NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO –
(07)
NÓI THẲNG
RA VẤN ĐỀ TƯ BẢN VÀ CỘNG SẢN NGÀY NAY
Thực chất mọi ởm ờ, tranh cãi, lấp liếm, ngụy biện hay đối
kháng nhau giữa các ranh giới của tự do dân chủ và độc tài, nhân quyền nhân văn
và phản nhân quyền nhân văn, phi ý thức hệ và ý thức hệ, đa đảng đa nguyên và độc
tài toàn trị đều không ngoài chỉ là đối kháng căn cơ giữa hai nguyên tắc nền tảng
là tư bản hay cộng sản mà người ta nhận thức. Đối kháng như vậy về mặt ngoài là
đối kháng thể chế, tức chính trị, nhưng về mặt trong là đối kháng xã hội tức là
đối kháng thực chất của hiện thực.
Thực chất ai cũng biết nước Mỹ hay mọi nước tư bản hoặc tự do
dân chủ khác, không hề trải qua một cuộc cách mạng cộng sản nào cả, không ràng
buộc hay đóng khung vào lý thuyết mác xít hay ý hệ cộng sản gì cả, không có thể
chế độc tài độc đoán gì cưỡng chế cả, mà tới này vẫn hoàn toàn phát triển tự
nhiên khách quan. Họ không đánh mất, không hi sinh điều gì cả, nhưng vẫn phát
triển đi lên và vẫn cường thịnh và hạnh phúc.
Thế nhưng Liên Xô và khối Đông Âu trước kia, Trung Quốc, Việt
Nam, Triều Tiên ngày nay, đặc biệt Cuba đang xoay chiều, đó đều là những đất nước
cộng sản, những thể chế chính trị cộng sản. Ngày nay thì khối Liên Xô và Đông
Âu cũ đã sụp đổ và tan rã, nhưng thể chế cộng sản thì vẫn còn ở những nước còn
lại. Tất nhiên những nước này đã quay về lại kinh tế thị trường, nhưng nguyên
lý về xã hội cộng sản thì vẫn không bỏ cho dầu nó có là thực chất hay chỉ thuần
túy nhân danh hay hình thức vì những lý do hoặc yêu cầu nào đó.
Vậy thì Cộng sản là gì ? Đó là lý thuyết do Mác Ănghen chủ yếu
đưa ra và Lênin là người đầu tiên thực hiện trên đất nước Nga sô viết. Quê
hương của Mác là Đức, quê hương của Lênin là Nga, nhưng bây giờ cả Đông Đức và
Liên Xô cũ đều không tồn tại nữa. Mác dựa vào quan điểm biện chứng luận của
Hegel để cho rằng cách mạng thế giới là tất yếu, đó là ý nghĩa khách quan, vì
trước hết cộng sản nguyên thủy bị vượt qua hay phủ nhận để cho ra xã hội tư sản
rồi tư bản, cuối cùng xã hội này bị vượt qua và phủ nhận để cho ra xã hội cộng
sản khoa học không còn tư hữu, không còn bóc lột, không còn giai cấp, đó chính
là điều hấp dẫn ban đầu của mọi người cộng sản và nó đã tạo nên được những nước
cộng sản.
Thế nhưng người ta dễ dàng thấy rằng học thuyết của Mác chỉ
thuần túy tư biện, nghĩa là chỉ lý luận theo kiểu hoàn toàn trừu tượng, tưởng
tượng, lý luận suông mà không thực tế. Vì nếu lịch sử hoàn toàn khách quan như
thế, cần gì con người phải chủ quan thực hiện. Điều đó khiến tạo nên quá nhiều
thứ không cần thiết và vô lý trong xã hội thực tế. Cuối cùng thế giới cộng sản
cũ phải sụp đổ là vì thế. Ý thức hệ cộng sản mác xít thực chất chỉ là hệ thống
tư tưởng do cá nhân đưa ra nhưng nó được áp đặt lên xã hội thực tế bằng bạo lực,
cưỡng chế, bởi chẳng có cuộc tổ chức lây ý kiến chung nào để thực hành thể chế
chủ nghĩa cộng sản cả.
Chẳng qua do Mác Ăngghen cho rằng bạo lực là bà đở của cách mạng,
là công cụ của giai cấp vô sản để thực hiện xã hội vô sản, còn Mao Trạch Đông
cho chính trị trên đầu súng, nên ý nghĩa của độc tài toàn trị là như thế. Nhưng
cái căn cơ thu hút của học thuyết Mác là quan niệm về bóc lột, quan niệm về bài
xích tư hữu, và quan niệm về xã hội không giai cấp. Thực chất đây đều chỉ là những
quan niệm bất cập của Mác. Mác đã căn cứ vào đôi giày biện chứng của Hegel để gột
chân nhân loại cho bằng vào đó. Mác hiểu lầm về ý nghĩa khách quan của tư hữu,
nguyên tắc khách quan của cấu trúc tự nhiên của xã hội và mọi sự vật, từ đó Mác
cũng thổi phồng, huyễn hoặc hóa ý tưởng bóc lột và giai cấp cũng như đấu tranh
giai cấp.
Bởi vì nguyên tắc đấu tranh là nguyên tắc chung trong mọi trường
hợp của vạn vật tự nhiên. Đấu tranh đều có mặt tiêu cực và mặt tích cực của nó.
Cái gọi là bóc lột là Mác chỉ nhìn trên quan điểm kinh tế vi mô, trên những trường
hợp cá biệt, không nhìn ở tầm kinh tế xã hội vĩ mô và không thấy khả năng tự điều
chỉnh luôn luôn của toàn xã hội loài người. Từ đó Mác phủ nhận luật pháp truyền
thống, cho đó là luật pháp của giai cấp tư sản, yêu cầu thiết lên pháp luật
chuyên đoán của chuyên chính vô sản. Nhưng Mác quên rằng mọi cái gì trong xã hội
đều cũng có thể có người lợi dụng, ý tưởng giai cấp vô sản là điều trái thực tế
tự nhiên, nhưng ngược lại nó có thể bị lợi dụng bởi vô số người khác nhân danh
nó để thủ lợi, đó là cái yếu trong quan điểm khoa học khách quan của Mác.
Vậy tóm lại mọi cái đều chỉ do học thuyết giả tạo của Mác mà
ra. Bởi nếu nó đúng thì đã được hiện thực lâu rồi. Đằng này nó sai mà vẫn còn
người theo vì các lý do khác nhau ngoài chính bản thân nó đó là điều vô lý. Có
nghĩa cần trở về những cái gì khách quan tự nhiên của xã hội trước khi Mác tùy
tiện dựng đứng lên mọi quan điểm lý thuyết giả tạo, chủ quan, lệch lạc của
mình. Tình cách tự nhiên khách quan của xã hội, nhất là xã hội hiện đại, đó
không ngoài là thể chế tự do dân chủ thực sự, có nghĩa cũng không còn kiểu chế
độ toàn trị độc đảng chủ quan gì nữa, mà là nền kinh tế thị trường cạnh tranh tự
do đúng đắn lành mạnh và có nền luật pháp khoa học, hiệu quả chi phối và điều
hành thực sự. Đó là quyền lợi đúng đắn chung của mọi đất nước, là quyền hưởng hạnh
phúc phát triển mọi mặt của mỗi dân tộc, đó là quyền sống tốt đẹp và phát triển
khách quan tự nhiên chính đáng của mọi con người, hay đó cũng chính là nhân quyền
trong một xã hội thực sự nhân văn tốt đẹp là như thế.
THƯỢNG NGÀN
(20/5/16)
**
TRÍ THỨC
VÀ KHOA HỌC
Đọc lại Tạp
Chí Đại Học của Đại học Huế ngày xưa, số 7, vào những năm 50 của thế kỷ trước,
đang được giới thiệu do ông Nguyễn Văn Lục, có thể nói những bài trong đó đến
nay vẫn rất đáng đọc. Cái đáng đọc những bài viết đó, ngoài những thông tin nội
dung của nó vào một thời đã qua, còn là ý thức, tâm huyết, ý hướng khoa học, và
cả tính cách trí thức của những người viết ra chúng. Có nghĩa những đề tài
trong đó là những đề tài còn mãi với thời gian, cũng như ý thức và tinh thần tự
do mà những bài viết đó thể hiện nên thật luôn luôn đáng tâm đắc và quý mến.
Có nghĩa
trí thức và khoa học vẫn luôn là những ý nghĩa, giá trị hàng đầu cần thiết nhất
cho mọi xã hội. Người trí thức dù sao chăng nữa cũng không thể tách khỏi khoa học
cũng như ngược lại, đó là cơ sở hay tính cách quan trọng nhất. Vì tính chất của
khoa học là tính khách quan, tính chính xác và tính thuần lý, vì thế nó tránh
được mọi chủ quan, cảm tính cũng như vượt lên được các chủ quan, cả tính. Giá
trị hữu dụng của khoa học cũng chính vì vậy mà không gì khác.
Như vậy
khoa học cũng mang hai ý nghĩa, ý nghĩa nội dung và ý nghĩa ý hướng. Nội dung
là mọi thành tựu khoa học đã đạt được, không bao giờ thành vô ích nữa, ý hướng
là ý thức nhận thức đúng đắn và luôn luôn hướng tìm kết quả khoa học mới. Có
nghĩa nếu xã hội tiến hóa không ngừng, khoa học cũng phát triển đi lên không ngừng,
chính vì thế mà trí thức hay người trí thức đúng nghĩa luôn luôn gắn chặt với
khoa học, với ý nghĩa,mục đích và tinh thần khoa học mà không bao giờ rời bỏ.
Cho nên
không phải chỉ đối tượng thiên nhiên, vật chất, kỹ thuật mới có yêu cầu gắn với
khoa học, mà cả nghệ thuật, văn học, tôn giáo, chính trị, hay văn hóa nói chung
cũng đều phải gắn với khoa học, với tinh thần khoa học, theo ý nghĩa khoa học
là tư duy đúng đắn, hữu lý, sáng suốt mà không bao giờ bảo thủ, thiên lệch hay
mù quáng. Ý nghĩa của khoa học là ý nghĩa trí tuệ chống lại mọi cảm tính tầm
thường hay mê tín là như thế.
Như vậy
cũng có nghĩa khoa học và trí thức không thể không đi song hành với tính chất
xã hội tự do dân chủ. Bởi khoa học không phải chỉ có một phạm vi mà bao gồm tất
cả mọi phạm vi. Bởi thế mọi tính cách độc tài độc đoán đều phản khoa học và phi
trí thức. Chẳng hạn độc tài toàn trị theo kiểu ý thức hệ là điều tồi tệ nhất đối
với con người, với trí tuệ, với trí thức và với khoa học. Vì trí thức một
khi đã bj nô lệ hóa cũng không còn tự do, cũng không còn trí tuệ và khoa học gì
nữa.
Vì ý thức
hệ chẳng qua chỉ là hệ tư tưởng nào đó của một cá nhân đưa ra trong hoàn cảnh
hay thời điểm lịch sử nào đó. Vậy mà nếu nó cai quản toàn thể xã hội thì tất yếu
đã phạm vào nguyên tắc bình đẳng tự do của tất cả mọi người. Có nghĩa đó chính
là sự phản động đối với lịch sử, đi ngược lại tính phát triển tự do của nhân
văn và của khoa học nói chung mà không là gì khác. Đó là ý nghĩa tại sao khoa học,
trí thức và nhân văn bao giờ cũng chỉ là một mà không bao giờ là hai được.
THƯỢNG
NGÀN
(19/5/16)
(19/5/16)
**
TỪ Ý NIỆM
GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO
ĐẾN Ý NIỆM
GIẢI PHÓNG CỦA CÁC MÁC
Sở dĩ tôi phải viết bài phóng bút ngắn, chớp nhoáng này là vì
vừa đọc lại bải viết của tác giả Phạm Minh Hợp đăng trên Tạp Chí Đại Học do ông
Nguyễn Văn Lục sưu tập lại và số hóa hiện nay. Đây là tài liệu thuộc về lịch sử
quá khứ rất đáng trân trọng và tôi cũng rất tâm đắc việc làm của chính ông Lục.
Bài viết của ông Hợp có tựa đề "Tôi đọc lại cuốn Biện Chứng
Giải Thoát Trong Phật Giáo của Nguyễn Văn Trung". Đây thật sự là đề tài luận
án tiến sĩ triết học mà giáo sư Trung đã hoàn thành tại Bỉ vào đầu thập niên
1950. Nên nhớ giáo sư Trung là người Thiên chúa giáo, nhưng ông làm luận án tiến
sĩ về đạo Phật chính là điều rất nên trân trọng và đáng thú vị. Hơn nữa đối với
các đại học và phương pháp giáo dục theo truyền thống phương Tây, học thuật là
hoàn toàn tự do, đặc biệt tư tưởng trong các đề tài luận án khoa học đều được
luôn luôn tôn trọng như thế mà không hề bị hạn chế vì bất cứ nguyên nhân hay mục
đích nào.
Bây giờ thì người ta khó tìm lại được luận án này để đọc,
nhưng đọc bài viết của tác giả Phạm Minh Hợp người ta cũng thấy ra được một số
điều cơ bản cần phải biết trong đó. Nói chung ngay khi ấy giáo sư Trung đã từ
ngữ Biện chứng giải thoát đã cho thấy ông ta luôn bị tràn ngập khái niệm thời
thượng này lúc đó thế nào. Có lẽ hơn thế khi làm đề tài không phải tác giả
không nghĩ đến quan điểm giải phóng trong Mác. Ấy cũng chẳng trách giáo sư
Trung sau này ở Miền Nam cũng là một khuôn mặt có ý thức khuynh tả cũng hoàn
toàn là điều dễ hiểu.
Thật thì từ ngữ giải thoát trong Phật giáo và từ ngữ giải
phóng trong mác xít là điều mọi người từ lâu đã biết. Giải thoát trong Phật
giáo có nghĩa là thoát ra khỏi mọi hệ lụy, triền phược trong cuộc đời thế tục.
Còn giải phóng theo Mác là đập bỏ chế độ kinh tế xã hội tư bản, tư sản để đi
theo con đường vô sản hoàn toàn nhằm xây dựng một xã hội lý tưởng nhất trong
chính thực tại cuộc sống này.
Có nghĩa ý niệm giải thoát trong Phật giáo là ý nghĩa tinh thần,
ý thức. Trong khi đó ý nghĩa giải phóng trong Mác là ý nghĩa chính trị, ý nghĩ
kinh tế xã hội, ý nghĩa vật chất, cụ thể, thực hành và tổ chức thực hiện trong
thế tục tất cả mọi điều đó. Như vậy ai cũng thấy ý nghĩa của Phật giáo là ý
nghĩa về tâm thức, tâm lý học. Trái lại ý nghĩa mác xít là ý nghĩa cuộc đời xã
hội, ý nghĩa của phạm trù hiện thực, cơ chế hay tổ chức bề ngoài thân xác trong
cuộc đời.
Tuy vậy nói rộng hơn, Phật giáo không thoát khỏi bầu khí triết
học siêu hình Bà la môn của Ấn độ giáo nói chung. Mối quan hệ giưa tiểu ngã và
Đại ngã, tức atman và Brahman. Đặc biệt sau cả gần cuộc đời thiền định và suy
tưởng của mình, Phật đã nhận chân ra được chân lý luân hồi cứ mãi trong vòng luẩn
quẩn, nên theo Ngài giải thoát là tự mình tu đạo, nhằm tự thực hiện giải phóng
mình ra khỏi vòng vô minh, khỏi luân hồi nghiệp báo để đạt đến được coi Chân
như thường hằng vĩnh cửu.
Ngược lại, Mác chỉ căn cứ vào niềm tin nơi biện chứng luận của
Hegel, cốt yếu dùng khái niệm phủ định của phủ định để cho rằng nếu tiền đề là
cộng sản nguyên thủy, phản đề là tư sản tư bản, thì hợp đề phải là cộng sản
khoa học. Cái khoa học của Mác chỉ là cái lý luận mê tín theo Hegel là như thế.
Bởi Hegel là duy tâm, biện chứng của Hegel thực chất là biện chứng mang tính
cách nhận thức. Đằng này Mác hoàn toan duy vật, lại lấy biện chứng mang tính
siêu hình của Hegel làm nền tảng cho quan điểm duy vật của mình. Như vậy nếu
Mác không là ảo tưởng cũng chỉ là ngụy biện, lý luận theo kiểu phản lý luận.
Ý nghĩa nhận thức lệch lạc của Mác là như thế, còn ý nghĩa xã
hội thực tế thì sao ? Mác bất chấp cả mọi quy luật tâm lý tự nhiên khách quan của
cá nhân và xã hội, chỉ lý luận theo kiểu tư biện trừu tượng thuần túy, coi con
người như những đơn vị trừu tượng mà quên đi mọi tính chất hiện thực của nó.
Nên Mác đưa ra ý nghĩa praxis để hấp dẫn, lôi cuốn, tác động, lôi kéo mọi người,
thực ra đó chỉ là ý nghĩa giả hình mà không thực chất, bởi vì nó dựa vào lý luận
trừu tượng mà quên đi mọi qui tắc khoa học thực tiển và cụ thể khách quan.
Nhưng mọi người khuynh tả trong đó có giáo sư Nguyễn Văn Trung và giáo sư nổi
tiếng Trần Đức Thảo vẫn cứ mê man như điếu đổ về quan điểm giả ảo đó.
Nói cho đúng ra, vũ trụ tồn tại không đi ra ngoài hai phạm
trù cấu thành cơ bản, phạm trù vật chất hiện thực cụ thể và phạm trù ý thức
tinh thần trừu tượng. Giản lược cái nào vào cái nào cũng chỉ phiến diện và bất
cập. Điều đó có nghĩa giải thoát trong Phật giáo là giải thoát ý thức, giải
phóng mọi niệm động trong tư duy là điều bao quát, cơ bản, thực tế và đúng đắn.
Trái lại giải phóng trong Mác chỉ là quan điểm thị hiếu về chính trị, mang tính
ức đoán và cực đoan, mang tính phiến diện và áp đặt, do đó quan điểm chuyên
chính vô sản của Mác càng tệ hại, vì đó không phải là giải phóng mà thực chất
chỉ là nô lệ hóa xã hội, nô lệ hóa con người.
Nhưng bất kỳ ai tinh ý một chút, khi Mác nói về ý thức của
giai cấp công nhân công nghiệp, nói về sứ mạng nhận thức của họ về quy luật
cách mạng xã hội, chính Mác đã rơi vào chỗ mê tín, siêu hinh. Ông ta không thấy
rằng hoàn cảnh và điều kiện của giai cấp công nhận khi ấy chỉ là hoàn cảnh và
điều kiện lịch sử khách quan. Bởi vì khi lịch sử phát triển đi lên về mọi mặt,
giai cấp công nhân cũng không thể chỉ đứng ỳ một chỗ như thế mà phải thay đổi
cùng với thay đổi chung của toàn xã hội. Nói khác Mác đã phạm trù hóa giai cấp
công nhân, siêu hình hóa giai cấp công nhân, huyễn tượng hóa ý thức giai cấp
công nhân đó là điều mê muội hay thậm chí ngu dốt chưa hề từng có về ý nghĩa
khách quan và thực tiển khoa học.
Bởi vì con người thực chất là thân xác sinh lý động vật. Nó
không bao giờ thoát ra khỏi mọi bản năng sinh học tự nhiên của nó. Như vậy
thoát con người cốt yếu là về mặt ý thức, mặt nhận thức, không phải mặt thuần
túy tổ chức bên ngoài kiểu xã hội hóa bầy đàn tầm thường như Mác hiểu. Nói khác
đi quan điểm giải thoát của đức Phật hoàn toàn chính xác, thực tế, khách quan
và tự nhiên hơn quan điểm giải phóng của Mác rất nhiều. Có điều Mác là người
luôn cả vú lấp miệng em, ngụy biện và độc đoán cho rằng nhưng quan điểm nào
không phải của Mác đều chỉ là quan điểm của bọn duy tâm, của bọn tư sản, chỉ có
quan điểm của Mác mới là cách mạng đúng nghĩa thật sự. Một thái độ như thế thì
còn gì khách quan khoa học. Nên mọi cái Mác tự xưng là khoa học thực chất đều
là phi khoa học, phản khoa học là như thế.
Nên tóm lại quan điểm giải thoát trong Phật giáo và quan điểm
giải phóng trong Mác là hoàn toàn khác nhau. Trong Phật là ý thức cũng như quan
điểm nhận thức nghiêm túc về con người và xã hội. Trong Mác chỉ là kiểu thị hiếu,
kiểu cường từ đoạt chữ. Mác cho rằng tôn giáo chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần
chúng, cho rằng toàn bộ nội dung văn hóa của thế giới loài người chỉ phản ảnh của
ý thức hệ, đặc biệt là ý thức hệ tư sản trước Mác, đó chỉ là thứ thượng tầng
kiến trúc dựa trên hạ tầng cơ sở là kinh tế xã hội mà không là gì khác. Tựu
trung lại Mác hoàn toàn duy vật, thế thì giải phóng của Mác là đưa con người lại
với hoàn toàn thế giới vật chất, thế giới sinh học, đó là điều Mác coi là xã hội
cộng sản khoa học lý tưởng, xã hội không còn giai cấp, xã hội kinh tế kiểu bầy
đàn à Mác coi sẽ hoàn toàn tự do tự nguyện.
Chính sự không bao quát về mọi mặt khoa học, trong đó có khoa
học tự nhiên, khoa học lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tâm lý, khoa học
chính trị, đặc biệt nhất là khoa học kinh tế, hay nói chung là khoa học về con
người và khoa học về vu trụ mà Mác đã chủ quan, độc đoán, càn đùa tất cả. Tâm
lý ý thức của Mác là chỉ để tự sướng, để phụ vụ riêng cho thị hiếu say mê biện
chứng luận kiểu giả ảo và trường ốc, thơ ngây của minh. Từ đó Mác tự cương đại
lên mình là khoa học, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của lịch sử, lịch
sử loài người từ trước đến nay chỉ là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Mác tự vẽ
một vòng tròn rồi chuôi tọt vào đó, Mác tự vẽ một vòng trong rồi bắt toàn thể
nhân loại, toàn thể lịch sử loài người chui tọt vào đó. Đó chính là quan điểm
giải phóng của Mác.
ĐỈNH NGÀN
(19/5/16)
(19/5/16)
**
TỪ TRIẾT
HỌC NGÔN NGỮ,
ĐẾN KHOA HỌC NGÔN NGỮ VỀ TIẾNG VIỆT
ĐẾN KHOA HỌC NGÔN NGỮ VỀ TIẾNG VIỆT
Sự vật không có ngôn ngữ, âm thanh do sự vật phát ra là do va
chạm với sự vật khác. Cái được cho là ngôn ngữ của sự vật là bởi sự tưởng tượng
của nhà thơ.
Loài vật có ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ của nó nghèo nàn, thường
chỉ là những tiếng kêu do bộ phận phát âm phát ra, nội dung thường chỉ đơn giản.
Trong khi đó ngôn ngữ của loài người là tiếng nói phức tạp,
phong phú, đa nội dung. Đi kèm với ngôn ngữ nói loài người còn có ngôn ngữ viết.
Ngôn ngữ viết là hình thức ký hiệu hóa của ngôn ngữ nói, nó phụ thuộc vào hay
có nguồn gốc của nó là ngôn ngữ nói.
Tất nhiên tiếng nói của mọi dân tộc đều là một hệ thống đầy đủ
và chặt chẽ, nó tiến hóa hay phát triển qua lịch sử thời gian. Trong hệ thống
đó có yếu tố đơn vị và yếu tố kết hợp. Yếu tố thành phần đơn vị nhỏ nhất là những
từ. Từ là sự phát âm đơn vị cho một ý niệm hay khái niệm đơn vị nào đó chỉ về một
sự vật. Từ có nội dung của nó là nghĩa, sự hiểu về nghĩa nào đó gọi là ý nghĩa.
Như vậy ngôn ngữ là một hệ thống ý nghĩa. Tập hợp không có ý nghĩa chỉ là tập hợp
các âm thanh vô nghĩa. Khi âm thanh vô nghĩa được trang bị một ý nghĩa, đó là sự
quy ước về ý nghĩa.
Tất nhiên ngôn ngữ của con người chủ yếu phát ra từ bộ phận
phát âm là miệng, nhưng nhận thức về ngôn ngữ là do trí não. Người ta phân biệt
được trên vỏ nào những trung tâm ngôn ngữ nhất định. Nhưng đó là về mặt sinh học.
Còn nội dung của ngôn ngữ không phải sinh học mà là yếu tố tâm lý hay là yếu tố
ý thức, yếu tố năng lực nhận thức.
Đó là lý do tại sao ngôn ngữ được gắn với các ý niệm. Ngôn ngữ
chỉ là cái vỏ của các ý niệm. Nếu không có nội dung hay cái ruột này ngôn ngữ
cũng vô nghĩa hay không bao giờ thành hình và phát triển được. Cái vỏ của ý niệm
trừu tượng là ngôn ngữ biểu hiện bằng âm thanh vật lý. Ngược lại nội dung của ý
niệm là ý thức của tinh thần trừu tượng nơi đầu óc con người.
*
*
*
Tiếng Việt là một loại ngôn ngữ hết sức phong phú và linh hoạt,
sinh động, giàu màu sắc trên thế giới. Đó là ngôn ngữ của thi ca và của âm nhạc
mà không phải các ngôn ngữ khác đều có được. Bởi bản thân của tiếng Việt tự nó
là nhạc tính, nên bản chất thi ca của nó cũng tự nhiên từ đó mà có. Phân tích
theo âm ngữ học, tiếng Việt có nhiều dấu giọng, cụ thể là năm âm sắc lên xuống
trầm bổng, đồng thời là ngôn ngữ đơn âm tiết. Điều này hoàn toàn trái lại với
các ngôn ngữ đa âm tiết, nhờ thế mà tính cách linh hoạt của nó là vô hạn.
Nghiên cứu tiếng Việt về mọi phương diện đó là một khoa học,
nhưng diễn đạt bằng tiếng Việt lại là một nghệ thuật. Trong tiếng Việt có vô số
nghệ thuật mà ai cũng biết, như điệp ngữ, điệp vận từ láy, đa nghĩa, chơi chữ, ẩn
nghĩa, mượn nghĩa v.v... mà thật khó có ngôn ngữ nào khác phong phú, ý nhị hay
cũng thông minh như thế được.
Bởi thế nghiên cứu khoa học tiếng Việt là cách để hiểu sâu xa
về tiếng Việt trong mọi phương diện, đồng thời cũng làm phong phú tiếng Việt. Đọc
bài viết của giáo sư Trương Văn Chính phân tích về tiếng Việt người ta thấy
hoàn toàn thú vị và tâm đắc về những điều đó. Nhưng đó chỉ là một công trình mở
đầu cách đây trên nửa thế kỷ. Bởi vậy ngày nay nếu có những người kế tục như thế
về khoa học nghiên cứu tiếng Việt thì thật là rất hứa hẹn và cũng thật vô cùng
phong phú và hấp dẫn.
ĐẠI NGÀN
(18/5/16)
(18/5/16)
**
SỬ HỌC VÀ TRIẾT HỌC
Sử học là học về lịch sử, tức nghiên cứu về lịch sử. Triết học là học về
cái tồn tại chung, tức nghiên cứu về cái tồn tại chung. Như vậy ai cũng thấy
rang lịch sử là một bộ phận nào đó của triết học, ngược lại triết học cũng
không thể thoát ly một phần nào đó của sử học.
Sử học là ngành khoa học thực nghiệm theo nghĩa rộng, tức phải căn cứ vào
mọi dữ liệu khách quan để xem xét và kết luận. Trong khi đó triết học là ngành
khoa học của tư duy trừu tượng. Triết học căn cứ trên tính lô-gích rộng mở để
xem xét mọi sự việc khách quan khác nhau.
Nói khác đi triết học và sử học có những chỗ giống nhau và những chỗ không
going. Dữ liệu của triết học luôn luôn là những dữ liệu trừu tượng
hay đã hoặc được trừu tượng hóa. Trái lại dữ liệu của sử học tất yếu
phải là những dữ liệu cụ thể. Không có những dữ liệu cụ thể, triết
học đành chịu.
Một điều cũng đáng nói triết học là một hệ thống những nhận thức
và sử học cũng vậy. Nói hệ thong là nói tính bao quát và tính chia phần. Nhưng
tính hệ thống của triết học là tính hệ thống hoàn toàn trừu tượng. Trong khi đó
tính hệ thống của lịch sử hay sử học là tính hệ thống hoàn toàn cụ thể. Có
nghĩa tính hệ thống của triết học chỉ có thể hoàn toàn tìm thấy bên trong tư
duy của nhà triết học. Trong khi đó tính hệ thống của sử học chỉ có thể tìm
thấy bên ngoài của nhà sử học. Bởi nếu chỉ tìm thấy bên trong của nhà sử học,
rất có thể đôi khi nó trở thành chủ quan. Vậy thì giữa sử học và triết học có
gì tương đồng hay có gì đối lập ?
Tương đồng có nghĩa người ta có thể triết lý về lịch sử, có thể sử hóa về
triết học. Còn đối lập có nghĩa không thể dùng phương pháp luận của sử học cho
triết học hoặc là ngược lại. Cũng vậy ý niệm biện chứng hay biện chứng
luận của lịch sử có đúng không là điều cần xem xét. Bởi biện chứng
luận là một khái niệm về triết học, trong khi lịch sử chỉ có thể mang tính hoàn
toàn khách quan, cụ thể và khoa học.
đem cái trừu tượng vào cái cụ thể đôi khi chỉ là điều
cưỡng ức, trong khi đó dùng những dữ liệu cụ thể để soi sáng tư
duy triết học không những là điều cần thiết mà còn là điều có thể làm được
và cần phải làm như thế.
Bởi vậy nói cho cùng xem xét lịch sử nhiều khi rất bổ ích cho triết học,
ngược lại triết học hóa lịch sử nhiều khi không cần thiết mà rất dễ tạo ra ngộ
nhận. Chính Mác là người đã triết học hóa lịch sử rõ hơn ai hết. Như đưa ra
thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là sơ thích tâm đắc của ông. Nhưng
dầu có một thời trong thế giới cộng sản nó được đưa lên như là một khoa học đệ
nhất, lấn át tất cả mọi ngành khoa học khác, trong đó có lịch sử khách quan về
mọi phương diện, địa hạt, và nhất là nó đã từng có thời kỳ hoàn toàn mê đắm hay
bị cưỡng bức phải mê đắm ở Việt Nam.
Thế nhưng bây giờ lịch sử khách quan trên thế giới cũng như ngay cả Việt
Nam trong thực tế đã hoàn toàn khác hẳn hay hầu như khác hẳn. Như vậy cũng có
nghĩa sử học chỉ có thể là một khoa học đúng nghĩa nhưng không thể nào là một
triết học đúng nghĩa. Bởi khoa học triết học là khoa học về lô-gích
tư duy, trong đi đó khoa học sử học là khoa học thực nghiệm dựa vào
những nhận xét, suy đoán hay kết luận hoàn toàn cụ thể, khách quan. Nhưng có
điều có số người làm triết học trước đây trong số đó có giáo sư Trần Đức Thảo
và giáo sư Nguyễn Văn Trung rất hâm mộ khuynh hướng triết lý hóa lịch sử của
Các Mác. Bây giờ tất cả những điều đó đã lùi về quá khứ và chẳng
qua nhắc lại nó như nhắc lại một thứ bóng mờ vậy thôi.
ĐẠI NGÀN
(18/5/16)
**
THƯỢNG NGÀN says:
KHOA HỌC LỊCH SỬ
Khoa học luôn nhằm khảo sát đối tượng nào đó một cách khách quan và có phương pháp
đúng. Đây chính là hai điều then chốt để tạo nên ý nghĩa, kết quả và giá trị của khoa học. Khoa học bởi vậy luôn dựa trên lý trí đúng đắn, lành mạnh và tách xa khỏi mọi cảm tính nông cạn hay thiên lệch, vì đó chỉ là những khuynh hướng tình cảm hay cảm xúc tầm thường, thấp kém, riêng tư của con người.
Lịch sử là mọi sự kiện quan trọng đã xảy ra trong quá khứ thuộc về một xã hội, một dân tộc hay một đất nước. Nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử là để hiểu biết, đánh giá chính xác về những sự kiện đã xảy ra đó để nhận thức đúng đắn, khách quan về nó, không mù mờ, không ảo tưởng, không sai lạc. Đó chính là chân lý của lịch sử, vì chân lý tự bản thân nó là khách quan, nhưng con người có nắm bắt được chân lý thì mới có ý nghĩa, giá trị và sự hiểu biết.
Từ ý nghĩa
đó, nói về cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm ở Việt Nam từ 1945 đến 1975 cần phải nhận thức một cách đúng đắn, khách quan và khoa học. Đặc biệt trong đó ý nghĩa nhất là trận Điện Biên Phủ. Vì nếu không có sự kiện này các sự kiện về sau đều có thể khác. Kết quả của sự kiện Điện Biên Phủ cuối cùng đã làm lực lượng Pháp phải quay về nước, đi đến thực tế chia đôi đất nước, Miền Bắc thuộc chế độ cộng sản còn Miền Nam không phải chế độ cộng sản. Do đó muốn đánh giá một sự kiện, ngoài việc căn cứ trên nguyên nhân của nó, người ta còn có thể căn cứ theo hậu quả hay kết quả mà sự kiện đó mang lại.
Từ kết quả đó cũng thấy được cuộc chiến tranh Việt Nam mà đặc biệt trận chiến Điện Biên Phủ đã có yếu tố tranh chấp quốc cộng cả bình điện quốc nội lẫn quốc tế trong đó. Đằng sau Pháp đã phần nào có Mỹ, đằng sau Việt Minh đã căn bản phải có Liên Xô, Trung Quốc, và cả thế giới cộng sản quốc tế lúc đó. Đó chính là khởi điểm để bắt đầu cho Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sau 1954 và Việt Nam xã hội chủ nghĩa sau 1975. Tất cả những gì Miền Bắc làm tại Miền Bắc sau 1954 và Miền Bắc làm tại Miền Nam sau 1975 đều cho thấy điều đó.
Nên ý nghĩa của Pháp thua
trận vừa mang tính chính quốc Pháp thua và lực lượng không cộng sản trong hàng ngũ Pháp (lực lượng Bảo Đại) thua. Ý nghĩa Việt Minh thắng trận, mang ý nghĩa lực lượng cộng sản thắng, và cả lực lượng chống Pháp của những người không phải cộng sản ở trong hàng ngũ cộng sản thắng. Đó là thực tế rõ ngời ngời, chỉ ai cố tính không biết mới hoàn toàn không biết. Rát tiếc phần lớn dân chúng vì bị tuyên truyền một chiều nên phần nhiều không thấy điều đó, đó chính là sự tầm thường của tính tuyên truyền và nói trắng ra là tội lỗi đối với nhân dân của mọi sự tuyên truyền che lấp sự thật, không đúng đắn, kể cả khi nhằm bóp méo, xuyên tạc mọi lịch sử khách quan.
Vậy thì nếu quá khứ là mọi cái gì đã qua, không thể làm thay đổi được, nhiệm vụ và ý thức của mọi người chân chính là phải biết các sự thật lịch sử một cách chân chính. Do đó mọi sự xuyên tạc lịch sử, giải thích sai lệch làm ngu dân, đó là tội lỗi lịch sử thậm chí tội ác lịch sử. Bởi vì lịch sử là lịch sử của chính dân tộc mình, của đất nước mình, mà mình không tôn
trong sự khách quan đúng đắn của nó đã qua thì còn gì ý nghĩa, giá trị hay tính cách nữa. Do vậy khi nghiên cứu lịch sử không con là một khoa học mà chỉ còn là những thị hiếu, mục tiêu chính trị tầm thường thuần túy, mọi ý nghia hay sử liệu đó cũng chỉ đáng vứt đi. Điều đó chỉ nói lên tính cách bất xứng
của những người viết sử, nhận định lịch sử nông cạn, bất chấp theo kiểu đó, và
chỉ để lại một lổ hổng khổng lồ về mặt tư liệu đúng đắn cho các thế hệ mai sau
vậy thôi. Nên nói chung lại ý nghĩa của trận Điện Biên Phủ cho tới nay vẫn
không thoát ra khỏi các sự bóp méo do chủ đích của sự tuyên truyền luôn không
ngừng mang đầy tính chất ý thức hệ cộng sản một thời là như thế.
ĐẠI NGÀN
**
CON NGƯỜI VÀ SỰ NHẬN THỨC
Ông Nguyễn Văn Lục đã nổ lực sưu tầm và số hóa các số Tạp Chí Đại Học của Đại Học Huế trước kia của Miền Nam của những năm giữa thế kỷ 20 đã qua để giới thiệu với các bạn đọc nhất là lớp trẻ ngày nay thật là một điều rất đáng trân trọng và bổ ích.
Tất nhiên những lớp lớn tuổi thì ngày nay it có thời giờ đọc lại, nhưng đối với các thế hệ trẻ nói chung, cho dù mãi sau
này, thì việc đọc lại những tài liệu như trên thật sự đều luôn luôn cần thiết.
Riêng đối với số 4 & 5 của loạt tạp chí được giới thiệu, vấn đề con người được nêu ra một cách sâu sắc, phong phú và hữu ích. Con người được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ triết học, khoa học, xã hội, đến văn học, kể cả đến bạo lực, lịch sử, cách mạng, nhân văn v.v... là điều đáng
nói nhất. Những bài viết ở đây dĩ nhiên hoàn toàn tự do, tác già của chúng tự chịu trách nhiệm trước dư luận và xã hội mà không chịu bất cứ sự chỉ đạo, ràng buộc hay khuôn khổ bên ngoài nào khác. Nhất là có những nội dung nói về người trí thức, vai trò và ý nghĩa của trí thức, cho thấy một tầm nhìn hết sức đa dạng và cởi mở, phóng khoáng.
Có nghĩa vấn đề con người là vấn đề muôn thuở của nhân loại, bởi đó là đề tài con người nói về chính mình, nhân loại nói về chính bản thân mình. Người ta tưởng chừng đó chỉ là ý nghĩa đơn giản, nhưng thật ra không phải như vậy. Bởi vì ý nghĩa con người không phải chỉ là ý nghĩa cụ thể hay trừu tượng, ý nghĩa cá nhân hay xã hội, ý nghĩa
kiện tính hay ý thức, ý nghĩa nhân văn hay vật chất, ý nghĩa kinh tế hay văn hóa, ý nghĩa khoa học hay triết học, ý nghĩa chính trị hay xã hội, ý nghĩa độc đoán hay dân chủ, ý nghĩa, ý
nghĩa hiện tại hay lịch sử, mà lai bao gồm và bao quát tất cả mọi thứ đó.
Dĩ nhiên, nhìn chung lại thì con người bao giờ cũng có hai phần, phần thân xác và phần nhận thức, hay phần vật chất và phần ý thức, nói khác đi là phần cụ thể và phần trừu tượng, hoặc nói theo kiểu tôn giáo là phần xác và phần hồn. Hay nói theo kiểu trường ốc là phần sinh lý học và phần tâm lý học. Tất yếu hai phần này chỉ là một hay là hệ thống lưỡng nguyên nào đó là còn tùy sự quan niệm. Bởi thế xuất hiện hai trào lưu tư tưởng từ xưa đã có là quan điểm duy tâm
hay quan điểm duy vật. Duy tâm hẳn nhiên cũng có nhiều thứ, và ngay cả duy vật cũng vậy. Nhưng thực tiển hơn hết, khi bàn về con người người ta hay nói đến ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa xã hội, đó là điều mà sau này các ý thức hệ chính trị thường quan tâm đến.
Từ những cơ sở tiên quyết đó, điều đặt ra trước hết cho con người là tính nhân cách, tính lao động, tính xã
hội, tính chính trị hay tính tổ chức. Đây cũng là ý nghĩa hay bị tranh cãi nhất. Như Miền Bắc trước kia chỉ ưa nhấn mạnh đến lao động và xã hội, được lồng khuôn trong ý thức hệ mác xít. Miền Nam ngược lại có thời kỳ ưa nhấn mạnh đến cần lao, nhân vị, nhất là luôn luôn đặt nặng về ý nghĩa tự do dân chủ của cá nhân con người trong khung cảnh xã hội. Tính cách của Miền Bắc thường có khuynh hướng coi thường, đặt nhẹ, hay thậm chí ác cảm với tôn giáo. Tính cách của Miền Nam thì hoàn toàn ngược lại, luôn gần gủi với tôn giáo và coi tôn giáo mọi loại như là yếu tố khách quan tự nhiên không thể loại bỏ hay cũng còn cần thiết trong xã hội loài người.
Tuy vậy
khi đọc vào nội dung các Tạp Chí Đại Học đã nói, người ta thấy rõ khuynh hướng của Miền Nam nơi các tác giả của nó là khuynh hướng tư sản hay nói đúng
là tự do dân chủ kiểu tư sản như Mác nói. Trong khi đó
ai cũng biết khuynh hướng của mọi loại tạp chí do dù học thuật đi nữa của Miền Bắc cũng thời kỳ là khuynh hướng chuyên chính vô sản. Đó
là điều hoàn toàn tương phản và lộ rõ ra khắp nơi như trên lòng bàn tay. Duy
có điều, khi đọc vào các bài viết của các tác giả Nguyến Văn Trung, Trần Văn Toàn, người ta luôn luôn thấy hơi hướm của khía cạnh tư tương mác xít nào đó. Tất nhiên nó không hoàn toàn lộ rõ, nhưng ai tinh ý, có thể thấy trong chiều sâu nó luôn luôn không
thoát ra khỏi điều đó. Có điều tư tưởng mác xít ở đây nó như một cảm thức chung nào đó, một kiểu thời trang, tời thượng nào đó, hay một thị hiếu kiểu khuynh tả nào đó nhưng không bao giờ nó được phân tích một cách toàn diện và thật sâu xa bao quát
theo theo yêu cầu khoa học và triết học thật sự khách quan đúng nghĩa.
Ông Nguyễn Văn Trung
hay nói về ý hướng xã hội theo kiểu mác xít. Nhiều khi còn nói cả ý hướng lao động theo kiểu praxis mà Mác vẫn luôn nhấn mạnh. Bởi vậy ý nghĩa xã hội tập thể, một đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản, vẫn là điều mà ông Nguyến Văn Trung it
khi rời xa lắm. Điều này hoàn toàn đúng ý khuynh tả mà ông Nguyễn Văn Trung
và nhiều nhân vật khuynh tả Miền Nam khi ấy thường có. Chỉ có điều họ không hoàn toàn nhìn thấy đó là cách giản lược thô bạo nhất về con người đối với xã hội mà khuynh hướng mác xít vẫn mắc phải. Khuynh hướng này vẫn tự hào đây là chân lý thực tiển, đây là ưu việt của lý thuyết và chế độ, họ không thấy rằng đó đó là ý
nghĩa của hạt nhân độc tài toàn trị vẫn luôn luôn trà trộn hay ẩn mình hoặc ngụy trang trong đó.
Thật ra, con người là đơn vị căn bản của xã hội, con người mới là yếu tố xã hội mà hoàn toàn không phải ngược lại. Đây là cách nhìn
khách quan khoa học, cách nhìn nguyên tử luận về xã hội mà không phải cái nhìn bản thể luận về xã hội theo kiểu mê tín hay cuồng tín mác xít. Ngay như mọi vật trong thiên nhiên cũng thể, mọi cái ta tưởng như bản thể (như chất lỏng nào đó) thực chất đều là những tổ hợp của các cấu trúc nguyên tử. Kể cả thành phần của một nguyên tử hay bản thân của mọi vật vật chất nói chung cũng thế. Chủ nghĩa duy vật thật ra chỉ là một cảm quan về thế giới thực tại trong ý nghĩa giản lược và tổng gộp chung nhất của nó mà không là gì khác. Tất
nhiên ở đây cũng không tuyệt đối hóa ý nghĩa
quan điểm duy tâm, nhưng dầu sao đây cũng là khía cạnh nhận thức phong phú, sâu sắc, đa
dạng và linh hoạt hơn quan điểm duy vật thô lậu. giản lược hóa rất nhiều.
Về ý
nghĩa lao động cũng vậy. Lao động là yếu tố tồn tại và phát triển của mọi cá nhân. lao động cá thể và lao động xã hội như vậy chỉ là hai mặt của một vấn đề. Nhưng trong hai mặt đó, mặt lao động cá nhân vẫn luôn là ý nghĩa tiên
quyết và cụ thể nhất. Có điều lao động không chỉ thuần túy cơ bắp, nhưng lao động trí óc, lao động tinh thân, lao động trí tuệ nói chung là điều khiến con người thành người, xã hội thành người quan trọng nhất. Bởi vì mọi loài vật cũng có lao động, nhưng đó chỉ là lao động thân xác, như con gà bươi, con gà mổ, con sói săn mồi, vồ mồi, đó chỉ hoàn toàn là lao động loài vật, không bao giờ là lao động kiểu loài người. Tuy vậy học thuyết Mác bản chất của nó là duy vật, mọi cái nó chỉ nhìn dưới khía cạnh kinh tế vật chất, do vậy chính yếu nó chỉ giản lược con người vào tồn tại sinh học là chính, tồn tại xã hội cũng chỉ được hiểu là tồn tại sinh vật, nên đó là khía cạnh ưa thích kiểu lao động bề ngoài, lao động tập thể, kiểu lao động đời sống đàn bầy được áp đặt trong khuôn đúc chuyên chính toàn diện.
Trái lại con người theo đúng nghĩa thì thật sự là tự do và bình đẳng, bởi vì trời đất hay bản thân tự nhiên vốn tự mang lại như vậy. Nên con người có thân xác tự do và ý thức tự do cũng là thế. Tập thể chẳng qua chỉ là sự ghép lại tạm thời các cá nhân. Nhận thức luôn cá nhân là chủ yếu, cái gọi là nhận thức tập thể chỉ là cách trừu tượng hóa từ nhận thức cá cá nhân hợp lại. Điều này không những đúng trên bình diện xã hội nhất thời nào đó mà còn đúng cả trên phương diện lịch sử liên tục bất tận. Trong khi đó Mác cho rằng ý
thức côn người chỉ là hiện tượng thứ sinh của hoạt động óc não, hoạt động vật chất. Do vậy mọi cái được Mác cho là tinh thần, văn hóa chỉ là vô nghĩa, bởi vì rốt cuộc cũng chỉ có ý nghĩa vật chất mà không có ý nghĩa gì
khác. Nhưng thực sự đây chỉ là cách nhìn thiển cận và hàm hồ. Bởi ý thức con người hay cả nhận thức con người đều là một thực thể trừu tượng, phi vật chất, không thể nào chỉ đồng hóa với vật chất một cách thổ thiển. Ngay như Lênin cũng biết rằng khi phân tích vật chất đến tận kỳ cùng, cũng chẳng còn lại cái gì cụ thể cả. Nhưng ông ta cứ nói bừa đó là vật chất dưới dạng năng lượng. Nói như vậy chỉ là nói theo quan điểm khoa học thực nghiệm mà không còn nói
theo ý nghĩa triết học nào nữa cả.
Vậy thì văn
minh văn hóa của con người là gì, đó là kết quả của tích lũy lao động thân xác và lao động trí tuệ hàng ngàn năm. Học thuyết tiến hóa của Darwin là điều khách quan, nó là hiện tượng sinh học, mà đồng thời cũng còn là hiện tượng tinh thần, ý thức hay cả nhận thức của con người. Song khoa học và triết học là vô hạn, bởi vì trí thông minh của loài người cũng vô hạn. Tuy nhiên vô hạn đến đâu nó cũng chỉ trong lòng cái vô hạn tuyệt đối lớn hơn, bao trùm hơn hay nói khác đi nó cũng chỉ là cái hữu hạn. Tính cách nhân văn của chùng loài con người là tính
cách tích lũy thường xuyên và liên tục qua lịch sử mà không thể chỉ giản lược thô nhám vào riêng một khía cạnh nào cả. Như suốt hàng ngàn năm qua than xác
con người không còn tiến hóa điều gì đáng kể nữa, nhưng nhận thức và trí tuệ con người có vẻ như vẫn phát triển không ngừng. Như vậy sự nhận thức của con người là ý nghĩa quan trọng nhất mà không phải chỉ sự tổ chức thuần túy về mặt bề ngoài của xã hội.
Và chăng khía cạnh xã hội nhân loại là khía cạnh đa dạng nhiều mặt. Trong đó mặt hoạt động kinh tế và mặt cấu trúc xã hội chỉ là hai khía cạnh của một vấn đề. Bởi vậy người ta dễ dàng nhận ra nguyên tắc tổ chức kinh tế kiểu tập thể xã hội mà Mác quan niệm đã hoàn toàn vô bổ và phá sản. Trái lại hoạt động kinh tế theo cơ chế tự động vận hành của xã hội khách quan là ý nghĩa tối ưu và tiết kiệm cũng như hiệu quả nhất. Đó là lý do tại sao chủ nghĩa tư bản không tự đào hố chôn nó hay nó không phải đêm trươc của chủ nghĩa cộng sản như Mác và Lênin nói mà nó vẫn tự điều chình để hợp lý hóa và đi lên không ngừng bằng chính mọi phát triển về nhận thức và khoa học kỹ thuật của loài người. Do vậy ý nghĩa của công thức đề - phản đề - hợp đề mà nhiều người khuynh tả trước kia vẫn tâm đắcvà được thể hiện khá nhiều trong Tạp Chí Đại Học, thực chất chỉ là cái nhìn giản lược hóa, trừu tượng hóa thô lậu về thực tại mà không gì khác
nhưng lại được họ tự hào như là một khám phá lớn của nguyên lý biện chứng. Nói đúng ra, phát triển lịch sử và xã hội chỉ là phát triển theo dạng tuyến tính mà không gì khác. Cái gọi là phát
triển biện chứng, là xoáy trôn ốc, thực chất chỉ là cái nhìn tưởng tượng từ những hiện tượng có vẻ going nhau thế thôi. Đó là lý do tại sao ngày
nay học thuyết Mác không còn sức sống nữa. Đến nỗi như Nghị viện châu Âu còn vì nó như một thứ giẻ rách của thời kỳ quá khứ còn sót lại.
Trở lại vấn đề hay ý nghĩa khuynh tà của Giáo Sư Nguyễn Văn Trung trước kia. Đó chỉ là sự thị hiếu mác xít mà trong thế hệ của ông nhiều người từng mắc phải thế thôi. Nhưng đó cũng chỉ là một ao ước kiểu tiểu tư sản mà không gì khác. Bởi vì trong thực tế nó không bao giờ giống vậy. Vì con người luôn luôn gắn liền với bản năng và sự nhận thức. Khi cái này yếu thì cái kia phải mạnh, cái này nhiều thì cái kia phải it. Có nghĩa khi nhận thức thiếu sót mà được phong thánh cho giai cấp vô sản nó chỉ dẫn tới những sự độc tài tai hại cho mọi sự phát triển của xã hội là điều tự nhiên. Nên cái cho là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản chỉ là sự cường điệu hay sự mê tín mang tính siêu hình học của học thuyết Mác. Bởi vì con người tự ngàn xưa vẫn là tâm điểm của xã hội mà không phải là giai cấp kinh tế hay xã hội nào cả. Bởi nếp nào cũng thành ra xôi, sông
nào cũng đều chảy ra biển. Chính trí tuệ mỗi người, đạo đức mỗi người, cho dù họ ở giai tang, giai cấp nào
là có
khả năng hay hoàn cảnh đóng góp
chung cho xã hội vậy thôi. Nhưng mọi vấn đề đặt ra với trí tuệ nhân loại đều phải do trí tuệ nhân loại giải quyết mà không phải do thân xác con người giải quyết. Kiểu khuynh tà trước kia của một số giáo sư đại học Miền Nam chỉ là kiểu lơ lửng con cá vàng. Và khi nước bị khô rồi thì con cá vàng cũng không còn lơ lửng được nữa thế thôi. Đây có lẽ là điều mà thầy Nguyễn Văn Trung trong những bài viết của Tạp Chí Đại Học ở Huế trước kia đã từng thấm thía nhất.
THƯỢNG NGÀN
(17/5/16)
**
NGÀN KHƠI
TẠP CHÍ ĐẠI
HỌC, ĐÁNH DẤU MỘT THỜI CỦA GIỚI ĐẠI HỌC,
TRÍ THỨC VÀ HỌC THUẬT VIỆT NAM
TRÍ THỨC VÀ HỌC THUẬT VIỆT NAM
Ở đây người viết không dùng chữ Huế hay Miền Nam, mà dùng chữ Việt
Nam. Đó là có ý muốn nói tính đặc biệt, tính tiêu biêu, tính lịch sử một thời của
Tạp Chí đó.
Thú thực khi còn học trung hoc, năm đệ nhị lúc đó, tức 1962 tôi
đã lần đầu đọc đến Tạp Chí này rồi. Từ đó nó để lại trong lòng tôi cũng như
trong trí tuệ của một dấu ấn qua trọng không bao giờ có thể phai mờ được.
Dĩ nhiên khi ấy có thể tôi đọc mà chưa hiểu hết mọi nội dung bài
viết trong đó. Duy có điều nó hầu như đã mở ra cho tôi một sự tâm đắc, một sự
say mê, một sự thán phục, một sự quí mến, một chân trời tri thức và ý nghĩa trí
thức thật sự. Tuy có thời gian sau này tập hợp, lưu giữ được một số, song đến
giờ lại chẳng còn trong tay số nào cả.
Bởi vậy nay đọc được các số Đại Học đó ngày xưa như những tài liệu
đã được ông Nguyễn Văn Lục cẩn thận sao lục, tôi thật sự rất tâm đắc và rất cảm
phục và cám ơn ông. Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa, nó cũng cho thấy một
tâm huyết nhiệt nồng và cao quý thật sự mà chính ông Lục đã thể hiện.
Lấy tên gọi Tạp Chí Đại Học là một ý nghĩa rất thông minh, sâu sắc
và sáng suốt, bởi vì tên gọi là toát lên mọi mục đích, ý hướng, cơ sở, và giá
trị của nó. Tạp Chí Đại Học có nghĩa là một tập san khoa học, một tập san
nghiên cứu, học thuật của cấp đai học, một trường đại học, mà cũng đồng thời
cũng là một nền tảng chung nhất cho giới đại học, nghiên cứu, học thuật tiêu biểu
của toàn xã hội, của cả nước, hay kể cả trên bình diện thời đại và trên bình diện
lịch sử.
Điều đó cũng có nghĩa toàn bộ Tạp Chí Đại Học nếu được lưu lại đầy
đủ sau này sẽ là một sử liệu quý giá nhất tiêu biểu và đánh dấu một thời kỳ lịch
sử của cả nước hay dân tộc về rất nhiều phương diện. Rất tiếc sau khi vào học
tiếp đại học ở Saigon, tôi biết hình như Tạp Chí Đại Học sau đó đã ngưng xuất bản,
tôi chỉ có thể đọc được những tạp chí khác chuyên ngành hơn, như Tạp Chí Quê
Hương chẳng hạn, đó cũng là những giá trị đại học rất nghiêm túc, khách quan, hữu
ích, cần thiết và cao quý lúc đó.
Như vậy nói về Tạp Chí Đại Học là nói đến những khuôn mặt trí thức
đúng nghĩa và nghiêm túc một thời, những nhà tư duy, những nhà học giả, những
nhà khoa học và học thuât, một số nhà chuyên môn chuẩn mực đã xuất hiện trong
đó. Đó chính là giá trị tinh thần, ý nghĩa văn hóa, mục đích nhân quần xã hội,
và đặc biệt là tình cảm yêu nước, yêu con người, yêu nhân văn, là những ý nghĩa
và nội dung không thể nào phủ nhận.
Cho nên ý nghĩa hay giá trị tiêu biểu nhất của Tạp Chí Đại Học
là tinh thần và ý thức về sự tự do, tức về con người và xã hội tự do, chính đó
mới là mục tiêu và giá trị nhân văn đáng ghi nhận, tâm đắc và đề cao nhất. Nó
hoàn toàn không có kiểu ý thức hệ thiển cận hay ngắn ngày nào cả. Nó là ý nghĩa
dài hơi của khoa học và học thuật. Nó vượt lên mọi sự biệt phái chủ quan, thường
tình, mà hướng tới sự mở rộng ý thức tự do dân chủ đích thực cho tất cả mọi người.
Đó chính là sứ mệnh lịch sử do nó tự đặt ra và sau này muôn đời cũng phải ghi
nhận.
Bởi đại học có nghĩa là tinh thần và mục đích chuyên môn, mục
đích học thuật. Mà nói như thế cũng ó nghĩa là mục đích nhân văn và mục đích
khoa học. Bởi vì bậc tiểu học chỉ cốt học theo thầy. Bậc trung học côt để học
cùng bạn. Nhưng chính bậc Đại học là học cùng xã hội, cùng nhân loại, kể cả
cùng lịch sử. Cho nên đại học không thể nhồi nhét một chiều, hay chính trị hóa
theo kiểu một chiều. Bởi vì thực chất đó chỉ là cách phản động. Trái lại đại học
phải luôn đi đôi với ý nghĩa giải phóng, ý nghĩa cách mạng, ý nghĩa khai phóng,
ý nghĩa nhân văn, tức chỉ lấy con người tự do và xã hội tự do làm chuẩn mà
không bị ràng buộc vào bất cứ quyền lực cục bộ, ràng buộc vào các cá nhân nhất
thời nào, ràng buộc vào bất kỳ những ý thức hê hạn hẹp hay chủ quan nào cả.
Thật ra Việt Nam trong thời kỳ còn bị lệ thuộc Pháp, đã có những
tạp chí đúng đắn, trong sáng do những trí thức và những nhà văn hóa thời đó lập
ra. Như tạp chí Nam Phong cũng đã từng nổi danh và hữu ích một thời mà bất cứ
người trí thức nào cũng rõ. Nam phong tức là gió Nam, nó cũng tiêu biểu phần
nào ý thức dân tộc, nguyện vọng tự chủ mặc dầu nước nhà đang bị đế quốc Pháp đô
hộ. Có điều là trong thời kỳ đó nước ta vẫn có vua, có triều đình, chẳng qua vì
chính quyền sở tại phải bị khống chế bới quyên lực thực dân từ ngoài lúc ấy vậy
thôi. Đó chính là yêu cầu của sự trật tự bất đắc dĩ mà bao nhà trí thức tên tuổi
cũng đành phải chịu.
Cho nên cái chính của con người là tinh thần và ý thức mà không
là gì khác. Nhà văn danh tiếng Phạm Quỳnh từng nói tiếng ta còn nước ta còn, đó
không phải câu nói ngoa, mị dân, nhưng là ý thức sâu xa là thế. Đó chính là
cách tranh đấu cho dân tộc bằng ngòi bút của Phạm Quỳnh, cho dầu mặt bề ngoài
chính trị nhiều người có thể cho là ông ta sai. Thời bị đô hộ mà ý thức và tinh
thần của người Việt còn thế, huống là thời kỳ nước nhà độc lập tại Miền Nam dưới
thời Việt Nam Cộng Hòa. Nên từ đó cũng thấy rằng Tạp Chí Đại Học quả là điều rất
nên trân trọng và rất đáng quý. Bởi cái cao cả ở đây nói chung lại hay cốt yếu
nhất vẫn không ngoài là tinh thần tự do dân chủ, ý thức nhân văn sâu sắc, tìn cảm
yêu nước sáng suốt mà thực tế đã được bộc lộ ra trong hàng trăm, hàng ngàn bài
viết ra trong đó. Chính nó đã dẫn hướng cho nhiều thế hệ sinh viên nước ta cho
tới ngày nay cho dầu họ đang ở đâu trong chính ý nghĩa nhân văn, dân tộc và học
thuật.
ĐẠI NGÀN
(16/5/16)
(16/5/16)
NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO –
(07)
949. NÓI THẲNG RA VẤN ĐỀ TƯ BẢN VÀ CỘNG SẢN NGÀY NAY
(20/5/16)
950. TRÍ THỨC VÀ KHOA HỌC (19/5/16)
951. TỪ Ý NIỆM GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN Ý NIỆM
GIẢI PHÓNG CỦA CÁC MÁC (19/5/16)
952. TỪ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ, ĐẾN KHOA HỌC NGÔN NGỮ
VỀ TIẾNG VIỆT
(18/5/16)
953. SỬ HỌC VÀ TRIẾT HỌC (18/5/16)
954. KHOA HỌC LỊCH SỬ (18/5/16)
955. CON NGƯỜI VÀ SỰ NHẬN THỨC (17/5/16)
No comments :
Post a Comment