và vô thần tất phải đi đôi với nhau, và ý nghĩa vô tôn giáo
cũng chỉ là hệ quả như thế. Chính vì vậy Mác cho rằng tôn giáo nói chung đều chỉ
là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, đưa quần chúng vào thế giới hư ảo để quên đi
chính thực tế bị đày đọa khổ ải, bị bóc lột, trấn áp nơi thế gian. Cho dù gia tộc
của Mác có nguồn gốc đạo Do Thái, và cha của Mác chuyển thành mục sư Tin lành,
cũng như Mác từ hồi còn niên thiếu đã được học tập qua những trường lớp giáo lý
tôn giáo.
Song có điều người ta thắc mắc là trong tâm thức và trong lý
luận của Mác. Bởi duy vật thuần túy thì cũng cần gì phải có lý thuyết Mác. Vì nếu
thế gian cũng chỉ là cục đất thì mọi ý nghĩa xây dựng lý thuyết, xây dựng xã hội
phỏng để làm gì. Đó là điều nghịch lý và sự hời hợt nông cạn ngay từ đầu mà
chính Mác đã vấp phải. Vả chăng hòn sỏi thì bao giờ cũng chỉ là hòn sỏi, có làm
sao lại biến đổi được thành cái khác hơn nó. Dầu cho có bị phong hóa qua năm
tháng hay có bị đập nát, giả nhỏ đi, cuối cùng đó cũng chỉ là vật chất ở mọi mức
độ khác nhau mà có gì khác, dẫu có thành phân tử, nguyên tử, rồi hạt cơ bản hay
năng lượng nói chung thì cũng chỉ có thế. Công thức E = mc2 của Einstein đã cho
thấy điều đó.
Trong khi đó cái cây, con vật, con người là ý nghĩa của sự sống,
của ý thức, của sự nhận thức. Đó là thực tế tiến hóa qua nhiều triệu năm, và đó
không thể và cũng không còn là thế giới vật chất hoàn toàn thuần túy hay thô
nhám nữa. Tất nhiên mọi bí mật hay huyền nhiệm của thế gian là ở đó. Ý nghĩa vấn
đề này cần phải được khoa học và triết học luôn luôn không ngừng lý giải để tìm
ra chân lý tối hậu, không thể chỉ như Mác kiểu nói bừa giống trẻ con nông nỗi.
Bởi vì mọi sự trên thế gian đang có mặt nhất thiết phải có
nguồn gốc nào đó của nó, không thể bổng dưng hoặc tự nhiên mà có, ý thức, nhận
thức của con người, hay ý thức, nhận thức trong các tôn giáo cũng y như vậy. Giống
như vườn hoa vẫn thường có nhiều loại hoa khác nhau, nhưng đó không thể chỉ là
sỏi đá. Cũng không thể có loài hoa nào là loài hoa duy nhât, bởi như vậy có còn
đâu ý nghĩa của thế gian.
Mác chỉ là học trò của Hegel nhưng là anh học trò tồi nhất.
Mác không thèm hiểu Hegel hay cũng chẳng hiểu Hegel chút nào. Nên cái gọi là biện
chứng duy vật của Mác chỉ là thứ quái thai do từ hạt giống của Hegel mà nẩy mầm
ra. Nhưng hạt giống duy tâm lại nảy sinh ra cái cây duy vật, đó là điều hoàn
toàn phi lô-gích, phi khoa học, phản thực tế, hoàn toàn phi lý và nghịch lý mà
Mác đã từng dại dột mắc phải. Lại còn từ đó mà cho ra hoa trái gọi là duy vật lịch
sử thì thật Mác là kẻ gàn, kẻ điên, kẻ hoang tưởng trên đời hoàn toàn chưa hề
thấy. Thế nên Trần Đức Thảo để gần suốt một đời để rao giảng duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử cho sinh viên Miền Bắc trước đây, thật là sự xuẩn ngốc hay sự
ngây thơ hết biết của Thảo. Mái tới khi về già được quay lại Paris Thảo mới nhận
thức được ông ta sai vì Mác đã hoàn toàn sai.
Đã sai về mặt lý thuyết khoa học, lý thuyết triết học như vậy,
Mác lại phịa ra nguyên lý đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, thì sự sai
càng lậm và hậu quả của nó trong thực tế thật vô cùng tai hại về nhiều mặt. Từ
nguyên tắc phủ định của phủ định trong biện chứng luận của Hegel, vốn là nguyên
lý duy tâm, Mác lại phịa thành nguyên lý duy vật thì thật là sự ngổ ngáo và sự
bất chấp hết mọi lẽ.
Nguyên lý biện chứng thật ra chỉ là nguyên lý nhận thức hay
nguyên lý trừu tượng, Mác lại biến thành nguyên lý thực tại, thật là điều quá đản
và ngu dốt đến cùng tận, thế mà bọn xu phụ còn xưng tụng như là đỉnh cao của
trí tuệ loài người. Thật ra viên sỏi thì tự nó không thể biện chứng gì cả, điều
đó ở trên đã nói. Còn như con vật, khi lớn lên là biện chứng phát triển, nhưng
khi chết đi, thân xác rã mục, thì đó gọi là biện chứng gì. Bởi nếu biện chứng
có cả hai đường thì đường nào mới đúng. Quả là một cách lý luận hàm hồ vô lối
mà ngoài Mác khó có ai nghĩ tới được.
Cũng chính từ công thức phủ định của phủ định mà Mác hiểu
cách mơ hồ, giản đơn đó, ông ta chuyển qua lý lý luận cộng sản nguyên thủy tự
phủ định thành kinh tế xã hội tư sản, tư bản, còn kinh tế xã hội tư sản tư bản
tự phủ định đê thành kinh tế xã hội cộng sản khoa học sau này. Đó thực chất chỉ
là sự tư biện, sự đoán mò, sự ngụy biện của Mác, bởi vì chỉ có xã hội hoang dã,
làm gì có xã hội kiểu cộng sản nguyên thủy, đó là sự cưỡng từ, ép ý của Mác.
Còn đã độc tài chuyên chính thì có bao giờ tự do để trở thành khoa học, để giải
phóng loài người được nữa. Chẳng qua do Mác quá mê tín vào ý niệm biện chứng của
Hegel mà tự cho đó là khoa học thế thôi. Vả lại xã hội phi giai cấp, tức phi cấu
trúc mà Mác nghĩ ra là hoàn toàn không tưởng. Ngay vật chất còn phải có cấu
trúc huống nữa là xã hội hay là ý thức, tâm lý con người.
Nên nói nhiều về mọi khía cạnh sai lầm và sai trái trong lý
luận nhận thức và trong thực hành lý thuyết của Mác thì chẳng bao giờ cho hết.
Nói chung Mác chẳng hiểu gì về các quy luật khách quan của tâm lý xã hội, của
kinh tế chính trị, của nhân văn khoa học, và kể cả của khoa học vật chất, nên
chỉ luôn đem đến mọi kết luận tai hại mà không gì khác.
Chẳng hạn như nhà sinh học chỉ luôn nghiên cứu được hiện tượng
sự sống, tức hiện tượng cấu trúc khác nhau của cơ thể sống, nhưng không bao giờ
thấy rõ được chính bản thân của sự sống đó là gì. Nên Mác nói tôn giáo, văn hóa
nói chung chỉ là thượng tầng ý thức đặt trên cơ cấu hạ tầng là kinh tế xã hội
chính trị chỉ là nói bừa. Nói mà không chứng minh cụ thể, nói trong tính cách
khá nhiều ngụy biện, áp đặt, đó là đặc trưng lý luận của Mác, nên mọi sự độc
tài chuyên chính vốn đã có ngay từ trong tư tưởng, ý thức, quan điểm của Mác.
Chính điều đó đã tạo nên bao nhiêu tai hại trong lịch sử xã hội loài người nhiều
mặt từ khi học thuyết Mác xuất hiện. Nếu nói không ngoa, đó thực là điều tội lỗi
của Mác. Bởi vì việc đưa ra những ý niệm sai lầm, sai trái, tạo nên những lý luận,
tư duy sai lầm, sai trái, đó không hề giai phóng được gì cho ai mà chỉ tạo nên
sự nô lệ, mù quáng, và sự chuyên chính, bạo động giữa người và người, đó chính
là sự lầm lỗi và tội lỗi muôn đời của Mác.
Như giai cấp vô sản công nghiệp, lúc đầu chỉ mới là thiểu số
trong xã hội tư bản sơ khai, Mác vì mê tín vào biện chứng luận của Hegel, thổi
phồng lên là giai cấp tiên phong có sứ mệnh giải phóng lịch sử, giải phóng xã hội,
nhưng thực tế một giai cấp có nhiều bất cập thời đó làm sao mà làm điều trọng đại
được. Cuối cùng họ chỉ bị lợi dụng bởi các thành phần khác thôi, đó là sự ngây
thơ, sự ẩu tả hay sự mê muội của Mác.
Nên cuối cùng tuy ban đầu Mác lên án tôn giáo, cho tôn giáo
là vong thân, cuối cùng học thuyết Mác bị biến thành học thuyết chính trị kiểu
tôn giáo, nó làm cho con người vong thân, xã hội vong thân, kể cả lịch sử bị
vong thân, bởi trong chế độ độc tài chuyên chính kiểu Mác không còn ai có tự do
nữa cả, tất cả đều trở thành nô lệ cho độc tài và nô lệ lẫn nhau, bạo lực lẫn
nhau, sợ hãi và ngờ vực lẫn nhau, trở thành một tập thể khổng lồ bị vong thân
không còn hạn chế hay giới hạn, và đó quả thật là đỉnh cao trí tuệ nơi chính bản
thân Mác.
ĐỈNH NGÀN
(14/6/16)
**
(14/6/16)
**
CON
ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI
Con
đường phát triển của lịch sử nhân loại thật ra chỉ có một. Chỉ có một con đường
chính, còn bao nhiêu là những con đường nhánh. Nhưng những con đường nhánh chỉ
là những con đường cụt. Trên con đường phát triển chung duy nhất đó, có thể có
người đi trước, có người đi sau, có người vượt lên, có người chậm lại, nhưng đó
là điều kiện, năng lực hay hoàn cảnh riêng của mỗi người, không phải cứ đi trước
là đi trước mãi, không phải cứ đi sau là đi sau mãi, chỉ tùy mình có đi đúng hướng
hay không vậy thôi.
Con
đường phát triển đó ngày từ đầu đã rẽ thành hai nhánh khác nhau, nhánh phương
Đông và nhánh phương Tây. Con đường phương Tây là con đường mang tính tuệ,
lô-gích, nên cuối cùng phương Tây phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, và cuối
cùng là nền tự do dân chủ. Đó là trường hợp của châu Âu và Bắc Mỹ. Con đường đó
bắt nguồn từ ý nghĩa tư duy thuần lý của người Hy lạp, và được các nươc phương
Tây gìn giữ và phát triển, phát huy cho mãi tới ngày nay.
Trái
lại con đường của phương Đông là con đường cảm tính, nông nghiệp lạc hậu và dậm
chân tại chỗ. Cuối cùng vẫn là tính cách chậm tiến và khuynh hướng độc tài
chính trị. Giả dụ nếu không có sự bứt phá của chế độ thực dân thuộc địa xuất
phát từ phương Tây, phương đồng sẽ vẫn mãi lạc hậu trong cơ chế quân chủ phong
kiến và cuối cùng cũng chẳng biết đi về đâu. Sự kiện xã hội thuộc địa thực chất
là con dao hai lưỡi mà phương Tây mang lại cho phương Đông, nó vừa là yếu tố thức
tỉnh, vừa là yếu tố hi sinh và mất mát.
Học thuyết Mác là học thuyết phát sinh từ phương
Tây, nhưng cuối cùng chỉ có phương Đông bị lậm còn phương Tây thì không hề màng
đến. Nga là nước lạc hầu phương Đông khi áy đã lậm đầu tiên, cũng như bên cạnh
đó là Trung Quốc cùng số nước nhỏ khác trong đó có Việt Nam. Đó chỉ là do não
trạng của phương Đông không theo kịp phương Tây, đặc biệt là Tây Âu về ý nghĩa
phát triển và nhận thức cũng như tinh thần khoa học. Nước Việt Nam ban đầu phải
chịu lép vế và thua đau trước thực dân Pháp, cuối cùng lại bị lậm bởi nước Nga
và Trung Quốc trong phong trào cộng sản quốc tế, âu đó cũng là hoàn cảnh lịch sử
khách quan cũng một phần do não trạng của người Việt Nam như đã nói.
Bây
giờ thì mọi chuyện qua rồi nhưng kết quả của lịch sử thì vẫn còn đó. Đã từng một
thời kỳ Việt Nam đua theo Nga và Tàu để chưởi các nước phương Tây là tư bản, là
đế quốc. Bây giờ thì Liên Xô cũng đã không còn còn Trung Quốc cũng đã chuyển hướng.
Thế nhưng con đường đã đi qua thì có bao giờ quành trở lại được nữa. Ngay như cả
nước Nga mà hiện nay còn chưa bỏ được não trạng phương Đông, não trạng phong kiến
lạc hậu, huống gì là Trung Quốc. Nga đã chơi trò Ukraina, còn Trung Quốc thì
chơi trò Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam. Nhưng tới giờ Việt Nam vẫn còn
chưa sáng suốt để nhận ra con đường phát triển của nhân loại nhằm áp dung cho đất
nước của mình. Như Tổng thống Putin của Nga tới nay cũng còn mơ hão một ý hệ
nhà nước cho toàn dân huống gì là Việt Nam. Não trạng quân chủ phong kiến
phương Đông nó vẫn khác hẳn với não trạng dân chủ tự do và khoa học của phương
Tây là như thế đó.
PHƯƠNG
NGÀN
(13/6/16)
**
CHÍNH TRỊ TIÊN TIẾN VÀ CHÍNH TRỊ LẠC HẬU
Thời đại nào cũng
vậy, chính trị tiên tiến là chính trị tự do dân chủ, chính trị lạc hậu là chính
trị độc tài ý thức hệ. Tự do dân chủ có nghĩa mọi người sinh ra đời đều bình đẳng
nhau, cùng kết hợp nhau để sống và phát triển khách quan tự nhiên. Quyền lực
chung của xã hội là do mọi người cùng tương thuận, tức bầu cử dân chủ, không ai
có quyền hành riêng nào để áp đặt ý chí hay ý muốn, thị hiếu riêng của mình lên
cho mọi người khác bất chấp nguyện vọng của họ.
Trong khi đó chính
trị độc tài ý thức hệ thì một thiếu số nào đó trong xã hội nhân danh một ý thức
hệ nào đó để áp đặt lên xã hội một cách độc đoán. Ngày xưa thời quân chủ phong
kiến, vua quan nhân danh thần quyền để tự ý cai trị dân theo ý mình. Đó chỉ là
kiểu nhân danh, làm gì có thần quyền thật sự trong chính trị. Còn thời cận đại,
các chủ nghĩa quốc xã, phát xít, cộng sản mác xít cũng nhân danh hệ tư tưởng mà
mình thị hiếu để áp đặt, cưỡng chế lên xã hội một cách độc đoán.
Thật ra ý thức hệ
chỉ là hệ tư tưởng của một cá nhân nào đó đề ra cho xã hội, nó có thể chỉ là chủ
quan hay riêng biệt. Nhưng trong tôn giáo ý thức hệ chỉ là sự mời gọi, sự thuyết
phục, không phải sự bạo lực, sự cưỡng chế như trong chính trị. Các ý thức hệ
chính trị đều dùng bạo lực để cưỡng chế xã hội, đó là điều sai trái vì cách thức
đó là phản lại tự do dân chủ, phản nhân văn, phi khoa học. Như Engels, Hitler,
Moussolini đều chủ trương dùng bạo lực. Các Mác chủ trương dùng độc tài chuyên
chính giai cấp nhằm khống chế toàn xã hội.
Thực chất mọi con người
sinh ra đời đều tự do và bình đẳng. Mọi ý nghĩa giai cấp hay tầng lớp xã hội chỉ
có về sau do kết quả của bao nhiêu yếu tố khác nhau mà không cá nhân có thể
hoàn toàn chủ động được. Do vậy ý nghĩa tự do dân chủ và ý nghĩa hòa hợp toàn
xã hội là bản chất tiên tiến nhất của mọi xã hội. Trái lại tính cách dùng ý thức
hệ chủ quan nào đó để áp đặt, cưỡng chế lên toàn xã hội đều phi lý, phi nhân,
phản khách quan khoa học vì không bất kỳ ai có quyền gì để tự tiện, tùy tiện
làm như vậy.
Quan điểm chuyên
chính vô sản của Mác là quan điểm hết sức bậy bạ. Bởi vô sản không bao giờ là bản
chất của xã hội. Giai cấp vô sản thật ra chỉ là thành phần thiểu số ban đầu của
xã hội tư bản mới phát triển. Đó là giai tầng còn nhiều mặt hạn chế, không phải
là tầng lớp ưu tú của xã hội thời đó. Thế nhưng Mác mê tín vào biện chứng luận
của Hegel, mù quáng vào lý thuyết phủ định của phủ định, cho rằng phủ định của
tư bản, tư sản phải là vô sản và cộng sản, nên công nhân phải là giai cấp tiên
phong lãnh đạo xã hội. Đó chỉ là quan điểm thần bí, dốt nát, phản thực tế, phản
xã hội, phản khoa học khách quan. Bỏi vì luôn phải là tầng lớp ưu tú của bất kỳ
giai cấp nào cùng kết hợp lãnh đạo xã hội trong thể chế tự do dân chủ mà không
phải kiểu độc tài mê tín và ngu dốt của Mác.
Putin ở Nga ngày
nay cũng là người cộng sản mác xít cũ, cũng đương hô hào lại việc sử dụng một ý
thức hệ nhà nước mới cho nước Nga. Đó quả là một quan điểm phản động chẳng khác
gì quan điểm phản động ngày xưa của Mác. Bởi như vậy sẽ lấy sự chủ quan ý thức
hệ cá nhân hay tập thể nào đó để thay vào cho ý nghĩa tự do dân chủ phát triển
và tiến bộ. Đó lại kiểu tôn giáo hóa chính trị dưới một hình thức mới như chính
Mác ngày xưa đã làm. Chính trị kiểu tôn giáo hóa là kiểu chính trị đặc biệt phản
động vì nó đi ngược lại mọi sự phát triển bình đẳng, tự do và dân chủ của mọi
người dân và toàn xã hội, nó chỉ có lợi cho một thiểu số nhân danh, lợi dụng điều
đó để ngồi lên đầu lên cổ toàn xã hội nhằm hưởng lợi đối với tất cả mọi người.
Chính trị thời Trung cổ tại châu Âu là lối chính trị kiểu lạc hậu như thế.
THƯỢNG NGÀN
(12/6/16)
(12/6/16)
**
TỪ
ĐẤT NƯỚC ĐẾN CHÍNH TRỊ
Đất nước là thực tế
tự nhiên trên thế gian này, nó đã có từ thời cổ xưa, và qua nhiêu biến đổi
thăng trầm của lịch sử nhân loại, đến nay trên thế giới vẫn còn lại chừng trên
trăm nước lớn nhỏ họp thành tổ chức Liên Hiệp Quốc của toàn cầu. Mặc dầu trong
thời hiện đại cũng có xu hướng tạo thành những khối lớn mạnh chung như khối Cồng
đồng châu Âu, hay khối Asean đang có mặt hiện nay. Còn việc thống nhất chung
nhân loại toàn cầu thì vẫn còn xa.
Có nghĩa cho dù lịch
sử loài người biến đổi trong tương lai thế nào, trong quá khứ hình thành nhân
loại trên mặt đất từ khởi thủy cho đến nay, đất nước hay quốc gia vẫn là định
chế nền tảng nhất mà nơi nào cũng có. Trong định chế chính trị nền tảng đó, xã
hội nói chung là toàn dân, còn đứng đầu trên hết là mỗi nhà nước. Nhà nước là tổ
chức chung nhất bao gồm trong đó mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội tạo
thành guồng máy cai quản chung. Nguồn sống do dân đóng thuế, nhiệm vụ lo cho
toàn dân.
Đến thời cận đại,
xuất hiện học thuyết Mác nói bậy bạ cho rằng nhà nước là nhà nước của giai cấp,
đặc biệt là giai cấp vô sản, bởi vì Mác chỉ là kẻ mê tín vào thuyết biện chứng
luận của Hegel, dựa trên nguyên lý phủ định của phủ định, để nói tướng lên giai
cấp vô sản sẽ thay thế giai cấp tư bản, nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước
sau cùng trong lịch sử nhân loại để đi đến nhà nước phi giai cấp, không còn nhà
nước nữa, không cần đến pháp luật nữa, xã hội chỉ lao động và tự nguyện phân
chia trực tiếp sản phẩm với nhau thôi. Đó là học thuyết không tưởng, phi khoa học,
phản khoa học và phản thực tế.
Bởi con người
không phải thần thánh mà luôn luôn sống đầy bản năng, chỉ khoa học kỹ thuật và
văn hóa mới làm loài người phát triển và hạnh phúc mà không phải nhờ đấu tranh
giai cấp như kiểu suy nghĩ ngu dốt của Mác. Bởi vậy pháp luật luôn luôn cần thiết,
và chỉ pháp luật lành mạnh, đúng đắn mới là pháp luật lợi ích nhất cho mọi xã hội
con người. Ngược lại pháp luật độc tài chỉ là pháp luật của thiểu số áp đặt lên
đa số, chuyên chính vô sản là sự ngu dốt ngàn đời của Mác. Ngày nay Liên Xô và
khối cộng sản Đông Âu cũ đã hoàn toàn sụp đổ và tan rã đã chứng minh cho thấy sự
ngu tối của học thuyết Mác.
Như vậy nhà nước
là nhà nước của mọi giai cấp, phải cần tự do dân chủ và sự bầu cử trong sạch, đứng
đắn mới là nhà nước lành mạnh nhất. Trong nhà nước đó dân đóng thuế để nuôi bộ
máy và quân đội, cảnh sát, viên chức chỉ có nhiệm vụ phục vụ chung đất nước, phục
vụ toàn dân mà không phục vụ riêng cho đảng phái hay giai cấp nào cả. Bởi vậy mọi
luận điểm cho rằng nhà nước là nhà nước của giai cấp, nhà nước của chuyên chính
giai cấp thực chất là nói láo hay nói phi thực tế và phi khoa học.
Học thuyết Mác sự
thực chỉ là học thuyết bậy bạ về mặt thực chất và khoa học, do đó mọi người cộng
sản đúng đắn ngày nay cần tỉnh táo để xem xét lại toàn diện, đó mới thật sự là
có ý thức lành mạnh, có nhận thức hiểu biết đúng đắn, trong sáng, có lòng vì nước,
vì dân, vì xã hội, vì con người, và vì cả nhân loại, mà không phải chỉ vì bất kỳ
những cái gì đó khác. Và cũng chỉ trên cơ sở đó mới thật sự có ý nghĩa cao quý
đối với cả công an và quân đội trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, bảo vệ toàn dân,
bảo vệ xã hội, bảo vệ dân tộc nói chung.
THƯỢNG NGÀN
(12/6/16)
**
NÓI VỀ NGÔN NGỮ TIẾNG
VIỆT
Nhân đọc lại bài
"Ngữ học là gì ?" của ông Nguyễn Đình Hòa, và bài "Đọc 'Ngôn ngữ
học Việt Nam'" của các ông Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê đăng trên Tạp
chí Đại học số 10 của Viện Đại Học Huế vào nửa thế kỷ trước, được ông Nguyễn
Văn Lục số hóa và post lên DCVonline vừa rồi, tôi có ngẫu hứng viết vài dòng
sau đây.
Nói khoa học ngôn
ngữ hay ngôn ngữ học là cách nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ một cách chung nhất.
Người ta có thể dựa vào một hay vài ngôn ngữ nào đó làm nền tảng, để từ đó phát
hiện, tìm hiểu và hệ thống hóa những đặc điểm của ngôn ngữ nói chung. Nhưng nếu
cách đó áp dụng vào ngôn ngữ tiếng Việt, nó thành ra khoa nghiên cứu riêng về
ngôn ngữ tiếng Việt, điều bài viết này đang nói tới.
Ngôn ngữ là đặc
trưng chung của con người, nhưng mỗi dân tộc có ngôn ngữ khác nhau, bao gồm lời
nói và chữ viết. Lời nói là ngôn ngữ thông qua phát âm bằng miệng, diễn đạt bằng
điệu bộ, cử chỉ, còn chữ viết là hệ thống ký hiệu nào đó dùng ghi lại lời nói
đã có.
Tiếng Việt nói đã
có từ ngàn xưa, từ hồi dân tộc và đất nước được hình thành, còn chữ viết cổ thì
ngày nay không còn tìm thấy, có lẽ phải có nhưng bị thất thoát hy mai một vì những
lý do nào đó. Ngày nay chỉ còn tồn tại chữ nôm vốn có cách đây nhiều trăm năm,
một cách biến hóa từ chữ Hán cổ, và quốc ngữ hiện nay, là chữ Việt mới được vận
dụng từ mẫu tự la tinh.
Dù sao chăng nữa,
ngôn ngữ Việt ngày nay là một ngôn ngữ hiện đại, cả tiếng nói và chữ viết, tức
nó hoàn toàn là một sinh ngữ đang tiếp tục hoàn thành và phát triển. Và đặc điểm
nổi bật nữa, tiếng Việt rất giàu nhạc tính và hình ảnh. Nhạc tính là ngữ điệu
khi nói năng, và hình ảnh là nội dung diễn đạt phong phú qua hình tượng hay được
thể hiện.
Chính vì lẽ đó, tiếng
Việt thuộc loại ngôn ngữ giàu tính nghệ thuật, được thể hiện đa dạng qua thi
ca, văn chương, âm nhạc, đó là đặc điểm không phải ngôn ngữ nào cũng có. Mặt mạnh
của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, có nghĩa mỗi từ ngữ, mỗi phát âm, mỗi chữ viết
là một đơn vị riêng lẻ, độc lập, do đó cách sử dụng luôn được vận dụng một cách
linh hoạt và vô cùng phong phú. Đó cũng là sở trường của cách chơi chữ, cách
dùng nghĩa bóng, cách đối ý hay cách điệp từ v.v... Nghệ thuật câu đối, nghệ
thuật thi ca, đó là những mặt mạnh đày thú vị mà tiếng Việt thời xa xưa vẫn thường
có.
Mặt khác, tiếng Việt
không phải chỉ phong phú trong tính cách bản địa của nó, tiếng Việt còn vay mượn
rất nhiều từ trong tiếng Hán xưa, khiến tiếng Việt còn được ưu điểm là tập hợp
đến hai ngôn ngữ, điều đó hoàn toàn không dư thừa hay lộn xộn, nặng nề, trái lại
càng làm tiếng Việt trở nên bác học hơn, trở nên đa dạng và sinh động hơn. Đây
là điều có thể có một số người chưa chú ý đúng mức lắm.
Nói về mặt ngữ học
hay văn phạm, mà ngày nay người ta thường gọi là ngữ pháp, tiếng Việt là một loại
tổ hợp từ mang đầy tính cách nghệ thuật và khoa học. Tức trong tiếng Việt có thể
có câu ngắn nhất mà cũng có thể có câu dài nhất. Câu ngắn nhất đương nhiên chỉ
là một từ, trong ngữ cảnh của nó, người Việt vẫn dễ dàng hiểu ra được, còn câu
dài nhất được tổ hợp lại bằng những câu ngắn một cách có phương pháp hoàn toàn
chặt chẽ và khoa học.
Nói khác, tiếng Việt
có thể có cách nói rất chuẩn và cách viết rất chuẩn không thể chê vào đâu được,
trừ khi người ta viết mà vì những lý do nào đó chẳng cần gì tuyệt đối chuẩn. Nhất
là văn nói thì thật khó chuẩn như văn viết, và văn nói hay viết theo cách bình
dân, thông thường thì khó mà chuẩn như văn viết hay nói kiểu bác học hoặc học
thuật. Có nghĩa tiếng Việt hoàn toàn thích ứng tuyệt hảo trong ngôn ngữ đời sống,
ngôn ngữ nghệ thuật, văn học, lẫn ngôn ngữ chuyên môn, khoa học, cả trong thế
giới hiện đại.
Có điều, trong
ngôn ngữ tiếng Việt mọi từ ngữ tiếng Hán đã được Việt hóa từ xa xưa thành tiếng
Hán Việt, nên máu huyết của nó là tiếng Việt mà hoàn toàn không còn là tiếng
Hán trong câu chữ tiếng Việt nữa, đó là điều phải lưu ý. Nên từ Hán Việt thì phải
đi chung với nhau, cũng như từ thuần Việt phải đi chung với nhau, để chúng
thành các tổ hợp riêng để kết hợp lại mà không thể lộn xộn, hổn độn.
Như chỉ có thể nói
nam quân nhân, nữ quân nhân, không thể nói quân nhân trai, quân nhân gái. Từ bộ
đội cũng là từ Hán Việt ghép lại, nên nếu nói bộ đội gái là nói ẩu, không đúng
cách. Phải nói nữ bộ đội hay nam bộ đội, không thể nói bộ đội trai. Cả ngôn ngữ
viết cũng thế, bảng mẫu tự la tinh của tiếng Việt từ xa xưa đã hoàn toàn chỉnh,
không thể sử dụng ký âm nào bên ngoài bảng đó từ A tới Y. Bởi thế không thể
dùng chữ Z để thay cho D, chữ F để thay cho chữ PH, chữ I (ngắn) để thay cho Y
(dài) hay ngược lại. Viết như vậy là kém tiếng Việt, kém văn hóa.
Còn phát âm miệng
thì đương nhiên giọng Hà nội là giọng chuẩn, nó phải được dùng trong ca hát
đúng phát âm chuẩn, nhưng không có nghĩa giọng miền Trung như Huế, hoặc giọng
miền Nam như Saigon là không hay ho hoặc dễ thương. Nói chung phát âm phải cần
tự nhiên, thoải mái theo vùng miền, còn ngôn ngữ viết luôn phải chuẩn mực chung
là điều bắt buộc.
Vì đặc trưng tiếng
Việt như thế, nên những ca từ trong âm nhạc tiền chiến hay nhạc trữ tình cũ rất
hay, rất nên thơ, thi vị, giàu hình tượng. Trái lại ca từ nhạc hiện thời thì rất
lai căng, đó cũng là một dấu hiệu báo nguy về văn hóa nói chung và về ngôn ngữ
Việt nói riêng. Ngày nay hình như lớp trẻ không còn có tâm hồn như cha anh họ nữa,
và tính cách quay lưng lại với nghệ thuật ngôn ngữ nói chung, nhất là ngôn ngữ
tiếng Việt nói riêng, đó chính là điều xuống cấp tệ hại và nguy hiểm trầm trọng
nhất.
Ngôn ngữ nói chung
và ngôn ngữ mỗi dân tộc đều có các quy tắc giống và khác nhau. Tiếng Việt cũng
thế. Vấn đề nghiên cứu tìm ra những mặt thông thường của nó, và những mặt đặc
điểm hay đặc biệt của nó, đó là một khoa học. Khoa học nghiên cứu ngôn ngữ tiếng
Việt thực chất rất triển vọng và phong phú mà cho tới ngày nay nhiều người còn
chưa thấy ra hết. Đó là tính khoa học và tính nghệ thuật trong tiếng Việt không
hề thiếu điều nào cả.
Thi ca của Nguyễn
Du, của Đoàn Thị Điểm chẳng hạn, không thể nào có được nếu ở bên ngoài tiếng Việt.
Đó là điều trên kia đã nói. Tính hình ảnh, tính âm nhạc, đó là mặt mạnh hay sở
trường của tiếng Việt, ngay cả đến các giai thoại mọi loại thường đều vận dụng
đến chính bản thân tiếng Việt. Chẳng hạn "dang tay ướm thử trời cao thấp,
xoạt cẳng mà xem đất vắn dài". "Trên trời mây trắng như bông, ở giữa cánh
đồng bông trắng như mây, mấy cô má đỏ hây hây, đội bông như thể đội mây về
làng”.
Có điều, trong
ngôn ngữ tiếng Việt mọi từ ngữ tiếng Hán đã được Việt hóa từ xa xưa thành tiếng
Hán Việt, nên máu huyết của nó là tiếng Việt mà hoàn toàn không còn là tiếng
Hán trong câu chữ tiếng Việt nữa, đó là điều phải lưu ý. Nên từ Hán Việt thì phải
đi chung với nhau, cũng như từ thuần Việt phải đi chung với nhau, để chúng
thành các tổ hợp riêng để kết hợp lại mà không thể lộn xộn, hổn độn.
Còn phát âm miệng
thì đương nhiên giọng Hà nội là giọng chuẩn, nó phải được dùng trong ca hát
đúng phát âm chuẩn, nhưng không có nghĩa giọng miền Trung như Huế, hoặc giọng
miền Nam như Saigon là không hay ho hoặc dễ thương. Nói chung phát âm phải cần
tự nhiên, thoải mái theo vùng miền, còn ngôn ngữ viết luôn phải chuẩn mực chung
là điều bắt buộc.
Nên nghiên cứu một
ngôn ngữ trước hết chính là nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ đó. Dù có gọi tên
là gì đi nữa, cấu trúc chính là văn phạm hay ngữ pháp của ngôn ngữ. Ngữ pháp
hay văn phạm là cái tự nhiên trong ngôn ngữ, nghiên cứu không là thay đổi gì nó
mà chỉ có nghĩa chỉ ra cái chuẩn mực của nó. Bởi thật sự ngôn ngữ thật ra chỉ
là thói quen sinh hoạt trong sử dụng giao tiếp giữa con người. Dùng lâu rồi
thành quen. Nhưng quen cũng có nghĩa phù hợp theo dân tộc tính, theo bản sắc
riêng của dân tộc đó.
Mặt khác, tiếng Việt
là tiếng nói xuôi, không phải tiếng nói ngược như các dân tộc khác. Có nghĩa
danh từ trong tiếng Việt đi trước còn tính từ tức bổ từ phải luôn đi sau. Tiếng
Việt chỉ nói hoa hồng, trời trong, không ai nói hồng hoa hay trong trời như các
tiếng nước khác. Chỉ trừ ra những tiếng gốc Hán Việt thì nói ngược nói xuội có
khi đều được cả. Nhưng đó thật ra chỉ là số ít. Như chiến chinh, chinh chiến,
hòa hiếu, hiếu hòa, nhưng không thể nói hòa bình thành bình hòa, âm hưởng thành
hưởng âm thì hoàn toàn trật lất. Tuy vậy tính bổ âm hay láy từ cũng là một
hương vị tự nhiên mà chỉ ngôn ngữ Việt mới có.
Cuối cùng, điều
thú vị nhất là đôi khi trong tiếng Việt có thể có sự lặp từ, lặp ý, tưởng thừa
mà thật ra không phải là thừa. Đó chỉ là ý muốn nhấn mạnh thêm hay bổ sung thêm
vậy thôi, có cũng tốt mà không có cũng chẳng sao. Như kiểu "Tôi đã nói rồi
mà". Chữ rồi thật ra chỉ nhằm nhấn mạnh thêm cho chữ đã để trọn vẹn hơn,
hay cũng cho thuận tai vậy thôi. Bởi ngôn ngữ phải có âm điệu, ngữ điệu, tức phải
nghe êm tai hay thuận tai tùy trường hợp, mà ý nghĩa này thì tiếng Việt là đặc
điểm hơn nhiều ngôn ngữ khác.
Nên nói chung lại,
điệp từ, điệp ý, mượn ý, mượn từ, đảo ý, đảo từ, một từ nhiều nghĩa, một nghĩa
nhiều từ để nhằm tránh trùng lắp trong từ ngữ, tựu trung cũng chỉ cho ngôn ngữ
được mượt mà, phong phú, linh hoạt, hay có khi mở rộng hoặc đào sâu thêm thế
thôi. Còn đặc điểm nữa là cách nói lái, có khi lái hai từ, lái ba từ, lái nhiều
từ, càng cho thấy tiếng Việt quả hết sức tinh tế, phong phú và ngộ nghĩnh.
"Kia mấy cây mía", "có vài cái vò", đố ai mà ngồi thống kê
cho hết. Thôi thì cũng mượn bài phóng bút ngắn, chớp nhoáng này để hầu lăng xê
thêm một chút ít tiếng Việt cũng là điều để mọi người có dịp mà thêm ngẫm nghĩ.
Tuy vậy tiếng Việt rất chặt chẽ trong cấu trúc của nó, đó là điều mọi người cần
quan tâm trước hết để hầu nhằm viết chuẩn xác, có nghĩa đây không phải chỉ là
ngôn ngữ của âm nhạc, của nghệ thuật, mà còn là ngôn ngữ của khoa học và của học
thuật thật sự. Và phải làm sao cho tiếng Việt càng ngày càng phong phú, điệu
nghệ và chuẩn xác thêm lên, đó chính là nhiệm vụ của những nhà ngữ học, những
người nghiên cứu đào sâu tiếng Việt.
ĐẠI NGÀN
(10/6/16)
**
TẠI SAO
CÓ TỆ NẠN SÙNG BÁI LÃNH TỤ
NƠI NHỮNG
NƯỚC CỘNG SẢN ?
Nguyên do chính yếu nhất là những người cộng sản
thật bụng đầu tiên quá cuồng tín, quá mê tín vào học thuyết Mác, nghĩ rằng nó
là học thuyết cứu nhân độ thế chẳng khác gì lý thuyết nhà Phật hay lý thuyết
của đạo Kitô, bởi vì phần lớn họ không tường sâu xa về khoa học và triết học,
nên từ sự hiểu biết hạn hẹp họ cho rằng những lãnh tụ cộng sản đầu tiên cũng
chẳng khác gì những người làm việc nghĩa vĩ đại, đó là lý do sự tôn sùng, thần
thánh hóa cá nhân thực sự. Nhưng về sau đó chỉ là kết quả của tuyên truyền
chính trị có ý đồ mà không là gì khác.
Nhưng trong hệ thống chính trị kiểu toàn trị cộng
sản, các hệ lụy về sau của không còn phải như trước nữa. Vì sau đó mọi người
phải đóng kịch tôn thờ để khỏi bị nguy hiểm, để thăng tiến, để hưởng lợi, nói
chung chỉ núp bóng thần tượng, lợi dụng thần tượng, trục lợi thần tường mà
không gì khác. Từ đó thần tượng trở thành huyễn tượng, thành ảo tượng, khiến
nhiều người bị mê hoặc, nhất là giới bình dân it học. Do đó kiểu đất nước nghèo
mà xây tượng lãnh tụ đến ngàn tỉ đồng, thậm chí có người đưa lên thờ trên bàn
thờ gia tiên, tổ phụ mình, những cái lố bịch đó đều chỉ có cùng cơ sở.
Còn lý do nữa, là thuần chỉ là phương chước nhằm
tập hợp sức mạnh chính trị quần chúng trong nước kể cả quốc tế. Khi phong trào
cộng sản quốc tế còn tồn tại, ở nước cộng sản nào người ta cũng thấy đầy tượng
Lênin và lãnh tụ cộng sản trong nước họ. Sự tôn sùng cá nhân kiểu như thế thực
chất chỉ là bề ngoài, nhưng bên trong nhằm lợi dụng kiểu thần tượng đó để nhằm
mối lợi chính trị. Đó chỉ là kiểu đầu cơ thần tượng. Vốn bỏ ra thực chất không
bao nhiêu mà thật sự có thể thu về được nhiều lợi. Hay sự buôn thần bán thánh
cũng phát sinh ra từ đó.
Thật ra việc thờ ngẫu tượng đã là hủ tục thời xa
xưa khi những dân tộc còn lạc hậu. Đó đi theo với sự mê tín dị đoan và trình độ
dân trí thấp kém. Bởi thế ở những nước dân chủ văn minh phát triển, không hề
còn tệ nạn đó nữa, chỉ có những nhân vật lịch sử được công luận ghi nhận hay
phê phán một cách khách quan, chính xác các điều hay điều dở về họ mà không thể
có sự cuồng tín, u mê, lạc hậu như những nước kém phát triển.
Nhưng nói cho cùng lại, mọi ý nghĩa thủ đoạn hay
phương thức chính trị nhất thời về lâu về dài đều vô nghĩa và không còn giá
trị. Bởi thế mọi thần tượng trong xã hội cộng sản, đặc biệt thần tượng về các
lãnh tụ chính trị đầu tiên, cuối cùng đều chỉ phụ thuộc vào ý nghĩa đúng sai
hay các hậu quả mang lại của học thuyết Mác. Tất cả mọi điều này toàn thể lịch
sử nhân loại cũng như lịch sử từng đất nước liên quan cũng dần dần khám phá hay
phanh phui ra hết, có nghĩa tuổi thọ của các thần tượng kiểu cộng sản thực chất
cũng chẳng còn lâu, như trường hợp tượng đài và thần tượng Lênin ở các nước
cộng sản trước kia giờ đây đã cho thấy rõ.
Có nghĩa từ sự hiểu lầm của những người cộng sản
đầu tiên, đến sau chỉ còn là sự mị dân và coi thường dân vì các mục tiêu chính
trị tách rời xa dân, đó là con đường đi của hầu hết mọi thần tượng lãnh tụ
trong các chế độ cộng sản. Bởi hễ thần tượng càng lên cao thì nhân dân càng
xuống thấp. Cuối cùng người ta chỉ còn biết thần tượng lãnh tụ mà không còn
biết nước hay dân là gì nữa. Thần tượng càng thành thần thánh thì nhân dân càng
trở thành như đất cục. Tính cách tỉ lệ ngược nhau là như thế.
Cũng có khi thần tượng trở thành như những con bò
sữa để mọi kẻ vắt sữa đủ loại cùng nhau vắt sữa, còn toàn xã hội đều trở thành
một tập đoàn kiếm cỏ về để nuôi những con bò sữa ấy. Đấy mọi tệ nạn của sự thần
thánh hóa cá nhân lãnh tụ ở các nước cộng sản mác xít nói chung đều chỉ giống
như thế. Cả đến giới văn nghệ sĩ đủ loại
cũng ưa chơi trò vắt sữa như vậy. Nên chỉ có xã hội kiểu độc tài toàn trị thì
mới có hiện tượng đó, còn xã hội tự do dân chủ thật sự thì hoàn toàn không bao
giờ có cả.
DẶM NGÀN
(10/6/16)
**
NÚI NGÀN says:
TỪ
KIÊU NGẠO CỘNG SẢN ĐẾN
VẤN
ĐỀ NHÂN QUYỀN NGỤY BIỆN
Học thuyết chủ nghĩa Mác từng tuyên bố nhằm
giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại nên những lớp người cộng sản đầu tiên
đi theo nó thường tỏ ra kiêu ngạo vì nghĩ rằng mình nắm lẽ phải, nắm chân lý,
việc làm của mình là tốt, mình là giai cấp tiên phong, tiên tiến nên coi thường
hết mọi người khác là lạc hậu, là phản động, là tư sản ích kỷ.
Nhưng chính bản thân Mác cũng mắc bệnh chủ
quan, kiêu ngạo hơn ai cả, vì Mác cả tin lý thuyết cộng sản của mình là đúng,
giai cấp công nhân tiên phong là đúng, nên Mác chủ trương quan điểm độc tài vô
sản tức chuyên chính vô sản. Thật sự Mác chỉ bé cái lầm, vì ông ta mù quáng, mê
tín vào biện chứng luận duy tâm Hegel một cách trái quẻ, nên sinh kiêu ngạo cho
rằng mình là người chiếm lĩnh chân lý khách quan, chủ trương độc tài bất chấp tự
do dân chủ là yêu cầu chân chính của thế giới loài người.
Nhưng bởi do tính cách cao ngạo trong lý
thuyết, từ Stalin đến Mao Trạch Đông, đến Pôn Pốt ... đều cao ngạo như thế cả.
Điều đó dẫn đến các hậu quả như các cuộc thành trừng của Stalin, các tại tập
trung tại Nga thời sau cách mạng, chính sách trăm hoa đua nở hay chính sách cải
cách ruộng đất của Mao Trạch Đông v.v... đều cùng trong trạng thái cao ngạo trở
thành ngược ngạo đó. Kiểu Krutschev từng lột giày đạp lên bàn tại diễn đàn LHQ
cũng là thứ như thế.
Nhưng ngày nay sau khi Liên Xô sụp đổ và
tan rã, ai cũng biết quan điểm cao ngạo của cộng sản trước kia đã xẹp xuống rồi,
chỉ cón lại một số tép riu nào đó còn bám víu, như trường hợp Vương Nghị trả lời
trong cuộc họp báo tại Canada vừa qua là một sự điển hình. Ngày nay nhiều người
đã thấy học thuyết Mác là phi khoa hoc, phi thực tế, không giải phóng cho ai cả,
trái lại chỉ đưa nhân loại vào chỗ độc tài độc đoán một chiều, vào chỗ chậm
phát triển, lạc hậu nhiều mặt, thế thì có gì để cao ngạo nữa.
Cho nên ý nghĩa của con người là nắm được
khách quan, chân lý đích thực và tôn trọng lẫn nhau. Nếu chỉ cưỡng đoạt được sự
thật giả dối, điều đó cũng chẳng gì giá trị, và sự hiểu lầm về ý nghĩa con người
cũng chẳng có gì giá trị. Bởi ý nghĩa của con người là ý thức, tinh thần, quyền
làm người, quyền tự do dân chủ mà không phải chỉ được nuôi sống. Trong trại
chăn nuôi thì loài vật cũng được nuôi sống mà làm gì có nhân quyền, vật quyền
cũng chưa chắc là có. Cho nên sự lạc hậu trong quan điểm của ngoại trưởng Trung
Quốc Vương Nghị đã cho mọi người thấy rõ. Nghị tự hào nhà nước Trung Quốc đã
nuôi sống, đã phát triển được cả tỳ dân đó đã là nhân quyền rồi.
Đó là bé cái lầm, tại sao không đòi hỏi vừa
nuôi sống, vừa sống tốt, vừa hợp nhân quyền mọi mặt mà chỉ nhằm thỏa mãn có
nuôi sống thôi. Chính quan điểm cao ngạo cộng sản ngày xưa đã trở thành quan niệm
ngụy biện ngày nay của nhiều người cộng sản hiện thời về nhân quyền là như thế.
Nói chung từ đầu đến cuối học thuyết Mác không đem lại cho con người điều gì
cao quý cả, nó chỉ đem lại sự tầm thường là chỉ biết sống ở trạng thái sinh học
mà quên đi hết hay bất chấp mọi ý nghĩa phong phú của con người mà cả nhân loại
từ ngàn đời xưa đã có. Đúng là quan điểm duy vật thô lậu thì khó có được quan
điểm nhân quyền nhân văn chỉ đơn giản là như vậy.
Đời sống kinh tế tập thể, đời sống xã hội
sinh học thuần túy, đời sống kỹ cương trại lính, nói cho cùng đó là các tiêu
chí tối hậu mà ngày xưa chủ trương đấu tranh giai cấp của Mác đã từng mơ ước đến
như một đáp số của bài toán xã hội cần giải quyết. Mác chưa đủ thông minh hay sự
trầm lắng để thấy được rằng mọi gút mắc của xã hội loài người chỉ có thể giải
quyết tốt đẹp bằng ý thức đạo đức và tri thức khoa học mà không phải bằng độc
tài để nhằm thực hiện đấu tranh giai cấp giả dối theo môt kiểu cách u mê và ảo
tưởng.
MÂY NGÀN
(09/6/16)
**
PHÂN TÍCH THỰC CHẤT VỀ TỰ DO VÀ ĐỘC TÀI
Thời phong kiến quân chủ đương nhiên là độc tài. Khi đó sức mạnh quân sự lọt vào tay cá nhân nào thì cá nhân đó làm
vua vậy thôi. Đó là ý niệm một nước không thể hai vua vốn ngày xưa rất phổ biến. Cũng có triều đại nhiều người cùng thế lực như nhau, cùng kết hợp hay cấu kết nhau làm vua, đó là mô thức nhị dầu chế, tam đầu chế, đa đầu chế thay vì nhất đầu chế thông thường, đó là kiểu vua tập thể, vua phe nhóm, vua cát cứ, như nước ta thời vua Lê chúa Trịnh. Kiểu vua theo phe phái này có khi cũng xảy ra trước kia dưới vương quyền La Mã. Thời tứ nhân bang hay Cách mạng văn hóa trước đây ở Trung Quốc cũng na ná như thế. Nói chung chế độ quyền lực duy nhất chỉ tập trung vào một cá nhân hay nhóm riêng
nào đó, đều gọi chung là chế độ độc tài hay chế độ vua quan, dù cá nhân hay tập thể, và ngày nay gọi chung là chế độ vua cá nhân hay vua tập thể.
Thường chế độ vua chúa hay quan quyền hay đi đôi với một học thuyết nào đó về thần quyền, như kiểu thần quyền tôn giáo ở Châu Âu thời trung cổ, hay kiểu thần quyền mệnh trời, vua thay trời trị dân, như trong thời xa xưa của ta và Trung Quốc. Trong thời cận đại học thuyết mác xít cũng theo quan điểm thần quyền nhưng trong dạng cách tân cũng như thế. Mác tuy là người duy vật, không tin có trời đất, thánh thần gì, nhưng mê tín
vào thuyết biện chứng luận duy tâm của Hegel một cách trái khoáy, cũng chủ trương độc tài hay chuyên chính vô sản, biến giai cấp vô sản thành giai cấp vua mới, tuy rằng trong thực tế họ không bao giờ có được điều đó. Nên vua không phải là thứ quyền lực lý thuyết nào hết, chỉ là thứ quyền lực thực tế thế thôi, ai nắm quyền được mà khống chế được mọi người khác phải thần phục thì được quyền làm vua chỉ là sự tự nhiên. Vua thì đi đôi với quan điểm độc tài, cho mình là nhất, hay làm bộ đóng kịch như mình là nhất, bằng mọi cách tuyên truyền để người khác tin là như vậy.
Thời Miền Nam cũ, ông Ngô ĐÌnh Diệm để đương đầu lại chế độ độc tài Miền Bắc, cũng tạm thời, chơi chế độ độc tài cá nhân kiểu như Lý Thừa Vãng, Lý Quang Diệu, Tưởng Kinh Quốc, Sukarno thời đó để chống lại chủ nghĩa cộng sản, nhưng các người khác thành công còn ông Diệm thất bại vì hoàn cảnh mỗi nơi một khác. Miền Nam có các yếu tố khuỵnh tả do Miền Bắc đưa vào, có phong trào Phật giáo thân Cộng một thời của Thích Trí Quang tung hoành ở Huế mà các nước khác không có. Chính sự thất bại của ông Diệm là như vậy. Nhưng Mỹ là đồng minh khi ấy của Miền Nam, thấy ông Diệm thất bại trong quan điểm độc tài,
bèn âm mưu đảo chánh lật ông Diệm, cuối cùng ông Dương Văn Minh là người Phật giáo được đắc lợi và mọi việc đã thành ngã ngũ. Mỹ mất cả chì lẫn chài cũng giống như Miền Nam vào nắm 1975 là như thế.
Nhưng thôi chuyện cũ qua rồi thì không tính. Vấn đề là ngay nay Việt Nam nên đi theo con đường dân chủ hay độc tài khi đất nước đã hòa bình và thống nhất, đó mới phải là điều cần tính. Bởi vì độc tài thực chất chỉ có lợi cho cá nhân hay thiểu số mà không có lợi cho đại cục hay số đông. Ông Diệm định chơi trò lấy độc trị độc tưởng là hay nhưng cuối cùng hóa dở. Nhưng độc tài cá nhân hay giai đoạn dù sao cũng chỉ là độc tài tạm thời, còn chính độc tài đảng trị hay độc tài ý hệ mới là kiểu độc tài không lối thoát và mút mùa lệ thủy. Lý do vì cái đơn lẻ không bao giờ tạo nên cơ chế còn cả hệ thống thì luôn tạo nên cơ chế, khiến trở nên quán tính chẳng khác gì cái mũ của Tề Thiên thì đố có con khỉ nào mà thoát ra được. Nên ông Mác chỉ cần một lần đưa ra lý thuyết vớ vẩn thì suốt đời xã hội phải lụy vào ông, đó chính là
cái hay của ông
Mác mà cũng là cái tội đồ của ông ta. Bởi trong xã hội độc tài kiểu ông ta đặt ra, đâu có khác gì đám gà bị mắc tóc, đâu có con nào mà bương ra riêng rẻ được.
Cho nên đối với loài người, cơ chế xã hội là cái quan trọng nhất. Trong
xã hội tự do dân chủ không thể tạo nên sự độc đoán vì có quyền bầu cử, ứng cử tự do và ba quyền phân lập để chế ngự và kiểm soát lẫn nhau. Trong chế độ độc tài nói chung đều không có các quyền như thế. Độc tài quân chủ phong kiến, độc tài phát xít quốc xã, độc tài cộng sản mác xít đều không ngoài tính cách như thế. Nó chẳng khác gì vạt cây cột chum với nhau làm sao mà lớn lên được, bầy chim cột chùm với nhau làm sao mà bay lên được, cũng vậy loài người mà dính chùm với nhau làm sao mà độc lập tự do để nhằm phát huy được. Cho dù quy luật vật lý, quy luật sinh học, quy luật tâm lý cũng chỉ như thế thôi. Các Mác thực sự là nhà triết học đốt nát nhất trong chính lịch sử nhân loại là như thế. Ngày nay rõ ràng nó chẳng giúp ích kết quả mặt nào cho loài người mà thực chất nó chỉ gây tai hại nhiều mặt. Bởi vì trong xã hội độc tài mác xít, mọi cái tinh hoa trong xã hội đều biến mất để nhường chỗ cho mọi cái kém tinh hoa cai quản và phát triển, thế thì thử hỏi còn gì giải phóng hay vươn lên cách tự nhiên khách quan như trong mọi chế độ tự do dân chủ đúng đắn, đàng hoàng được.
Nên vấn đề ngày nay nếu Việt Nam vẫn còn bám hoài theo học thuyết chủ nghĩa Mác về phương diện nào đó thì trách ai bây giờ. Trách những người đã thực hiện chủ nghĩa Mác, trách những người còn theo
đuổi chủ nghĩa Mác, hay trách toàn đất nước, toàn dân chỉ có thụ động về chủ nghĩa Mác ? Có lẽ trách cả ba thì đúng hơn. Bởi vì nếu không có đầu không có đuôi lẫn chẳng có cả khúc giữa thì còn có cái gì được nữa ? Nhưng nếu ngày nay thực chất đã bỏ chủ nghĩa Mác lạc hậu phi lý để tiến vào kinh tế thị trường, tiến vào hội nhập toàn cầu rồi, thì thử hỏi độc tài làm chi, vì con thỏ thì có cần gì cứ giữ mãi chiếc mai của con rùa ? Đó là điều chẳng ai lý giải ngày hôm nay, cả tập thể cầm quyền cũng như toàn dân
cũng vậy. Đó
phải chăng chỉ là do tính ù trệ của bản chất con người hay dân tộc Việt Nam, tức là tính thụ động, tính quán tính, tính thiếu năng động, tính ủy mị, tính, tính vô trách nhiệm và tính phi đề kháng mà rất it các dân tộc nào trong lịch sử cũng như trong thế giới cận và hiện đại có được như thế.
MAI NGÀN
(09/6/16)
**
ĐẠI NGÀN says:
MỘT
THÓI XẤU CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC TỪ BỎ
Ở
CÁC NƯỚC CỘNG SẢN
Thói xấu đó là tôn thờ vô nguyên tắc về
lãnh tụ, đặc biệt lãnh tụ sáng lập ra chế độ cộng sản. Nói vô nguyên tắc vì nó
giả tạo, già đò, chưa chắc là thực chất. Bởi vì ai cũng hiểu lịch sử chỉ phê
phán, nhận thức đúng khi nào sự kiện lịch sử nào đó đã qua lâu. Ngược lại mọi sự
kiện lịch sử còn gắn liền với quyền bính của nó trong hiện tại, điều đó chưa chắc
khách quan mà thực chất phần lớn đều chỉ giả tạo.
Như thế bất kỳ nhân vật lịch sử nào đã qua
xong thời đại của mình, sẽ thuộc khách quan phê phán và lịch sử sau này kết luận,
không thể nào quá khứ cứ mãi vượt thời gian qua hiện tại rồi cũng mút mùa đến
tương lai chưa biết khi nào mới chấm hết. Đó chỉ là điều khác thường và bất cứ
những người nào tham gia vào điều bất thường cũng chứng tỏ họ cũng đều bất thường,
tức không còn ý nghĩa hay giá trị bình thường nào cả.
Ngay như nước Mỹ là nước tự mình lập quốc,
thế nhưng người lãnh tụ lập quốc đầu tiên của họ là G. Washington ngày nay cũng
chỉ để lại những tượng đài do các thế hệ sau dựng lên, được ghi vào sử sách hay
chương trình giảng dạy cho học sinh một cách khách quan như sự kiện lịch sử
quan trọng, không hề có thói quen suy tôn, thần thánh hóa, mê muội hóa toàn dân
của họ. Nên ví thử như ông Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản, không đi
theo cộng sản, vậy có thể nào có hiện tượng đó không ?
Tất nhiên là không. Bởi bất kỳ nước cộng sản
nào cũng có thói quen như thế. Đó là thói quen tuyên truyền, thần thánh hóa nhằm
lôi kéo nhiều người khi các lãnh tụ đó chưa lên cầm quyền. Khi họ đã lên cầm
quyền rồi, sự thần thánh hóa vẫn tiếp tục để giữ giềng mối cho chế độ độc tài.
Cuối cùng, khi lãnh tụ đã chết rồi, vẫn cứ được thần thánh hóa để cố giữ cho
các thế hệ sau phải luôn tuân phục hay thúc thủ như thế. Trường hợp điển hình
nhất tới nay là các lãnh tụ Bắc Hằn, cho dầu thật ra mọi lãnh tụ cộng sản trong
quá khứ thực chất ban đầu cũng chỉ là những cán bộ cộng sản được đào tạo bình
thường từ Mạc tư khoa thời Lênin trở đi mà chẳng có gì ghê gớm hay thần thánh
khác thường cả.
Nhưng thật sự càng đề cao lãnh tụ bao nhiều,
có nghĩa là càng xem thường con người, xem thường dân tộc, xem thường đất nước
bấy nhiêu. Bởi như vậy là đặt tất cả vế sau phải gục đầu, phủ phục trước vế trước,
còn làm sao khiến con người có độc lập tự do, cũng như xã hội được phát triển
và tiến lên theo triển vọng của mình, làm sao đất nước được nở mày nở mặt như
là một quốc gia, một dân tộc hoàn toàn độc lập, tự do và tự chủ.
Như thế cũng có nghĩa mọi người cộng sản chỉ
là nạn nhân của học thuyết chuyên chính của Mác. Bởi một khi đã chuyên chính rồi
không bất cứ một ai thoát ra được kể cả những lãnh đạo cộng sản cao nhất về
sau. Đó là kiểu xếp hàng dọc đi lên, không ai có thể ra khỏi hàng hay hay ngững
đầu cao hơn tấm đanh quyền lực ý hệ thường xuyên vẫn có trên đầu của họ, quan
cũng vậy mà dân cũng vậy. Quan thì chịu phép của hệ thống quan trên, còn dân
thì chịu phép của hệ thống quan dưới. Đó là cái từng một thời người ta gọi là sự
lãnh đạo toàn diện.
Đó cũng là thứ được gọi là dân chủ tập thể,
lãnh đạo tập thể, dân chủ cả triệu lần, dân chủ nhân dân v.v... mà thực chất nó
cũng đều chỉ một như thế. Đó chẳng qua vì lúc đầu học thuyết Mác đã thần bí hóa
giai cấp vô sản. Nhưng thực chất nó chỉ là phản khoa học, vì con người ai cũng
bình đẳng như nhau lúc ban đầu, chỉ khác nhau về sau do hoàn cảnh, do tài năng,
do học vấn hiểu biết. Và xã hội luôn phải cần những thành phần tinh hoa lèo
lái, không phải cần giai cấp vô sản kiểu thần bí lãnh đạo như quan điểm mê tín,
ngu dốt của Mác đưa ra vào thời kỳ thế hệ của ông ta.
Nhưng giai cấp vô sản thực chất chỉ là thứ
bung xung ban dầu, về sau trong thực tế họ cũng chẳng cầm quyền hay lãnh đạo gì
cả mà đó chỉ là những người nhân danh họ, lợi dụng họ. Trường hợp nhà nước Liên
Xô trước đây hay nhà nước Trung Quốc cho tới nay cũng y như thế. Nhưng chính những
người lợi dụng họ phải thổi phồng lãnh tụ lên nhiều mặt để làm mê muội họ nhằm
tạo nên một sức mạnh quần chúng mù quáng để các tầng lớp trên dễ bề thống trị.
Nên kết luận lại, mọi thói quen tâng bốc,
thành thánh hóa lãnh tụ trong mọi nước cộng sản từ xưa nay thực chất đều thảy
giả tạo, kiểu như chút cái bong bóng cao su nhỏ xíu ban đầu được thổi phồng lên
to tướng. Đó là một thói quen giả dối, phi lý và thậm chí vô nhân bởi vì hi
sinh bao quyền lợi chính đáng của mọi người nhằm cho hư danh ảo của chỉ một người,
đó là lãnh tụ cộng sản. Mà đã có tâm lý như thế thì còn nói gì đến tình cảm yêu
nước, yêu dân, yêu con người hay yêu xã hội thật lòng được nữa. Ấy chẳng qua
cũng chỉ hùa theo để sống sao có lợi cho bản thân thế thôi. Đó là ý nghĩa tại
sao lịch sử khách quan không trả về cho lịch sử khách quan là như vậy.
NON NGÀN
(09/6/16)
**
NGÀN KHƠI says:
CHIẾN
TRANH VÀ LỊCH SỬ
Lịch sử là sự diễn biến chung của xã hội đã
lui về quá khứ nên trong lịch sử có lịch sử của thời bình và lịch sử của thời
chiến. Tất nhiên lịch sử của thời bình ít người lưu ý tới, nhưng lịch sử của thời
chiến thường được ghi đầy đủ và đậm nét nhất. Đó là ý nghĩa chung của thói
quen những người viết sử mặc dầu chưa phải
hợp lý, và mọi nơi trên thế giới từ hồi xa xưa đến nay vẫn thế.
Bởi vì chiến tranh hay sự đối kháng giữa
hai bên nào đó, không chỉ trên bình diện đất nước, dân tộc, mà cả trên bình diện
dòng tộc, phe phái hoặc cá nhân cũng đều vậy. Người Việt có câu được là vua
thua là giặc, câu nói rất hay, vì nó chỉ mang tính khách quan mà không nhằm nói
xấu hay bôi bác bên nào cả. Bởi chính kẻ chiến thắng mới tiếp tục ý nghĩa lịch
sử về phần mình, cho dù hay hoặc dở, tốt hoặc xấu, điều đó không phải hiện tại
mà chỉ tương lai mới phán xét chung về nó.
Đặc biệt, mỗi thời đại ý nghĩa của chiến
tranh cũng lại khác nhau. Thời cổ đại xa xưa chiến tranh chỉ vì mộng tranh bá đồ
vương riêng, thời cận đại chiến tranh là do nhu cầu kinh tế của đất nước, còn
trong thời hiện đại vừa qua trong thế kỷ trước, chiến tranh còn mang màu sắc ý
thức hệ kiểu ông nói gà bà nói vịt, sãi bảo sãi hay vãi bảo vãi đúng, nhưng chỉ
khi ngã ngủ kết cục rồi mới thấy ai là hay hoặc ai là đúng.
Như vậy chiến tranh và lịch sử là điều
không thể không đề cập, vì nó liên quan đến mọi người và toàn xã hội nói chung.
Nhưng chiến tranh thực chất cũng chỉ là hiện tượng bên ngoài, chính cái bên
trong là ý nghĩa của nó, mục đích của nó, thực chất của nó về mọi mặt, đó mới
là điều quyết định nhất. Thế cho nên không phải thái độ ham chiến hay phản chiến
nào đó mới là đúng mà thực chất chính thái độ nào đó với chiến tranh có nhận thức
sáng suốt và tự chủ mới là đúng.
Bởi vì trong chiến tranh luôn có sự hùa
theo, sự kéo theo, sự ăn theo, sự bắt buộc theo, nó như một hiện tượng xã hội,
hiện tượng nhân loại, và chỉ sau khi nó qua rồi người ta mới có thể thực tình
đánh giá nó được. Nên nói cho cùng lại chính con đường hòa bình, con đường văn
hóa mới là ý nghĩa phát triển của lịch sử xã hội mà không phải chiến tranh. Những
học thuyết về bạo lực, kể cả bạo lực cách mạng đều cho thấy là hoàn toàn sai
trong quá khứ. Bởi vì từ ngữ cách mạng bị lợi dụng, bị lạm dụng theo cách sai
trái, phi đạo lý, phi khoa học, thì thử hỏi ý nghĩa của bạo lực làm sao biện
minh hay chính đáng được đối với mọi điều từng xảy ra trong nó.
Nên nói chung lại, lịch sử cuối cùng chỉ là
ý nghĩa và kết quả của nó, tức qua các giai đoạn, sự kiện của nó, mà không phải
mọi hiện tượng bề ngoài của nó. Chiến tranh thực chất chỉ là hiện tượng bề
ngoài. Đi ca ngợi, tâng bốc, kể công một hiện tượng bề ngoài đó luôn chỉ là lời
nói điêu không thành thật, không chính đáng. Bởi thế mọi thái độ thần thành hóa
chiến tranh, tôn thờ chiến tranh, thần thánh hóa, tôn thờ các tác nhân chiến
tranh đều chỉ là các thái độ của quần chúng xu phụ, không phải thái độ của người
hiểu biết đúng đắn. Bởi mọi bà học của lịch sử người ta chỉ có thể rút ra được
trong tương lai mà không bao giờ rút ra được trong hiện tại.
NON NGÀN
(09/6/16)
**
NGÀN PHƯƠNG says:
Ý NGHĨA VÀ TƯ CÁCH TRÍ THỨC
Cái hơn của người trí thức là hiểu biết hơn
và sáng suốt hơn người kém trí thức một bậc. Muốn được như thế cần phải có học,
tức có tri thức và có tư duy tự chủ, độc lập. Hiểu biết và tư duy độc lập rốt lại
là ý nghĩa đặc trưng của người trí thức. Hiểu biết vừa có nghĩa có kiến thức, lại
vừa có khả năng vận dụng tốt các kiến thức mà mình có.
Do đó thời sinh viên chưa thể ai được gọi
là trí thức, bởi vì khi đó kiến thức đều chưa đầy đủ và nhận thức còn chưa trưởng
thành. Đó là lý do khi thời sinh viên tham gia phong trào nọ phong trào kia
chưa hẳn là điều gì công trạng chung hay hãnh diện cả. Sinh viên đi với các
phong trào nhất thời trên toàn thế giới ở đâu cũng có cả. Đặc biệt phong trào
sinh viên khuynh tả trước kia cuối cùng rồi cũng chẳng còn lại ý nghĩa gì ngoài
một số được áo mũ xênh xang, địa vị trên trước nhờ được ban thưởng hay có công
năng sử dụng. Những người như thế thì còn gì có tư duy độc lập mà chỉ suy nghĩ
theo chiều, theo lệnh.
Nên trí thức nói cho cùng lại, là người có
hiểu biết và tư duy của riêng mình. Chính sự độc lập trong nhận thức và sự độc
lập trong suy xét, đó mới là ý nghĩa hay giá trị cao nhất của người trí thức. Tức
người trí thức sẳn sàng hợp tác với người khác vì lợi ích chung, không thể theo
đuôi, theo lệnh của người khác vì lợi ích riêng hay vì thiếu quan điểm độc lập
của mình. Trí thức được đào tạo từ đầu tới cuối theo một vết mòn đã có, theo mục
đích đã có của người khác, đó thực chất đều không phải là trí thức đúng nghĩa
hay chân chính.
Bởi nếu trí thức chân chính phải thấy rằng
chiến tranh chỉ là việc bất đắc dĩ nào đó trong xã hội loài người. Bởi vậy chống
chiến tranh là đúng nhưng không phải phản chiến mọi loại là đúng hay phản chiến
kiểu có lợi cho riêng ta là đúng. Đó là chưa nói khi chiến tranh đã qua lâu rồi
mà ý thức còn hận chiến tranh, cho dù thực tâm hay giả tạo, đóng kịch, đều
không phải là thái độ trí thức đúng nghĩa.
Vả chăng khi chiến tranh xảy ra ở hai nước,
công dân nước nào cũng phải làm nhiệm vụ của nước mình trong thời chiến. Cái đó
là bắt buộc chẳng có gì đáng nói. Chính việc trốn quân dịch, hay a tòng vào cái
gì đó vốn không phải là nghĩa vụ đối với đất nước mà tự mình hiểu ra được, đó mới
là đáng khinh hay đáng tội. Như vậy nếu trường hợp ông Bob Kerry, từng là một
quân nhân Mỹ thời trẻ, nay ông đã lớn tuổi rồi, đã có nhiều đóng góp cho văn
hóa giáo dục, có nhiều hiểu biết về văn hóa và giáo dục trội hơn nhiều người
khác để tham gia vào ban quản trị điều hành Đại học Fulbright Mỹ tại Việt Nam
thì có gì để người trí thức Việt Nam phải câu mâu hoặc phản đối ?
PHƯƠNG NGÀN
(09/6/16)
**
NÓI VỀ NGUYÊN LÝ KHOA HỌC
VÀ NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC
Nhân đọc
lại các bài viết "Cạnh tranh sinh tồn" của cố giáo sư Trần Văn Toàn,
bài "Tìm hiểu xã hội học" của GS Lâm Ngọc Huỳnh, bài "Sứ bộ Việt
Nam Trần Viết Xương sang Pháp 1840" của ông Nguyễn Toại, được đăng trên Tạp
Chí Đại Học Huế những năm 1950, tức cách đây trên nửa thế kỷ, vừa rồi được ông
Nguyễn Văn Lục cho số hóa và đưa lên báo điện tử DCV online, tôi muốn có bài
phóng bút ngắn, chớp nhoáng này, coi như một điểm xuyết thêm với các ý tưởng của
những bậc tiền bối.
Thật vậy
mọi sự tìm tòi, hiểu biết, nghiên cứu của con người về mọi mặt đều không ra
ngoài hai khu vực nền tảng là khoa học và triết học, đó mới là điều đáng nói nhất.
Nhưng cả khoa học và triết học đều đặt cơ sở trên lý trí và tư duy con người,
đó là tiêu chuẩn chung nhất, và đó cũng là điều ý nghĩa nhất. Có điều đối tượng
của khoa học là mọi cái cụ thể, còn đối tượng của triết học là mọi cái trừu tượng.
Như thế cũng có thể nói khoa học và triết học luôn không khác nhau, nhưng triết
học chính là thượng tầng kiến trúc còn khoa học là hạ tầng cơ sở, tức cả hai
không hề triệt tiêu nhau mà hỗ trợ hay đòi hỏi nhau để có trong những ý nghĩa
nào đó. Nói khác đi, không gian của khoa học là không gian phẳng, tức không
gian bề mặt, còn không gian của triết học là không gian chiều sâu, tức không
gian nhiều chiều. Vì khoa học bao giờ cũng chỉ bắt buộc dừng lại ở cấu trúc cụ
thể, còn triết học thì phải đi tới tận kỳ cùng nhằm lý giải ý nghĩa bên trong.
Thế nhưng
nguyên tắc của cả hai là nguyên tắc tư duy lô-gích, có nghĩa nguyên lý lô-gích
hay hữu lý hoặc thuần lý của vấn đề chính là điều bó buộc mà cả hai không thể
nào tách rời được. Như thế cũng hiểu được không gian cụ thể là vô cùng, nhưng
có đi đâu cũng chỉ gặp có cái cụ thể. Trong khi đó không gian chiều sâu cũng là
cái vô cùng, và có đi tới đâu cũng không bao giờ cùng tận.
Nói như
thế cũng để thấy rằng triết lý tư biện thuần túy cũng chỉ là triết lý nghèo nàn
nhất, và nhà triết học danh tiếng Hegel là trường hợp như thế. Hegel nổi tiếng
không phải do cái gì ông ta tìm thấy mà là do chính cái gì ông ta suy nghĩ
trong đầu óc của ông ta. Cũng tương tự như thế, nếu triết học mà chỉ mượn thực
tiển hay khoa học một cách thô thiển, thiếu căn cơ, triết học đó cũng chỉ chỉ vớ
vẩn hay cạn hẹp, đó là trường hợp của Mác. Cho nên từ Hegel tới Mác chỉ là từ
cái cực đoan này tới cái cực đoan khác, và cái gọi là biện chứng luận chẳng qua
cũng chỉ là lối nói suông, thậm chí vô nghĩa và dư thừa về mặt khoa học cụ thể
cũng như về mặt triết học chiều sâu.
Chuyển
qua khoa học xã hội hay xã hội học, thực ra cơ bản đây vẫn là khoa học về con
người hay nhân học. Vì xã hội cũng chỉ là tổ hợp mọi vận động của từng cá nhân
con người. Nhưng nơi con người ý nghĩa quan trọng nhất là ý nghĩa ý thức, tâm
lý, không phải ý nghĩa sinh học như mọi loài sinh vật khác. Có nghĩa xã hội học
con người không phải kiểu xã hội học sinh vật, cũng không phải khoa tổ hợp yếu
tố thể lý nơi mọi cá nhân. Nhưng tâm lý ý thức con người lại là cái gì trừu tượng,
bởi vậy xã hội học nhân văn vừa có nền tảng triết học lại vừa có cơ sở khoa học
thực nghiệm. Nhưng cái sau lại nặng hơn cái trước, đó mới là ý nghĩa thực chất
của khoa xã hội học. Cho nên cũng có thể nói khoa kinh tế học, khoa chính trị học,
khoa lịch sử học, thực chất cũng chỉ là những khía cạnh, những bộ phận riêng của
khoa xã hội học thế thôi.
Bây giờ
chuyển sang lịch sử học. Phái bộ Trần Viết Xương của triều Nguyễn ta sang Pháp
vào giữa thế kỷ 19 đó là vấn đề sử học. Nó nhằm giải quyết mối căng thẳng của
Việt Nam với tác động của phương Tây đang xảy ra lúc đó, mà cụ thể là vấn đề thực
dân và vấn đề truyền đạo. Khi đó người ta biết rõ các thủ đoạn của thực dân Anh
đối với các nước thuộc địa như thế nào, và chính sách của nước Pháp cũng không
đi ra ngoài ý nghĩa đó. Tuy thế ý nghĩa truyền đạo chỉ là ý nghĩa riêng, còn ý
nghĩa thực dân cũng là ý nghĩa riêng, nó có thể gắn với nhau về mặt nào đó, hay
gắn với chính trị chính quốc về mặt nào đó, nhưng tuyệt đối không thể nhập nhằng
hay úp bộ cả ba vào một. Có nghĩa vấn đề chính trị quốc tế của châu Âu thời đó,
vấn đề truyền bá tôn giáo mà cụ thể là tôn giáo độc thần Thiên chúa giáo cũng
là bối cảnh chung thời ấy mà các nước Á đông phải hứng chịu. Tôn giáo là
về mặt triết học, còn thực dân là ý nghĩa kinh tế. Nhưng chính sự vụng về, lạc
hậu về mọi tầm nhìn và hiểu biết của triều Nguyễn lúc đó đối với thời cuộc
đương thời mới là ý nghĩa đáng nói nhất. Triều Nguyễn đã cấm đạo một cách hẹp
hòi, đã thúc thủ trước yêu cầu bành trướng hay xâm lược của thực dân chính là yếu
tố thất bại về ngoại giao và chính trị quân sự để tạo ra sự mất nước.
Thế nên
chính trị thực chất phải đòi hỏi như một chính trị khoa học, cụ thể, khách
quan, sáng suốt, không thể chính trị kiểu ý thức hệ mù mờ vu vơ như chính trị
phong kiến kiểu Khổng giáo ngày xưa và ngày nay là chính trị kiểu ý hệ mác xít
cộng sản. Bởi ý thức hệ hay hệ thống tư tưởng chẳng phải dó khoa học khách quan
tạo nên, cũng chẳng phải mặc khải huyền bí từ trời rơi xuống. Nên cá nhân đưa
ra một hệ thống tư duy thì làm sao không thiếu sót, không gắn vào hoàn cảnh lịch
sử mỗi lúc. Cho dù Khổng từ hay Các mác cũng thế. Nhưng cái ít tệ hại của Khổng
tử là một triết học nhân văn, lấy đạo nhân làm nền tảng, lấy đạo đức làm khuyến
thiện. Trong khi đó tư tưởng của Mác lấy duy vật làm nền móng, lấy đấu tranh
giai cấp làm tiêu chí, và lấy bạo lực, cưỡng chế làm công cụ. Đã thê nó lại
nhân danh khoa học nên khiến một bộ phận lớn trong nhân loại đã từng nhầm lẫn.
Nên cái tệ hại nữa của nó là tuyên truyền, mà tuyên truyền là nói sai sự thật một
cách sai trái. Ngược lại tuy thời đại của Khổng tử là phong kiến, ông không có
gì về tư duy khoa học để nhân danh cả, nhưng ông chỉ nhân danh luân lý đạo đức,
nhất là ông đề cao tính chân chính, chân thực cả cá nhân con người và xã hội,
đó là điều nổi bật và ưu việt nhất của Khổng tử so với Mác. Bởi Khổng tử luôn
luôn nêu cao thuyết chính danh, trong khi Mác chỉ bám vào quan điểm vô sản và
quan điểm đấu tranh giai cấp bằng bạo lực. Đó là lý do qua hàng ngàn năm học
thuyết Nho giáo của Khổng tử được áp dụng khắp hầu Á đông, vẫn không có hệ lụy
nào thật sự khủng khiếp, và nó vẫn lan tỏa trong xã hội với nhiều cảm tình. Ngược
lại học thuyết Mác mới chỉ được áp dụng non một thế kỷ đã mang đến quá nhiều hệ
lụy và thất bại, làm vong thân cá nhân và xã hội quá nhiều mặt không thể nói hết.
Bởi vì nó không phải là học thuyết triết học chiều sâu, chính danh và xứng
đáng, cũng chỉ là một học thuyết khoa học nông cạn, phi thực tế và nửa mùa. Đấy
đó là ý nghĩa khác nhau của sự có hay không có nguyên lý khoa học và triết học
đúng đắn cũng như sự vô cùng cần thiết các nguyên lý khoa học và triết học đúng
đắn đều luôn luôn như vậy.
THƯỢNG NGÀN
(08/6/16)
**
MỸ, TRUNG QUỐC, VIỆT NAM NGÀY NAY
VÀ TRONG TƯƠNG LAI
Ngày nay thế giới chia làm nhiều nhóm chính : nhóm Bắc Mỹ, nhóm Cộng đồng
chung châu Âu, nhóm các nước Asean, nhóm các nước Ả Rập Hồi giáo, nhóm các nước
Phi châu, nhóm Nga Trung Quốc, nhóm các nước Á châu, nhóm các nước cộng sản cũ
còn lại. Việt Nam ngày nay thực chất vừa thuộc nhóm các nước cộng sản cũ còn
lại vừa thuộc nhóm các nước Asean. Nhóm Asean có nghĩa là nhóm các nước đang
phát triển, nhóm các nước cộng sản còn lại có nghĩa còn lâu dài chịu hậu quả
kinh tế xã hội chính trị để lại trong quá khứ về nhiều mặt tinh thần cũng như
vật chất ngheo nàn, lạc hậu, nhất là thói quen về cơ chế tổ chức xã hội kiểu
quán tính khó thể nào sớm thoát ra được.
Khi thế giới chiến tranh lần thứ nhất rồi lần thứ hai nổ ra, nguyên nhân
chủ yếu là do nước Đức khi ấy xé rào đối với trật tự chung của châu Âu, lần đầu
với tham vọng đế quốc, lần sau với tham vọng chủ nghĩa quốc xã, khiến cả châu
Âu phải rơi vào cuộc chiến tàn khốc, cả hai lần nước Mỹ phải đều nhảy vô để ổn
định lại thế giới, châu Âu lại được yên bình phát triển, ngày nay trở thành
cộng đồng chung châu Âu, là mô hình thành công phát triển thống nhất trong hòa
bình mà toàn thể các quốc gia châu Âu đều được hưởng. Cộng đồng châu Âu trở
thành một khối quốc gia đồng minh với Mỹ, bình đẳng với Mỹ cho đến ngày nay, cả
hai cùng phát triển có lợi.
Cũng thế, khi cuộc cách mạng bôn sê vích nổ ra ở Nga năm 1917, nước Nga đi
theo chủ nghĩa cộng sản, điều đó sau thế chiến thứ hai dẫn đến nhiều cuộc chiến
tranh nóng và lạnh ở một số nước trong khối cộng sản than Liên Xô và khối tư
bản than Mỹ. Cuối cùng chiến tranh lạnh chấm dứt khi bức tường Bá Linh sụp đổ,
Liên Xô tan rã, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới cáo chung, chỉ còn một số
nước vẫn kiên trì đường cũ là Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam, cả
thảy chỉ bốn nước. Thế nhưng trong bốn nước này chỉ có Triều Tiên là nước không
giống ai, trong khi Trung Quốc và Việt Nam đều hướng theo đổi mới, tức từ bỏ
chủ nghĩa cộng sản it ra là mặt hình thức để quay về thực tế kinh tế thị
trường, riêng Cuba rang kỳ cượng rồi nay cũng phải đi theo nốt.
Như vậy rõ ràng nói về chính trị thế giới thì mọi nước bình thường, mọi
nước tự do dân chủ khó thể nào đánh nhau, khuynh loát nhau, trừ khi các nước
rơi vào chỗ độc tài như phát xít, quốc xã, hay các nước cộng sản cũ mới thường
đánh nhau để giành quyền lợi và địa vị lãnh đạo, đó là chuyển hiển nhiên bình
thường mà ai cũng có thể thấy được qua lịch sử quá khứ. Chẳng hạn như trong thế
kỷ trước, sự đánh nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Trung Quốc và Việt Nam,
giữa Việt Nam và Khmer đỏ là điều hết sức rõ ràng không ai có thể phủ nhận. Bởi
vì trong các chế độ độc tài, quyền hành chỉ tập trung vào tay thiểu số, thiểu
số đó dù là bè nhóm dù là cá nhân vẫn hướng đến cái lợi cụ bộ, cái lợi riêng tư
là chính, như vậy chiến tranh thôn tính nhau là điều khó thể nào tránh khỏi cho
dù ngôn ngữ tuyên truyền như thế nào để cuối cùng phải có một kẻ làm vua chung.
Thế nhưng ngày nay hoàn cảnh Trung Quốc và Việt Nam không còn giống hoàn
toàn như ngày xưa nữa. Mỹ vẫn là nước còn đó và nước đủ sức mạnh duy nhất để
can thiệp vào mọi sự xung đột các nơi, đó vừa quyền lợi của Mỹ cúng vừa quyền
lợi chung cho toàn thế giới. Vì Mỹ là nước tư bản tự do, luôn muốn tìm kiếm lợi
nhuận trong hòa bình. Những luận điệu như xa xưa như Mỹ là nước đế quốc, Mỹ là
nước mong chiến tranh để bán vũ khí, chỉ là những luận điệu rẻ tiền của những
kẻ hung thần chính trị và đám quyền chúng dốt nát cả tin bị tuyên truyền lừa
bịp mà loại các kẻ khuynh tả ở miền Nam trước năm 1975 luôn không thiếu, thậm
chí còn bêu rếu ngu xuẩn Mỹ là nước thực dân mới. Bởi thế mọi sự xoay trục của
Mỹ từ xa xưa vẫn đều cho thấy Mỹ bao giờ cũng thế, chẳng khi nào có tham vọng
đế quốc theo kiểu tuyên truyền rẻ tiền, dối gạt gì cả.
Ngược lại Trung Quốc tuy danh nghĩa là nước đồng chí anh em với Việt Nam,
Trung Quốc lại cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, nay lại đang tôn tạo và lập
căn cứ quân sự trên phần đảo Trường Sa của Việt Nam, có nghĩa học thuyết cộng
sản luôn không tin được và những tập đoàn lãnh đạo các nước cộng sản từ trược
nay luôn không tin được. Bởi chủ nghĩa đó không có thực chất mà chỉ là những
ngôn ngữ tuyên truyền để nhân danh các quyền lợi chung cho các mục đích riêng
nào đó vậy thôi. Nói như thế cũng để phân biệt dân tộc, đất nước, xã hội như
một thực thể tự nhiên và ý thức hệ, chủ nghĩa, cơ chế chế độ chính trị vẫn chỉ
cái bề nổi bên ngoài, nhiều khi chỉ là cái bề nổi giả tạo, giả dối và áp đặt
sai trái. Vậy nên nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc, đất nước Việt Nam,
đất nước Trung Quốc thực ra chẳng có điều gì để phải sợ nhau. Nhưng cái sợ nhất
là tập đoàn độc tài lãnh đạo hay cầm quyền tại các nước đó.
Nên ngày nay Việt Nam có sợ Trung Quốc chính là sợ ban lãnh đạo độc quyền
hay độc đoán độc tài tại Trung Quốc. Đó là điều tại sao Việt Nam cần sợ Trung
Quốc mà không cần sợ Mỹ hiện nay. Bởi cơ chế đất nước Mỹ là cơ chế tự do dân
chủ đúng nghĩa, không bất kỳ người lãnh đạo Mỹ là có toàn quyền tự tung tự tác
mà không được sự chấp nhân của toàn dân nếu họ thấy hoàn toàn phi lý. Điều này
khó có thể áp dụng được với Trung Quốc, vì guồng máy chuyên chính bạo lực và
guồng máy tuyên truyền là hai yếu tố khống chế nhân dân khiến toàn dân của họ
đều phải chịu phép. Nên nói cho cùng, chừng nào nước Trung Quốc còn trong chế
độ độc tài độc đảng, Việt Nam coi như vĩnh viễn mất Hoàng Sa, Trường Sa và biết
đâu còn mất nhiều thứ khác nữa. Vì ngày xưa quân chủ phương Bắc nguy hiểm như
thế nào thì ngày nay cộng sản phương Bắc cũng không thể tốt hơn là mấy.
Đó là một sự thật, chẳng cần gì phải nghiên cứu chuyên sâu mới có thể khẳng
định được. Nên nói chung lại, trong thế giới hiện đại ngày nay chính thể chế
chính trị là điều quan trọng nhất để giữa hòa bình và giềng mối hữu lý của mọi
quốc gia. Đó là ý nghĩa thực tế, vì ngày nay con đường hòa hợp và thống nhất
chung của nhân loại chỉ có thể là con đường tự do dân chủ, văn mnh khoa học,
con đường đạo lý, con đường phát triển kinh tế xã hội hoàn toàn tự nhiên, không
phải phải là kiểu ý thức hệ ngu ngốc hay kiểu chuyên chính độc tài một cách
hoang dã nữa.
NON NGÀN
(08/6/16)
**
CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ÍT VÀ CHÍNH TRỊ CỦA SỐ
ĐÔNG
Trong mọi trường hợp bình thường số it bao
giờ cũng thất thế hơn số đông. Bởi ai cũng biết nguyên tắc kẹt đường và nguyên
tắc lấy thịt đè người. Số đông đó là số đông vật chất, số đông sinh học, sức mạnh
của nó là sức mạnh thể xác, sức mạnh sinh học thé thôi. Đó là kiểu thuở trời đất
nổi cơn gió bụi. Đương bão bùng thì ai cũng phải tránh, it người có khí phách đứng
đầu sóng ngọn gió để làm việc nghĩa. Số đông mù quáng cũng chẳng khác sức mạnh
của một cơn bão là như thế. Mọi chế độ độc tài đều chuyên dùng số đông để trấn
át số it sau khi đã truyên truyền vận động thành công theo hướng nào đó để nắm
trong tay được số đông. Thời kỳ chiến tranh, thời kỳ tao loan, đó chính là miếng
đất màu mỡ của mọi chế độ độc tài. Quân chủ cũng như cộng sản đều như thế. Tần
Thỉ Hoàng hay Mao Trạch Đông đều giống nhau như thế.
Ngược lại với chính trị số đông là chính trị
của số it. Số it đây là thiểu số nhưng tinh hoa, đó là những người tài năng,
dùng độc tài sáng suốt hay dùng dân chủ tự do đúng nghĩa để phát triển số đông
lương thiện chống lại các số it lươn lẹo, bằng con đường truyền thông khoa học,
con đường giáo dục tiên tiến để nâng cao dân trí, khiến mọi người đều sáng suốt,
hiểu biết, tôn trọng sự thật, tôn trọng khách quan, tốn giáo giá trị lành mạnh,
tôn trọng tinh hoa của xã hội, đó là chính trị kiểu Lý Thừa Vãng của Nam Hàn,
kiểu Lý Quang Diệu của Singapore, chính trị kiểu các nước phát triển tự do dân
chủ như các nước châu Âu hay Bắc Mỹ. Trong những nước đó, số đông là số đông hiểu
biết, phát triển, giàu có, trái lại số it là số người người vô sản, thất cơ lở
vận, hay thất nghiệp vì không có chuyên môn trong xã hội vì vô số các lý do
khác nhau.
Chính trị của số đông cũng là kiểu chính trị
theo tư tưởng của Mác, đề cao giai cấp vô sản một cách mê tín. Đặt vị trí của
người công nhân vô sản thời tiền tư bản lên trên cả trí tuệ của trí thức, của kỷ
sư. Thật ra các thành phần đó đúng ra chỉ là số it trong xã hội trước hết,
nhưng sau đó được tổ chức, tuyên truyền, huấn luyện. phát triển lên dần qua thời
gian thành số đông, nhưng là số đông mù quáng, số đông khuynh tả u mê, nó trở
thành sức mạnh ở mọi cuộc cách mạng vô sản mác xít, khiến cho mọi thành phần đi
ngược lại nó đều trở thành số it, cho dù tài giỏi, tinh hoa đi nữa, cuối cùng
chính trị kiểu số đông đó vẫn chiến chiến thắng. Như trường hợp của Trần Trọng
Kim là kiểu chính trị số it, nhưng đơn độc, buộc phải thất bại trược chính trị
số đông theo cách quần chúng đang lên lúc đó.
Nên cuối cùng chính Các Mác là người đáng
trách mà không phải những người mù quáng đi theo thuyết Mác là đáng trách. Bởi
nếu lý thuyết ông ta mà khoa học, là khách quan, là đúng đắn, tật nhiên những
người thực hành theo ông ta là tốt, là có công, làm sao đáng trách. Nhưng thực chất
nó chỉ là ngược lại. bởi vì đó là lý thuyết bạo ngược và không tưởng nên nó mới
đáng trách là chỗ đó. Bạo ngược nhưng nếu lý tưởng thì có thể biện minh được.
Hay không tưởng mà không bao ngược thì cũng chẳng có gì tai hại. Trong khi đó học
thuyết Mác đầy đủ cả hai, tức vừa phi khoa học vừa bạo lực thì cũng chỉ có thể
bạo phát bạo tàn mà không khi nào lâu dài, vĩnh cửu được. Cuộc cách mạng tháng
Mười Nga sau bảy mươi năm phải hoàn toàn tan rã, thất bại đó là như thế
Bởi thế, chính trị theo nguyên tắc tự nó
không tốt không xấu, hay đúng ra nó là tốt, vì mục đích là nhằm quản lý xã hội
sao cho thành công nhất. Chỉ có người sử dụng chính trị là tốt hay xấu, tốt nếu
có mục đích tốt, xấu nếu có tà tâm tà ý. Chính trị cũng chỉ như con dao hai sắc
bén, nếu vào tay người nào chuyên môn, có năng lực, con dao thành hữu ích, giá
trị, ngược lại nếu vào tay bọn trẻ nhóc hay người kém năng lực, hậu quả của nó
về mọi mặt thì thật vô lường. Nhất là nếu học thuyết chính trị mà mù quáng, phi
khoa học, nó sẽ trở thành loại tôn giáo mê hoặc số đông, biến số đồng thành sức
mạnh cuồng tín cũng càng vô phương cứu chữa.
Tại vì nếu lý thuyết sai mà còn số it sáng
suốt, biết nhận định phê phán, sự sai lầm tức khắc bị phản biện và it thành
nguy hiểm. Ngược lại nếu chỉ có số đông mù quáng, chắc chắn số đông sẽ chiến thắng,
và lý thuyết sai đó trở thành cái hỗ thẳm cho xã hội. Đó là chưa nói có những sự
sai lầm mà lại bị tuyên truyền giả dối, dối gạt cho là đúng, tạo nên số đông nhầm
lẫn thì đó cũng là sức mạnh xã hội vô địch. Phong trào khuynh ta miền Nam trước
năm bảy lăm đại loại cũng kiểu như thế. Nên làm sao trách cho hết những tay như
Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Huỳnh Tấn Mẩm, Trinh Công Sơn v.v... chẳng qua
cũng chỉ là số đông ô tạp đối với một số it trí thức có hiểu biết lúc bấy giờ.
Chính số đông ô tạp đó đã chiến thắng đối với số it tinh hoa lúc đó, và tuy họ
là số it đối với đối với dân chúng lúc đó, nhưng dân chúng này đã bị vô hiệu hóa bởi số it kia, như phong trào bàn
thờ Phật giáo xuống đường, chỉ do một tay Thích Trí Quang cầm lái, nhưng cái cầm
lái đó lại dựa vào số đông mù quáng thì đại loại cũng lại chỉ như vậy. Số it mù
quáng tạo nên số đông mù quáng đó là nguyên lý thường xuyên của mọi loại chính
trị tuyên truyền giả dối và độc tài vô nguyên tắc đều luôn luôn như thế.
ĐẠI NGÀN
(07/6/16)
MỤC LỤC NHỮNG BÀI PHÓNG
BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO -
[11]
979.
PHƯƠNG
PHÁP LUẬN KHOA HỌC TRONG TƯ TƯỞNG
CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI (14/6/16)
980.
SỰ KIỆN LỊCH
SỬ : TRƯỜNG HỢPNGUYỄN ÁNH
VÀ NGUYỄN HUỆ (14/6/16)
981.
CÁC MÁC
VÀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO (14/6/16)
982.
CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI
(13/6/16)
983.
CHÍNH TRỊ TIÊN TIẾN
VÀ CHÍNH TRỊ LẠC HẬU
(12/6/16)
984.
TỪ ĐẤT NƯỚC ĐẾN
CHÍNH TRỊ (12/6/16)
985.
NÓI VỀ NGÔN NGỮ TIẾNG
VIỆT (10/6/16)
986.
TẠI SAO CÓ TỆ NẠN SÙNG BÁI LÃNH TỤ NƠI NHỮNG
NƯỚC
CỘNG SẢN ? (10/6/16)
987.
TỪ KIÊU NGẠO CỘNG SẢN ĐẾN VẤN ĐỀ
NHÂN QUYỀN
NGỤY
BIỆN (09/6/16)
988.
PHÂN TÍCH THỰC CHẤT VỀ TỰ DO VÀ ĐỘC TÀI (09/6/16)
989.
MỘT THÓI XẤU CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC TỪ BỎ
Ở CÁC
NƯỚC CỘNG SẢN
(09/6/16)
990.
CHIẾN TRANH VÀ LỊCH SỬ (09/6/16)
991.
Ý NGHĨA VÀ TƯ CÁCH TRÍ THỨC
(09/6/16)
992.
NÓI VỀ
NGUYÊN LÝ KHOA HỌC VÀ NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC
(08/6/16)
993.
MỸ, TRUNG QUỐC, VIỆT NAM NGÀY NAY VÀ TRONG TƯƠNG
LAI (08/6/16)
994.
CHÍNH TRỊ CỦA SỐ ÍT VÀ CHÍNH TRỊ CỦA
SỐ ĐÔNG
(07/6/16)
No comments :
Post a Comment