Thursday, May 19, 2016

NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN, CHỚP NHOÁNG - (07)


NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,

CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO – (07)

 


 

NÓI THẲNG RA VẤN ĐỀ TƯ BẢN VÀ CỘNG SẢN NGÀY NAY

 

Thực chất mọi ởm ờ, tranh cãi, lấp liếm, ngụy biện hay đối kháng nhau giữa các ranh giới của tự do dân chủ và độc tài, nhân quyền nhân văn và phản nhân quyền nhân văn, phi ý thức hệ và ý thức hệ, đa đảng đa nguyên và độc tài toàn trị đều không ngoài chỉ là đối kháng căn cơ giữa hai nguyên tắc nền tảng là tư bản hay cộng sản mà người ta nhận thức. Đối kháng như vậy về mặt ngoài là đối kháng thể chế, tức chính trị, nhưng về mặt trong là đối kháng xã hội tức là đối kháng thực chất của hiện thực.

Thực chất ai cũng biết nước Mỹ hay mọi nước tư bản hoặc tự do dân chủ khác, không hề trải qua một cuộc cách mạng cộng sản nào cả, không ràng buộc hay đóng khung vào lý thuyết mác xít hay ý hệ cộng sản gì cả, không có thể chế độc tài độc đoán gì cưỡng chế cả, mà tới này vẫn hoàn toàn phát triển tự nhiên khách quan. Họ không đánh mất, không hi sinh điều gì cả, nhưng vẫn phát triển đi lên và vẫn cường thịnh và hạnh phúc.

Thế nhưng Liên Xô và khối Đông Âu trước kia, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên ngày nay, đặc biệt Cuba đang xoay chiều, đó đều là những đất nước cộng sản, những thể chế chính trị cộng sản. Ngày nay thì khối Liên Xô và Đông Âu cũ đã sụp đổ và tan rã, nhưng thể chế cộng sản thì vẫn còn ở những nước còn lại. Tất nhiên những nước này đã quay về lại kinh tế thị trường, nhưng nguyên lý về xã hội cộng sản thì vẫn không bỏ cho dầu nó có là thực chất hay chỉ thuần túy nhân danh hay hình thức vì những lý do hoặc yêu cầu nào đó.

Vậy thì Cộng sản là gì ? Đó là lý thuyết do Mác Ănghen chủ yếu đưa ra và Lênin là người đầu tiên thực hiện trên đất nước Nga sô viết. Quê hương của Mác là Đức, quê hương của Lênin là Nga, nhưng bây giờ cả Đông Đức và Liên Xô cũ đều không tồn tại nữa. Mác dựa vào quan điểm biện chứng luận của Hegel để cho rằng cách mạng thế giới là tất yếu, đó là ý nghĩa khách quan, vì trước hết cộng sản nguyên thủy bị vượt qua hay phủ nhận để cho ra xã hội tư sản rồi tư bản, cuối cùng xã hội này bị vượt qua và phủ nhận để cho ra xã hội cộng sản khoa học không còn tư hữu, không còn bóc lột, không còn giai cấp, đó chính là điều hấp dẫn ban đầu của mọi người cộng sản và nó đã tạo nên được những nước cộng sản.

Thế nhưng người ta dễ dàng thấy rằng học thuyết của Mác chỉ thuần túy tư biện, nghĩa là chỉ lý luận theo kiểu hoàn toàn trừu tượng, tưởng tượng, lý luận suông mà không thực tế. Vì nếu lịch sử hoàn toàn khách quan như thế, cần gì con người phải chủ quan thực hiện. Điều đó khiến tạo nên quá nhiều thứ không cần thiết và vô lý trong xã hội thực tế. Cuối cùng thế giới cộng sản cũ phải sụp đổ là vì thế. Ý thức hệ cộng sản mác xít thực chất chỉ là hệ thống tư tưởng do cá nhân đưa ra nhưng nó được áp đặt lên xã hội thực tế bằng bạo lực, cưỡng chế, bởi chẳng có cuộc tổ chức lây ý kiến chung nào để thực hành thể chế chủ nghĩa cộng sản cả.

Chẳng qua do Mác Ăngghen cho rằng bạo lực là bà đở của cách mạng, là công cụ của giai cấp vô sản để thực hiện xã hội vô sản, còn Mao Trạch Đông cho chính trị trên đầu súng, nên ý nghĩa của độc tài toàn trị là như thế. Nhưng cái căn cơ thu hút của học thuyết Mác là quan niệm về bóc lột, quan niệm về bài xích tư hữu, và quan niệm về xã hội không giai cấp. Thực chất đây đều chỉ là những quan niệm bất cập của Mác. Mác đã căn cứ vào đôi giày biện chứng của Hegel để gột chân nhân loại cho bằng vào đó. Mác hiểu lầm về ý nghĩa khách quan của tư hữu, nguyên tắc khách quan của cấu trúc tự nhiên của xã hội và mọi sự vật, từ đó Mác cũng thổi phồng, huyễn hoặc hóa ý tưởng bóc lột và giai cấp cũng như đấu tranh giai cấp.

Bởi vì nguyên tắc đấu tranh là nguyên tắc chung trong mọi trường hợp của vạn vật tự nhiên. Đấu tranh đều có mặt tiêu cực và mặt tích cực của nó. Cái gọi là bóc lột là Mác chỉ nhìn trên quan điểm kinh tế vi mô, trên những trường hợp cá biệt, không nhìn ở tầm kinh tế xã hội vĩ mô và không thấy khả năng tự điều chỉnh luôn luôn của toàn xã hội loài người. Từ đó Mác phủ nhận luật pháp truyền thống, cho đó là luật pháp của giai cấp tư sản, yêu cầu thiết lên pháp luật chuyên đoán của chuyên chính vô sản. Nhưng Mác quên rằng mọi cái gì trong xã hội đều cũng có thể có người lợi dụng, ý tưởng giai cấp vô sản là điều trái thực tế tự nhiên, nhưng ngược lại nó có thể bị lợi dụng bởi vô số người khác nhân danh nó để thủ lợi, đó là cái yếu trong quan điểm khoa học khách quan của Mác.

Vậy tóm lại mọi cái đều chỉ do học thuyết giả tạo của Mác mà ra. Bởi nếu nó đúng thì đã được hiện thực lâu rồi. Đằng này nó sai mà vẫn còn người theo vì các lý do khác nhau ngoài chính bản thân nó đó là điều vô lý. Có nghĩa cần trở về những cái gì khách quan tự nhiên của xã hội trước khi Mác tùy tiện dựng đứng lên mọi quan điểm lý thuyết giả tạo, chủ quan, lệch lạc của mình. Tình cách tự nhiên khách quan của xã hội, nhất là xã hội hiện đại, đó không ngoài là thể chế tự do dân chủ thực sự, có nghĩa cũng không còn kiểu chế độ toàn trị độc đảng chủ quan gì nữa, mà là nền kinh tế thị trường cạnh tranh tự do đúng đắn lành mạnh và có nền luật pháp khoa học, hiệu quả chi phối và điều hành thực sự. Đó là quyền lợi đúng đắn chung của mọi đất nước, là quyền hưởng hạnh phúc phát triển mọi mặt của mỗi dân tộc, đó là quyền sống tốt đẹp và phát triển khách quan tự nhiên chính đáng của mọi con người, hay đó cũng chính là nhân quyền trong một xã hội thực sự nhân văn tốt đẹp là như thế.

 

THƯỢNG NGÀN

(20/5/16)          

            

**

 

TRÍ THỨC VÀ KHOA HỌC

 

Đọc lại Tạp Chí Đại Học của Đại học Huế ngày xưa, số 7, vào những năm 50 của thế kỷ trước, đang được giới thiệu do ông Nguyễn Văn Lục, có thể nói những bài trong đó đến nay vẫn rất đáng đọc. Cái đáng đọc những bài viết đó, ngoài những thông tin nội dung của nó vào một thời đã qua, còn là ý thức, tâm huyết, ý hướng khoa học, và cả tính cách trí thức của những người viết ra chúng. Có nghĩa những đề tài trong đó là những đề tài còn mãi với thời gian, cũng như ý thức và tinh thần tự do mà những bài viết đó thể hiện nên thật luôn luôn đáng tâm đắc và quý mến.

Có nghĩa trí thức và khoa học vẫn luôn là những ý nghĩa, giá trị hàng đầu cần thiết nhất cho mọi xã hội. Người trí thức dù sao chăng nữa cũng không thể tách khỏi khoa học cũng như ngược lại, đó là cơ sở hay tính cách quan trọng nhất. Vì tính chất của khoa học là tính khách quan, tính chính xác và tính thuần lý, vì thế nó tránh được mọi chủ quan, cảm tính cũng như vượt lên được các chủ quan, cả tính. Giá trị hữu dụng của khoa học cũng chính vì vậy mà không gì khác.

Như vậy khoa học cũng mang hai ý nghĩa, ý nghĩa nội dung và ý nghĩa ý hướng. Nội dung là mọi thành tựu khoa học đã đạt được, không bao giờ thành vô ích nữa, ý hướng là ý thức nhận thức đúng đắn và luôn luôn hướng tìm kết quả khoa học mới. Có nghĩa nếu xã hội tiến hóa không ngừng, khoa học cũng phát triển đi lên không ngừng, chính vì thế mà trí thức hay người trí thức đúng nghĩa luôn luôn gắn chặt với khoa học, với ý nghĩa,mục đích và tinh thần khoa học mà không bao giờ rời bỏ.

Cho nên không phải chỉ đối tượng thiên nhiên, vật chất, kỹ thuật mới có yêu cầu gắn với khoa học, mà cả nghệ thuật, văn học, tôn giáo, chính trị, hay văn hóa nói chung cũng đều phải gắn với khoa học, với tinh thần khoa học, theo ý nghĩa khoa học là tư duy đúng đắn, hữu lý, sáng suốt mà không bao giờ bảo thủ, thiên lệch hay mù quáng. Ý nghĩa của khoa học là ý nghĩa trí tuệ chống lại mọi cảm tính tầm thường hay mê tín là như thế.

Như vậy cũng có nghĩa khoa học và trí thức không thể không đi song hành với tính chất xã hội tự do dân chủ. Bởi khoa học không phải chỉ có một phạm vi mà bao gồm tất cả mọi phạm vi. Bởi thế mọi tính cách độc tài độc đoán đều phản khoa học và phi trí thức. Chẳng hạn độc tài toàn trị theo kiểu ý thức hệ là điều tồi tệ nhất đối với con người, với trí tuệ, với trí thức và với khoa học. Vì trí thức một khi đã bj nô lệ hóa cũng không còn tự do, cũng không còn trí tuệ và khoa học gì nữa.

Vì ý thức hệ chẳng qua chỉ là hệ tư tưởng nào đó của một cá nhân đưa ra trong hoàn cảnh hay thời điểm lịch sử nào đó. Vậy mà nếu nó cai quản toàn thể xã hội thì tất yếu đã phạm vào nguyên tắc bình đẳng tự do của tất cả mọi người. Có nghĩa đó chính là sự phản động đối với lịch sử, đi ngược lại tính phát triển tự do của nhân văn và của khoa học nói chung mà không là gì khác. Đó là ý nghĩa tại sao khoa học, trí thức và nhân văn bao giờ cũng chỉ là một mà không bao giờ là hai được.

 

THƯỢNG NGÀN
(19/5/16)

 

**

 

TỪ Ý NIỆM GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO

ĐẾN Ý NIỆM GIẢI PHÓNG CỦA CÁC MÁC

 

Sở dĩ tôi phải viết bài phóng bút ngắn, chớp nhoáng này là vì vừa đọc lại bải viết của tác giả Phạm Minh Hợp đăng trên Tạp Chí Đại Học do ông Nguyễn Văn Lục sưu tập lại và số hóa hiện nay. Đây là tài liệu thuộc về lịch sử quá khứ rất đáng trân trọng và tôi cũng rất tâm đắc việc làm của chính ông Lục.

Bài viết của ông Hợp có tựa đề "Tôi đọc lại cuốn Biện Chứng Giải Thoát Trong Phật Giáo của Nguyễn Văn Trung". Đây thật sự là đề tài luận án tiến sĩ triết học mà giáo sư Trung đã hoàn thành tại Bỉ vào đầu thập niên 1950. Nên nhớ giáo sư Trung là người Thiên chúa giáo, nhưng ông làm luận án tiến sĩ về đạo Phật chính là điều rất nên trân trọng và đáng thú vị. Hơn nữa đối với các đại học và phương pháp giáo dục theo truyền thống phương Tây, học thuật là hoàn toàn tự do, đặc biệt tư tưởng trong các đề tài luận án khoa học đều được luôn luôn tôn trọng như thế mà không hề bị hạn chế vì bất cứ nguyên nhân hay mục đích nào.

Bây giờ thì người ta khó tìm lại được luận án này để đọc, nhưng đọc bài viết của tác giả Phạm Minh Hợp người ta cũng thấy ra được một số điều cơ bản cần phải biết trong đó. Nói chung ngay khi ấy giáo sư Trung đã từ ngữ Biện chứng giải thoát đã cho thấy ông ta luôn bị tràn ngập khái niệm thời thượng này lúc đó thế nào. Có lẽ hơn thế khi làm đề tài không phải tác giả không nghĩ đến quan điểm giải phóng trong Mác. Ấy cũng chẳng trách giáo sư Trung sau này ở Miền Nam cũng là một khuôn mặt có ý thức khuynh tả cũng hoàn toàn là điều dễ hiểu.

Thật thì từ ngữ giải thoát trong Phật giáo và từ ngữ giải phóng trong mác xít là điều mọi người từ lâu đã biết. Giải thoát trong Phật giáo có nghĩa là thoát ra khỏi mọi hệ lụy, triền phược trong cuộc đời thế tục. Còn giải phóng theo Mác là đập bỏ chế độ kinh tế xã hội tư bản, tư sản để đi theo con đường vô sản hoàn toàn nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng nhất trong chính thực tại cuộc sống này.

Có nghĩa ý niệm giải thoát trong Phật giáo là ý nghĩa tinh thần, ý thức. Trong khi đó ý nghĩa giải phóng trong Mác là ý nghĩa chính trị, ý nghĩ kinh tế xã hội, ý nghĩa vật chất, cụ thể, thực hành và tổ chức thực hiện trong thế tục tất cả mọi điều đó. Như vậy ai cũng thấy ý nghĩa của Phật giáo là ý nghĩa về tâm thức, tâm lý học. Trái lại ý nghĩa mác xít là ý nghĩa cuộc đời xã hội, ý nghĩa của phạm trù hiện thực, cơ chế hay tổ chức bề ngoài thân xác trong cuộc đời.

Tuy vậy nói rộng hơn, Phật giáo không thoát khỏi bầu khí triết học siêu hình Bà la môn của Ấn độ giáo nói chung. Mối quan hệ giưa tiểu ngã và Đại ngã, tức atman và Brahman. Đặc biệt sau cả gần cuộc đời thiền định và suy tưởng của mình, Phật đã nhận chân ra được chân lý luân hồi cứ mãi trong vòng luẩn quẩn, nên theo Ngài giải thoát là tự mình tu đạo, nhằm tự thực hiện giải phóng mình ra khỏi vòng vô minh, khỏi luân hồi nghiệp báo để đạt đến được coi Chân như thường hằng vĩnh cửu.

Ngược lại, Mác chỉ căn cứ vào niềm tin nơi biện chứng luận của Hegel, cốt yếu dùng khái niệm phủ định của phủ định để cho rằng nếu tiền đề là cộng sản nguyên thủy, phản đề là tư sản tư bản, thì hợp đề phải là cộng sản khoa học. Cái khoa học của Mác chỉ là cái lý luận mê tín theo Hegel là như thế. Bởi Hegel là duy tâm, biện chứng của Hegel thực chất là biện chứng mang tính cách nhận thức. Đằng này Mác hoàn toan duy vật, lại lấy biện chứng mang tính siêu hình của Hegel làm nền tảng cho quan điểm duy vật của mình. Như vậy nếu Mác không là ảo tưởng cũng chỉ là ngụy biện, lý luận theo kiểu phản lý luận.

Ý nghĩa nhận thức lệch lạc của Mác là như thế, còn ý nghĩa xã hội thực tế thì sao ? Mác bất chấp cả mọi quy luật tâm lý tự nhiên khách quan của cá nhân và xã hội, chỉ lý luận theo kiểu tư biện trừu tượng thuần túy, coi con người như những đơn vị trừu tượng mà quên đi mọi tính chất hiện thực của nó. Nên Mác đưa ra ý nghĩa praxis để hấp dẫn, lôi cuốn, tác động, lôi kéo mọi người, thực ra đó chỉ là ý nghĩa giả hình mà không thực chất, bởi vì nó dựa vào lý luận trừu tượng mà quên đi mọi qui tắc khoa học thực tiển và cụ thể khách quan. Nhưng mọi người khuynh tả trong đó có giáo sư Nguyễn Văn Trung và giáo sư nổi tiếng Trần Đức Thảo vẫn cứ mê man như điếu đổ về quan điểm giả ảo đó.

Nói cho đúng ra, vũ trụ tồn tại không đi ra ngoài hai phạm trù cấu thành cơ bản, phạm trù vật chất hiện thực cụ thể và phạm trù ý thức tinh thần trừu tượng. Giản lược cái nào vào cái nào cũng chỉ phiến diện và bất cập. Điều đó có nghĩa giải thoát trong Phật giáo là giải thoát ý thức, giải phóng mọi niệm động trong tư duy là điều bao quát, cơ bản, thực tế và đúng đắn. Trái lại giải phóng trong Mác chỉ là quan điểm thị hiếu về chính trị, mang tính ức đoán và cực đoan, mang tính phiến diện và áp đặt, do đó quan điểm chuyên chính vô sản của Mác càng tệ hại, vì đó không phải là giải phóng mà thực chất chỉ là nô lệ hóa xã hội, nô lệ hóa con người.

Nhưng bất kỳ ai tinh ý một chút, khi Mác nói về ý thức của giai cấp công nhân công nghiệp, nói về sứ mạng nhận thức của họ về quy luật cách mạng xã hội, chính Mác đã rơi vào chỗ mê tín, siêu hinh. Ông ta không thấy rằng hoàn cảnh và điều kiện của giai cấp công nhận khi ấy chỉ là hoàn cảnh và điều kiện lịch sử khách quan. Bởi vì khi lịch sử phát triển đi lên về mọi mặt, giai cấp công nhân cũng không thể chỉ đứng ỳ một chỗ như thế mà phải thay đổi cùng với thay đổi chung của toàn xã hội. Nói khác Mác đã phạm trù hóa giai cấp công nhân, siêu hình hóa giai cấp công nhân, huyễn tượng hóa ý thức giai cấp công nhân đó là điều mê muội hay thậm chí ngu dốt chưa hề từng có về ý nghĩa khách quan và thực tiển khoa học.

Bởi vì con người thực chất là thân xác sinh lý động vật. Nó không bao giờ thoát ra khỏi mọi bản năng sinh học tự nhiên của nó. Như vậy thoát con người cốt yếu là về mặt ý thức, mặt nhận thức, không phải mặt thuần túy tổ chức bên ngoài kiểu xã hội hóa bầy đàn tầm thường như Mác hiểu. Nói khác đi quan điểm giải thoát của đức Phật hoàn toàn chính xác, thực tế, khách quan và tự nhiên hơn quan điểm giải phóng của Mác rất nhiều. Có điều Mác là người luôn cả vú lấp miệng em, ngụy biện và độc đoán cho rằng nhưng quan điểm nào không phải của Mác đều chỉ là quan điểm của bọn duy tâm, của bọn tư sản, chỉ có quan điểm của Mác mới là cách mạng đúng nghĩa thật sự. Một thái độ như thế thì còn gì khách quan khoa học. Nên mọi cái Mác tự xưng là khoa học thực chất đều là phi khoa học, phản khoa học là như thế.

Nên tóm lại quan điểm giải thoát trong Phật giáo và quan điểm giải phóng trong Mác là hoàn toàn khác nhau. Trong Phật là ý thức cũng như quan điểm nhận thức nghiêm túc về con người và xã hội. Trong Mác chỉ là kiểu thị hiếu, kiểu cường từ đoạt chữ. Mác cho rằng tôn giáo chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, cho rằng toàn bộ nội dung văn hóa của thế giới loài người chỉ phản ảnh của ý thức hệ, đặc biệt là ý thức hệ tư sản trước Mác, đó chỉ là thứ thượng tầng  kiến trúc dựa trên hạ tầng cơ sở là kinh tế xã hội mà không là gì khác. Tựu trung lại Mác hoàn toàn duy vật, thế thì giải phóng của Mác là đưa con người lại với hoàn toàn thế giới vật chất, thế giới sinh học, đó là điều Mác coi là xã hội cộng sản khoa học lý tưởng, xã hội không còn giai cấp, xã hội kinh tế kiểu bầy đàn à Mác coi sẽ hoàn toàn tự do tự nguyện.

Chính sự không bao quát về mọi mặt khoa học, trong đó có khoa học tự nhiên, khoa học lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tâm lý, khoa học chính trị, đặc biệt nhất là khoa học kinh tế, hay nói chung là khoa học về con người và khoa học về vu trụ mà Mác đã chủ quan, độc đoán, càn đùa tất cả. Tâm lý ý thức của Mác là chỉ để tự sướng, để phụ vụ riêng cho thị hiếu say mê biện chứng luận kiểu giả ảo và trường ốc, thơ ngây của minh. Từ đó Mác tự cương đại lên mình là khoa học, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của lịch sử, lịch sử loài người từ trước đến nay chỉ là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Mác tự vẽ một vòng tròn rồi chuôi tọt vào đó, Mác tự vẽ một vòng trong rồi bắt toàn thể nhân loại, toàn thể lịch sử loài người chui tọt vào đó. Đó chính là quan điểm giải phóng của Mác.

 

ĐỈNH NGÀN
(19/5/16)

 

**

 

TỪ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ,
ĐẾN KHOA HỌC NGÔN NGỮ VỀ TIẾNG VIỆT

 

Sự vật không có ngôn ngữ, âm thanh do sự vật phát ra là do va chạm với sự vật khác. Cái được cho là ngôn ngữ của sự vật là bởi sự tưởng tượng của nhà thơ.

Loài vật có ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ của nó nghèo nàn, thường chỉ là những tiếng kêu do bộ phận phát âm phát ra, nội dung thường chỉ đơn giản.

Trong khi đó ngôn ngữ của loài người là tiếng nói phức tạp, phong phú, đa nội dung. Đi kèm với ngôn ngữ nói loài người còn có ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết là hình thức ký hiệu hóa của ngôn ngữ nói, nó phụ thuộc vào hay có nguồn gốc của nó là ngôn ngữ nói.

Tất nhiên tiếng nói của mọi dân tộc đều là một hệ thống đầy đủ và chặt chẽ, nó tiến hóa hay phát triển qua lịch sử thời gian. Trong hệ thống đó có yếu tố đơn vị và yếu tố kết hợp. Yếu tố thành phần đơn vị nhỏ nhất là những từ. Từ là sự phát âm đơn vị cho một ý niệm hay khái niệm đơn vị nào đó chỉ về một sự vật. Từ có nội dung của nó là nghĩa, sự hiểu về nghĩa nào đó gọi là ý nghĩa. Như vậy ngôn ngữ là một hệ thống ý nghĩa. Tập hợp không có ý nghĩa chỉ là tập hợp các âm thanh vô nghĩa. Khi âm thanh vô nghĩa được trang bị một ý nghĩa, đó là sự quy ước về ý nghĩa.

Tất nhiên ngôn ngữ của con người chủ yếu phát ra từ bộ phận phát âm là miệng, nhưng nhận thức về ngôn ngữ là do trí não. Người ta phân biệt được trên vỏ nào những trung tâm ngôn ngữ nhất định. Nhưng đó là về mặt sinh học. Còn nội dung của ngôn ngữ không phải sinh học mà là yếu tố tâm lý hay là yếu tố ý thức, yếu tố năng lực nhận thức.

Đó là lý do tại sao ngôn ngữ được gắn với các ý niệm. Ngôn ngữ chỉ là cái vỏ của các ý niệm. Nếu không có nội dung hay cái ruột này ngôn ngữ cũng vô nghĩa hay không bao giờ thành hình và phát triển được. Cái vỏ của ý niệm trừu tượng là ngôn ngữ biểu hiện bằng âm thanh vật lý. Ngược lại nội dung của ý niệm là ý thức của tinh thần trừu tượng nơi đầu óc con người.

 

*

*    *

 

Tiếng Việt là một loại ngôn ngữ hết sức phong phú và linh hoạt, sinh động, giàu màu sắc trên thế giới. Đó là ngôn ngữ của thi ca và của âm nhạc mà không phải các ngôn ngữ khác đều có được. Bởi bản thân của tiếng Việt tự nó là nhạc tính, nên bản chất thi ca của nó cũng tự nhiên từ đó mà có. Phân tích theo âm ngữ học, tiếng Việt có nhiều dấu giọng, cụ thể là năm âm sắc lên xuống trầm bổng, đồng thời là ngôn ngữ đơn âm tiết. Điều này hoàn toàn trái lại với các ngôn ngữ đa âm tiết, nhờ thế mà tính cách linh hoạt của nó là vô hạn.

Nghiên cứu tiếng Việt về mọi phương diện đó là một khoa học, nhưng diễn đạt bằng tiếng Việt lại là một nghệ thuật. Trong tiếng Việt có vô số nghệ thuật mà ai cũng biết, như điệp ngữ, điệp vận từ láy, đa nghĩa, chơi chữ, ẩn nghĩa, mượn nghĩa v.v... mà thật khó có ngôn ngữ nào khác phong phú, ý nhị hay cũng thông minh như thế được.

Bởi thế nghiên cứu khoa học tiếng Việt là cách để hiểu sâu xa về tiếng Việt trong mọi phương diện, đồng thời cũng làm phong phú tiếng Việt. Đọc bài viết của giáo sư Trương Văn Chính phân tích về tiếng Việt người ta thấy hoàn toàn thú vị và tâm đắc về những điều đó. Nhưng đó chỉ là một công trình mở đầu cách đây trên nửa thế kỷ. Bởi vậy ngày nay nếu có những người kế tục như thế về khoa học nghiên cứu tiếng Việt thì thật là rất hứa hẹn và cũng thật vô cùng phong phú và hấp dẫn.

 

ĐẠI NGÀN
(18/5/16)

 

**

 

SỬ HỌC VÀ TRIẾT HỌC

 

Sử học là học về lịch sử, tức nghiên cứu về lịch sử. Triết học là học về cái tồn tại chung, tức nghiên cứu về cái tồn tại chung. Như vậy ai cũng thấy rang lịch sử là một bộ phận nào đó của triết học, ngược lại triết học cũng không thể thoát ly một phần nào đó của sử học.

Sử học là ngành khoa học thực nghiệm theo nghĩa rộng, tức phải căn cứ vào mọi dữ liệu khách quan để xem xét và kết luận. Trong khi đó triết học là ngành khoa học của tư duy trừu tượng. Triết học căn cứ trên tính lô-gích rộng mở để xem xét mọi sự việc khách quan khác nhau.

Nói khác đi triết học và sử học có những chỗ giống nhau và những chỗ không going. Dữ liệu của triết học luôn luôn là những dữ liệu trừu tượng hay đã hoặc được trừu tượng hóa. Trái lại dữ liệu của sử học tất yếu phải là những dữ liệu cụ thể. Không có những dữ liệu cụ thể, triết học đành chịu.

Một điều cũng đáng nói triết học là một hệ thống những nhận thức và sử học cũng vậy. Nói hệ thong là nói tính bao quát và tính chia phần. Nhưng tính hệ thống của triết học là tính hệ thống hoàn toàn trừu tượng. Trong khi đó tính hệ thống của lịch sử hay sử học là tính hệ thống hoàn toàn cụ thể. Có nghĩa tính hệ thống của triết học chỉ có thể hoàn toàn tìm thấy bên trong tư duy của nhà triết học. Trong khi đó tính hệ thống của sử học chỉ có thể tìm thấy bên ngoài của nhà sử học. Bởi nếu chỉ tìm thấy bên trong của nhà sử học, rất có thể đôi khi nó trở thành chủ quan. Vậy thì giữa sử học và triết học có gì tương đồng hay có gì đối lập ?

Tương đồng có nghĩa người ta có thể triết lý về lịch sử, có thể sử hóa về triết học. Còn đối lập có nghĩa không thể dùng phương pháp luận của sử học cho triết học hoặc là ngược lại. Cũng vậy ý niệm biện chứng hay biện chứng luận của lịch sử có đúng không là điều cần xem xét. Bởi biện chứng luận là một khái niệm về triết học, trong khi lịch sử chỉ có thể mang tính hoàn toàn khách quan, cụ thể và khoa học.

đem cái trừu tượng vào cái cụ thể đôi khi chỉ là điều cưỡng ức, trong khi đó dùng những dữ liệu cụ thể để soi sáng tư duy triết học không những là điều cần thiết mà còn là điều có thể làm được và cần phải làm như thế.

Bởi vậy nói cho cùng xem xét lịch sử nhiều khi rất bổ ích cho triết học, ngược lại triết học hóa lịch sử nhiều khi không cần thiết mà rất dễ tạo ra ngộ nhận. Chính Mác là người đã triết học hóa lịch sử rõ hơn ai hết. Như đưa ra thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là sơ thích tâm đắc của ông. Nhưng dầu có một thời trong thế giới cộng sản nó được đưa lên như là một khoa học đệ nhất, lấn át tất cả mọi ngành khoa học khác, trong đó có lịch sử khách quan về mọi phương diện, địa hạt, và nhất là nó đã từng có thời kỳ hoàn toàn mê đắm hay bị cưỡng bức phải mê đắm ở Việt Nam.

Thế nhưng bây giờ lịch sử khách quan trên thế giới cũng như ngay cả Việt Nam trong thực tế đã hoàn toàn khác hẳn hay hầu như khác hẳn. Như vậy cũng có nghĩa sử học chỉ có thể là một khoa học đúng nghĩa nhưng không thể nào là một triết học đúng nghĩa. Bởi khoa học triết học là khoa học về lô-gích

 tư duy, trong đi đó khoa học sử học là khoa học thực nghiệm dựa vào những nhận xét, suy đoán hay kết luận hoàn toàn cụ thể, khách quan. Nhưng có điều có số người làm triết học trước đây trong số đó có giáo sư Trần Đức Thảo và giáo sư Nguyễn Văn Trung rất hâm mộ khuynh hướng triết lý hóa lịch sử của Các Mác. Bây giờ tất cả những điều đó đã lùi về quá khứ và chẳng qua nhắc lại nó như nhắc lại một thứ bóng mờ vậy thôi.

 

ĐẠI NGÀN

(18/5/16)

                                                                       

**

 



 

KHOA HỌC LCH S

 

Khoa học luôn nhm kho sát đi tượng nào đó mt cách khách quan và có phương pháp đúng. Đây chính là hai điu then cht đ to nên ý nghĩa, kết qu và giá tr ca khoa hc. Khoa hc bi vy luôn da trên lý trí đúng đn, lành mnh và tách xa khỏi mi cm tính nông cn hay thiên lch, vì đó ch là nhng khuynh hướng tình cm hay cm xúc tm thường, thp kém, riêng tư ca con người.

Lịch s là mi s kin quan trng đã xy ra trong quá kh thuc v mt xã hi, mt dân tc hay mt đt nước. Nghiên cu, tìm hiu lch s là đ hiu biết, đánh giá chính xác v nhng s kin đã xy ra đó đ nhn thc đúng đn, khách quan v nó, không mù m, không o tưởng, không sai lc. Đó chính là chân lý ca lch s, vì chân lý t bn thân nó là khách quan, nhưng con người có nm bt được chân lý thì mi có ý nghĩa, giá tr và s hiu biết.

Từ ý nghĩa đó, nói v cuc chiến tranh kéo dài sut 30 năm Vit Nam t 1945 đến 1975 cn phi nhn thc mt cách đúng đn, khách quan và khoa hc. Đc bit trong đó ý nghĩa nhất là trn Đin Biên Ph. Vì nếu không có s kin này các s kin v sau đu có th khác. Kết qu ca s kin Đin Biên Ph cui cùng đã làm lc lượng Pháp phi quay v nước, đi đến thc tế chia đôi đt nước, Min Bc thuc chế đ cng sn còn Miền Nam không phải chế đ cng sn. Do đó mun đánh giá mt s kin, ngoài vic căn c trên nguyên nhân ca nó, người ta còn có th căn c theo hu qu hay kết qu mà s kin đó mang li.

Từ kết qu đó cũng thy được cuc chiến tranh Vit Nam mà đc bit trn chiến Đin Biên Ph đã có yếu t tranh chp quc cng c bình đin quc ni ln quc tế trong đó. Đng sau Pháp đã phn nào có M, đng sau Vit Minh đã căn bn phi có Liên Xô, Trung Quc, và c thế gii cng sn quc tế lúc đó. Đó chính là khi đim đ bt đu cho Min Bc xã hi ch nghĩa sau 1954 và Vit Nam xã hi ch nghĩa sau 1975. Tt c nhng gì Min Bc làm ti Min Bc sau 1954 và Min Bc làm ti Min Nam sau 1975 đu cho thy điu đó.

Nên ý nghĩa của Pháp thua trn va mang tính chính quc Pháp thua và lực lượng không cng sn trong hàng ngũ Pháp (lc lượng Bo Đi) thua. Ý nghĩa Vit Minh thng trn, mang ý nghĩa lc lượng cng sn thng, và c lc lượng chng Pháp ca nhng người không phi cng sn trong hàng ngũ cng sn thng. Đó là thực tế rõ ngi ngi, ch ai c tính không biết mi hoàn toàn không biết. Rát tiếc phn ln dân chúng vì b tuyên truyn mt chiu nên phn nhiu không thy điu đó, đó chính là s tm thường ca tính tuyên truyn và nói trng ra là ti li đi vi nhân dân của mi s tuyên truyn che lp s tht, không đúng đn, k c khi nhm bóp méo, xuyên tc mi lch s khách quan.

Vậy thì nếu quá kh là mi cái gì đã qua, không th làm thay đi được, nhim v và ý thc ca mi người chân chính là phi biết các s tht lịch s mt cách chân chính. Do đó mi s xuyên tc lch s, gii thích sai lch làm ngu dân, đó là ti li lch s thm chí ti ác lch s. Bi vì lch s là lch s ca chính dân tc mình, ca đt nước mình, mà mình không tôn trong s khách quan đúng đắn của nó đã qua thì còn gì ý nghĩa, giá tr hay tính cách na. Do vy khi nghiên cu lch s không con là mt khoa hc mà ch còn là nhng th hiếu, mc tiêu chính tr tm thường thun túy, mi ý nghia hay s liu đó cũng ch đáng vt đi. Điu đó ch nói lên tính cách bất xứng của những người viết sử, nhận định lịch sử nông cạn, bất chấp theo kiểu đó, và chỉ để lại một lổ hổng khổng lồ về mặt tư liệu đúng đắn cho các thế hệ mai sau vậy thôi. Nên nói chung lại ý nghĩa của trận Điện Biên Phủ cho tới nay vẫn không thoát ra khỏi các sự bóp méo do chủ đích của sự tuyên truyền luôn không ngừng mang đầy tính chất ý thức hệ cộng sản một thời là như thế.

 

ĐẠI NGÀN                       

(18/5/16)


                 

**

 

CON NGƯỜI VÀ SỰ NHẬN THỨC

 

Ông Nguyễn Văn Lc đã n lc sưu tm và s hóa các s Tp Chí Đi Hc ca Đi Hc Huế trước kia ca Min Nam ca nhng năm gia thế k 20 đã qua đ gii thiu vi các bn đc nht là lp tr ngày nay tht là mt điu rt đáng trân trng và b ích.

Tất nhiên nhng lp ln tui thì ngày nay it có thi gi đc li, nhưng đi vi các thế h tr nói chung, cho dù mãi sau này, thì vic đc li nhng tài liu như trên tht s đu luôn luôn cn thiết.

Riêng đối vi s 4 & 5 ca lot tp chí được gii thiệu, vn đ con người được nêu ra mt cách sâu sc, phong phú và hu ích. Con người được nhìn dưới nhiu khía cnh khác nhau, t triết hc, khoa hc, xã hi, đến văn hc, k c đến bo lc, lch s, cách mng, nhân văn v.v... là điu đáng nói nht. Nhng bài viế đây dĩ nhiên hoàn toàn t do, tác già ca chúng t chu trách nhim trước dư lun và xã hi mà không chu bt c s ch đo, ràng buc hay khuôn kh bên ngoài nào khác. Nht là có nhng ni dung nói v người trí thc, vai trò và ý nghĩa ca trí thức, cho thy mt tm nhìn hết sc đa dng và ci m, phóng khoáng.

Có nghĩa vấn đ con người là vn đ muôn thu ca nhân loi, bi đó là đ tài con người nói v chính mình, nhân loi nói v chính bn thân mình. Người ta tưởng chng đó ch là ý nghĩa đơn gin, nhưng tht ra không phi như vy. Bi vì ý nghĩa con người không phi ch là ý nghĩa c th hay tru tượng, ý nghĩa cá nhân hay xã hi, ý nghĩa kin tính hay ý thc, ý nghĩa nhân văn hay vt cht, ý nghĩa kinh tế hay văn hóa, ý nghĩa khoa hc hay triết hc, ý nghĩa chính tr hay xã hi, ý nghĩa đc đoán hay dân ch, ý nghĩa, ý nghĩa hin ti hay lch s, mà lai bao gm và bao quát tt c mi th đó.

Dĩ nhiên, nhìn chung lại thì con người bao gi cũng có hai phn, phn thân xác và phn nhn thức, hay phần vt cht và phn ý thc, nói khác đi là phn c th và phn tru tượng, hoc nói theo kiu tôn giáo là phn xác và phn hn. Hay nói theo kiu trường c là phn sinh lý hc và phn tâm lý hc. Tt yếu hai phn này ch là mt hay là h thng lưỡng nguyên nào đó là còn tùy sự quan nim. Bi thế xut hin hai trào lưu tư tưởng t xưa đã có là quan đim duy tâm hay quan đim duy vt. Duy tâm hn nhiên cũng có nhiu th, và ngay c duy vt cũng vy. Nhưng thc tin hơn hết, khi bàn v con người người ta hay nói đến ý nghĩa lch s và ý nghĩa xã hi, đó là điu mà sau này các ý thc h chính tr thường quan tâm đến.

Từ nhng cơ s tiên quyết đó, điu đt ra trước hết cho con người là tính nhân cách, tính lao đng, tính xã hi, tính chính tr hay tính tổ chc. Đây cũng là ý nghĩa hay b tranh cãi nht. Như Min Bc trước kia ch ưa nhn mnh đến lao đng và xã hi, được lng khuôn trong ý thc h mác xít. Min Nam ngược li có thi kỳ ưa nhn mnh đến cn lao, nhân v, nht là luôn luôn đt nng v ý nghĩa tự do dân ch ca cá nhân con người trong khung cnh xã hi. Tính cách ca Min Bc thường có khuynh hướng coi thường, đt nh, hay thm chí ác cm vi tôn giáo. Tính cách ca Min Nam thì hoàn toàn ngược li, luôn gn gi vi tôn giáo và coi tôn giáo mọi loi như là yếu t khách quan t nhiên không th loi b hay cũng còn cn thiết trong xã hi loài người.

Tuy vậy khi đc vào ni dung các Tp Chí Đi Hc đã nói, người ta thy rõ khuynh hướng ca Min Nam nơi các tác gi ca nó là khuynh hướng tư sản hay nói đúng là tự do dân ch kiu tư sn như Mác nói. Trong khi đó ai cũng biết khuynh hướng ca mi loi tp chí do dù hc thut đi na ca Min Bc cũng thi kỳ là khuynh hướng chuyên chính vô sn. Đó là điu hoàn toàn tương phn và l rõ ra khp nơi như trên lòng bàn tay. Duy có điu, khi đc vào các bài viết ca các tác gi Nguyến Văn Trung, Trn Văn Toàn, người ta luôn luôn thy hơi hướm ca khía cnh tư tương mác xít nào đó. Tt nhiên nó không hoàn toàn l rõ, nhưng ai tinh ý, có th thy trong chiu sâu nó luôn luôn không thoát ra khi điu đó. Có điu tư tưởng mác xít  đây nó như mt cm thc chung nào đó, mt kiu thi trang, ti thượng nào đó, hay mt th hiếu kiu khuynh t nào đó nhưng không bao gi nó được phân tích mt cách toàn din và thật sâu xa bao quát theo theo yêu cầu khoa hc và triết hc tht s khách quan đúng nghĩa.

Ông Nguyễn Văn Trung hay nói v ý hướng xã hi theo kiu mác xít. Nhiu khi còn nói c ý hướng lao đng theo kiu praxis mà Mác vn luôn nhn mnh. Bi vy ý nghĩa xã hội tp th, mt đc trưng ca ch nghĩa cng sn, vn là điu mà ông Nguyến Văn Trung it khi ri xa lm. Điu này hoàn toàn đúng ý khuynh t mà ông Nguyn Văn Trung và nhiu nhân vt khuynh t Min Nam khi y thường có. Ch có điu h không hoàn toàn nhìn thấy đó là cách gin lược thô bo nht v con người đi vi xã hi mà khuynh hướng mác xít vn mc phi. Khuynh hướng này vn t hào đây là chân lý thc tin, đây là ưu vit ca lý thuyết và chế đ, h không thy rng đó đó là ý nghĩa ca ht nhân đc tài toàn trị vn luôn luôn trà trn hay n mình hoc ngy trang trong đó.

Thật ra, con người là đơn v căn bn ca xã hi, con người mi là yếu t xã hi mà hoàn toàn không phi ngược li. Đây là cách nhìn khách quan khoa hc, cách nhìn nguyên t lun v xã hội mà không phi cái nhìn bn th lun v xã hi theo kiu mê tín hay cung tín mác xít. Ngay như mi vt trong thiên nhiên cũng th, mi cái ta tưởng như bn th (như cht lng nào đó) thc cht đu là nhng t hp ca các cu trúc nguyên t. K c thành phần ca mt nguyên t hay bn thân ca mi vt vt cht nói chung cũng thế. Ch nghĩa duy vt tht ra ch là mt cm quan v thế gii thc ti trong ý nghĩa gin lược và tng gp chung nht ca nó mà không là gì khác. Tt nhiên  đây cũng không tuyđối hóa ý nghĩa quan đim duy tâm, nhưng du sao đây cũng là khía cnh nhn thc phong phú, sâu sc, đa dng và linh hot hơn quan đim duy vt thô lu. gin lược hóa rt nhiu.

Về ý nghĩa lao đng cũng vy. Lao đng là yếu t tn ti và phát trin ca mi cá nhân. lao đng cá th và lao đng xã hi như vy ch là hai mt ca mt vn đ. Nhưng trong hai mt đó, mt lao đng cá nhân vn luôn là ý nghĩa tiên quyết và c th nht. Có điều lao đng không ch thun túy cơ bp, nhưng lao đng trí óc, lao đng tinh thân, lao đng trí tu nói chung là điu khiến con người thành người, xã hi thành người quan trng nht. Bi vì mi loài vt cũng có lao đng, nhưng đó ch là lao đng thân xác, như con gà bươi, con gà m, con sói săn mi, v mi, đó ch hoàn toàn là lao đng loài vt, không bao gi là lao đng kiu loài người. Tuy vy hc thuyết Mác bn cht ca nó là duy vt, mi cái nó ch nhìn dưới khía cnh kinh tế vt chất, do vy chính yếu nó ch gin lược con người vào tn ti sinh hc là chính, tn ti xã hi cũng ch được hiu là tn ti sinh vt, nên đó là khía cnh ưa thích kiu lao đng bngoài, lao đng tp th, kiu lao đng đi sng đàn by được áp đt trong khuôn đúc chuyên chính toàn diện.

Trái lại con người theo đúng nghĩa thì tht s là t do và bình đng, bi vì tri đt hay bn thân t nhiên vn t mang li như vy. Nên con người có thân xác t do và ý thc t do cũng là thế. Tp th chng qua ch là s ghép li tm thi các cá nhân. Nhận thc luôn cá nhân là ch yếu, cái gi là nhn thc tp th ch là cách tru tượng hóa t nhn thc cá cá nhân hp li. Điu này không nhng đúng trên bình din xã hi nht thi nào đó mà còn đúng c trên phương din lch s liên tc bt tn. Trong khi đó Mác cho rng ý thc côn người ch là hin tượng th sinh ca hot đng óc não, hot đng vt cht. Do vy mi cái được Mác cho là tinh thn, văn hóa ch là vô nghĩa, bi vì rt cuc cũng ch có ý nghĩa vt cht mà không có ý nghĩa gì khác. Nhưng thc s đây ch là cách nhìn thin cn và hàm h. Bi ý thc con người hay c nhn thc con người đu là mt thc th tru tượng, phi vt cht, không th nào ch đng hóa vi vt cht mt cách th thin. Ngay như Lênin cũng biết rng khi phân tích vt cht đến tn kỳ cùng, cũng chng còn li cái gì c th c. Nhưng ông ta c nói ba đó là vt cht dưới dng năng lượng. Nói như vy ch là nói theo quan đim khoa hc thc nghim mà không còn nói theo ý nghĩa triết hc nào na c.

Vậy thì văn minh văn hóa của con người là gì, đó là kết qu ca tích lũy lao đng thân xác và lao đng trí tu hàng ngàn năm. Hc thuyết tiến hóa ca Darwin là điu khách quan, nó là hin tượng sinh hc, mà đng thi cũng còn là hin tượng tinh thn, ý thc hay c nhn thc ca con người. Song khoa hc và triết hc là vô hn, bi vì trí thông minh ca loài người cũng vô hn. Tuy nhiên vô hn đến đâu nó cũng ch trong lòng cái vô hn tuyt đi ln hơn, bao trùm hơn hay nói khác đi nó cũng ch là cái hu hn. Tính cách nhân văn của chùng loài con người là tính cách tích lũy thường xuyên và liên tc qua lch s mà không th ch gin lược thô nhám vào riêng mt khía cnh nào c. Như sut hàng ngàn năm qua than xác con người không còn tiến hóa điu gì đáng k na, nhưng nhn thc và trí tuệ con người có v như vn phát trin không ngng. Như vy s nhn thc ca con người là ý nghĩa quan trng nht mà không phi ch s t chc thun túy v mt b ngoài ca xã hi.

Và chăng khía cạnh xã hi nhân loi là khía cnh đa dng nhiu mt. Trong đó mặt hot đng kinh tế và mt cu trúc xã hi ch là hai khía cnh ca mt vn đ. Bi vy người ta d dàng nhn ra nguyên tc t chc kinh tế kiu tp th xã hi mà Mác quan nim đã hoàn toàn vô b và phá sn. Trái li hot đng kinh tế theo cơ chế t đng vn hành ca xã hi khách quan là ý nghĩa ti ưu và tiết kim cũng như hiu qu nht. Đó là lý do ti sao ch nghĩa tư bn không t đào h chôn nó hay nó không phi đêm trươc ca ch nghĩa cng sn như Mác và Lênin nói mà nó vn t điu chình đ hợp lý hóa và đi lên không ngng bng chính mi phát trin v nhn thc và khoa hc k thut ca loài người. Do vy ý nghĩa ca công thc đ - phn đ - hp đ mà nhiu người khuynh t trước kia vn tâm đcvà được th hin khá nhiu trong Tp Chí Đi Hc, thực cht ch là cái nhìn gin lược hóa, tru tượng hóa thô lu v thc ti mà không gì khác nhưng li được h t hào như là  mt khám phá ln ca nguyên lý bin chng. Nói đúng ra, phát trin lch s và xã hi ch là phát trin theo dng tuyến tính mà không gì khác. Cái gọi là phát trin bin chng, là xoáy trôn c, thc cht ch là cái nhìn tưởng tượng t nhng hin tượng có v going nhau thế thôi. Đó là lý do ti sao ngày nay hc thuyết Mác không còn sc sng na. Đến ni như Ngh vin châu Âu còn vì nó như mt th gi rách ca thi kỳ quá kh còn sót li.

Trở li vn đ hay ý nghĩa khuynh tà ca Giáo Sư Nguyn Văn Trung trước kia. Đó ch là s th hiếu mác xít mà trong thế h ca ông nhiu người tng mc phi thế thôi. Nhưng đó cũng ch là mt ao ước kiểu tiu tư sn mà không gì khác. Bi vì trong thc tế nó không bao gi ging vy. Vì con người luôn luôn gn lin vi bn năng và s nhn thc. Khi cái này yếu thì cái kia phi mnh, cái này nhiu thì cái kia phi it. Có nghĩa khi nhn thc thiếu sót mà được phong thánh cho giai cp vô sn nó ch dn ti nhng s đc tài tai hi cho mi s phát trin ca xã hi là điu t nhiên. Nên cái cho là s mnh lch s ca giai cp vô sn ch là s cường điu hay s mê tín mang tính siêu hình hc ca hc thuyết Mác. Bởi vì con người t ngàn xưa vn là tâm đim ca xã hi mà không phi là giai cp kinh tế hay xã hi nào c. Bi nếp nào cũng thành ra xôi, sông nào cũng đu chy ra bin. Chính trí tu mi người, đo đc mi người, cho dù h giai tang, giai cp nào là có khả năng hay hoàn cnh đóng góp chung cho xã hi vy thôi. Nhưng mi vn đ đt ra vi trí tu nhân loi đu phi do trí tu nhân loi gii quyết mà không phi do thân xác con người gii quyết. Kiu khuynh tà trước kia ca mt s giáo sư đi hc Min Nam chỉ là kiu lơ lng con cá vàng. Và khi nước b khô ri thì con cá vàng cũng không còn lơ lng được na thế thôi. Đây có l là điu mà thy Nguyn Văn Trung trong nhng bài viết ca Tp Chí Đi Hc Huế trước kia đã tng thm thía nht.

 

THƯỢNG NGÀN

(17/5/16)

 

**

 

NGÀN KHƠI 


 

TẠP CHÍ ĐẠI HỌC, ĐÁNH DẤU MỘT THỜI CỦA GIỚI ĐẠI HỌC,
TRÍ THỨC VÀ HỌC THUẬT VIỆT NAM

 

Ở đây người viết không dùng chữ Huế hay Miền Nam, mà dùng chữ Việt Nam. Đó là có ý muốn nói tính đặc biệt, tính tiêu biêu, tính lịch sử một thời của Tạp Chí đó.

Thú thực khi còn học trung hoc, năm đệ nhị lúc đó, tức 1962 tôi đã lần đầu đọc đến Tạp Chí này rồi. Từ đó nó để lại trong lòng tôi cũng như trong trí tuệ của một dấu ấn qua trọng không bao giờ có thể phai mờ được.

Dĩ nhiên khi ấy có thể tôi đọc mà chưa hiểu hết mọi nội dung bài viết trong đó. Duy có điều nó hầu như đã mở ra cho tôi một sự tâm đắc, một sự say mê, một sự thán phục, một sự quí mến, một chân trời tri thức và ý nghĩa trí thức thật sự. Tuy có thời gian sau này tập hợp, lưu giữ được một số, song đến giờ lại chẳng còn trong tay số nào cả.

Bởi vậy nay đọc được các số Đại Học đó ngày xưa như những tài liệu đã được ông Nguyễn Văn Lục cẩn thận sao lục, tôi thật sự rất tâm đắc và rất cảm phục và cám ơn ông. Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa, nó cũng cho thấy một tâm huyết nhiệt nồng và cao quý thật sự mà chính ông Lục đã thể hiện.

Lấy tên gọi Tạp Chí Đại Học là một ý nghĩa rất thông minh, sâu sắc và sáng suốt, bởi vì tên gọi là toát lên mọi mục đích, ý hướng, cơ sở, và giá trị của nó. Tạp Chí Đại Học có nghĩa là một tập san khoa học, một tập san nghiên cứu, học thuật của cấp đai học, một trường đại học, mà cũng đồng thời cũng là một nền tảng chung nhất cho giới đại học, nghiên cứu, học thuật tiêu biểu của toàn xã hội, của cả nước, hay kể cả trên bình diện thời đại và trên bình diện lịch sử.

Điều đó cũng có nghĩa toàn bộ Tạp Chí Đại Học nếu được lưu lại đầy đủ sau này sẽ là một sử liệu quý giá nhất tiêu biểu và đánh dấu một thời kỳ lịch sử của cả nước hay dân tộc về rất nhiều phương diện. Rất tiếc sau khi vào học tiếp đại học ở Saigon, tôi biết hình như Tạp Chí Đại Học sau đó đã ngưng xuất bản, tôi chỉ có thể đọc được những tạp chí khác chuyên ngành hơn, như Tạp Chí Quê Hương chẳng hạn, đó cũng là những giá trị đại học rất nghiêm túc, khách quan, hữu ích, cần thiết và cao quý lúc đó.

Như vậy nói về Tạp Chí Đại Học là nói đến những khuôn mặt trí thức đúng nghĩa và nghiêm túc một thời, những nhà tư duy, những nhà học giả, những nhà khoa học và học thuât, một số nhà chuyên môn chuẩn mực đã xuất hiện trong đó. Đó chính là giá trị tinh thần, ý nghĩa văn hóa, mục đích nhân quần xã hội, và đặc biệt là tình cảm yêu nước, yêu con người, yêu nhân văn, là những ý nghĩa và nội dung không thể nào phủ nhận.

Cho nên ý nghĩa hay giá trị tiêu biểu nhất của Tạp Chí Đại Học là tinh thần và ý thức về sự tự do, tức về con người và xã hội tự do, chính đó mới là mục tiêu và giá trị nhân văn đáng ghi nhận, tâm đắc và đề cao nhất. Nó hoàn toàn không có kiểu ý thức hệ thiển cận hay ngắn ngày nào cả. Nó là ý nghĩa dài hơi của khoa học và học thuật. Nó vượt lên mọi sự biệt phái chủ quan, thường tình, mà hướng tới sự mở rộng ý thức tự do dân chủ đích thực cho tất cả mọi người. Đó chính là sứ mệnh lịch sử do nó tự đặt ra và sau này muôn đời cũng phải ghi nhận.

Bởi đại học có nghĩa là tinh thần và mục đích chuyên môn, mục đích học thuật. Mà nói như thế cũng ó nghĩa là mục đích nhân văn và mục đích khoa học. Bởi vì bậc tiểu học chỉ cốt học theo thầy. Bậc trung học côt để học cùng bạn. Nhưng chính bậc Đại học là học cùng xã hội, cùng nhân loại, kể cả cùng lịch sử. Cho nên đại học không thể nhồi nhét một chiều, hay chính trị hóa theo kiểu một chiều. Bởi vì thực chất đó chỉ là cách phản động. Trái lại đại học phải luôn đi đôi với ý nghĩa giải phóng, ý nghĩa cách mạng, ý nghĩa khai phóng, ý nghĩa nhân văn, tức chỉ lấy con người tự do và xã hội tự do làm chuẩn mà không bị ràng buộc vào bất cứ quyền lực cục bộ, ràng buộc vào các cá nhân nhất thời nào, ràng buộc vào bất kỳ những ý thức hê hạn hẹp hay chủ quan nào cả.

Thật ra Việt Nam trong thời kỳ còn bị lệ thuộc Pháp, đã có những tạp chí đúng đắn, trong sáng do những trí thức và những nhà văn hóa thời đó lập ra. Như tạp chí Nam Phong cũng đã từng nổi danh và hữu ích một thời mà bất cứ người trí thức nào cũng rõ. Nam phong tức là gió Nam, nó cũng tiêu biểu phần nào ý thức dân tộc, nguyện vọng tự chủ mặc dầu nước nhà đang bị đế quốc Pháp đô hộ. Có điều là trong thời kỳ đó nước ta vẫn có vua, có triều đình, chẳng qua vì chính quyền sở tại phải bị khống chế bới quyên lực thực dân từ ngoài lúc ấy vậy thôi. Đó chính là yêu cầu của sự trật tự bất đắc dĩ mà bao nhà trí thức tên tuổi cũng đành phải chịu.

Cho nên cái chính của con người là tinh thần và ý thức mà không là gì khác. Nhà văn danh tiếng Phạm Quỳnh từng nói tiếng ta còn nước ta còn, đó không phải câu nói ngoa, mị dân, nhưng là ý thức sâu xa là thế. Đó chính là cách tranh đấu cho dân tộc bằng ngòi bút của Phạm Quỳnh, cho dầu mặt bề ngoài chính trị nhiều người có thể cho là ông ta sai. Thời bị đô hộ mà ý thức và tinh thần của người Việt còn thế, huống là thời kỳ nước nhà độc lập tại Miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Nên từ đó cũng thấy rằng Tạp Chí Đại Học quả là điều rất nên trân trọng và rất đáng quý. Bởi cái cao cả ở đây nói chung lại hay cốt yếu nhất vẫn không ngoài là tinh thần tự do dân chủ, ý thức nhân văn sâu sắc, tìn cảm yêu nước sáng suốt mà thực tế đã được bộc lộ ra trong hàng trăm, hàng ngàn bài viết ra trong đó. Chính nó đã dẫn hướng cho nhiều thế hệ sinh viên nước ta cho tới ngày nay cho dầu họ đang ở đâu trong chính ý nghĩa nhân văn, dân tộc và học thuật.

 

ĐẠI NGÀN
(16/5/16)

                                                                                 


 

NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,

CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO – (07)


 

949. NÓI THẲNG RA VẤN ĐỀ TƯ BẢN VÀ CỘNG SẢN NGÀY NAY  

                                                      (20/5/16)

950. TRÍ THỨC VÀ KHOA HỌC (19/5/16)

951. TỪ Ý NIỆM GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN Ý NIỆM

                   GIẢI PHÓNG CỦA CÁC MÁC (19/5/16)      

952. TỪ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ, ĐẾN KHOA HỌC NGÔN NGỮ  

                                  VỀ TIẾNG VIỆT (18/5/16)

953. SỬ HỌC VÀ TRIẾT HỌC (18/5/16)

954. KHOA HỌC LCH SỬ (18/5/16)

955. CON NGƯỜI VÀ SỰ NHẬN THỨC (17/5/16)

                                                            
                                                              

No comments :

Post a Comment