NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG (VII)
**
ĐOẠN
TUYỆT QUÁ KHỨ, VUN ĐẮP TƯƠNG LAI, NHẬN RÕ
TRÁCH NHIỆM CỦA CHÍNH MÌNH TRƯỚC LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ
ĐẤT NƯỚC
Nhìn lại quá khứ, thường người ta
vẫn hay thấy được điều được điều không, điểm mạnh điểm yếu, chuyện hay chuyện
dở của nó. Vấn đề là có biết nhìn ra, nhìn đúng đắn, chân thực và khách quan
hay không.
Nếu quá khứ thực chất không phải
là điều gì đó nhất thiết tốt, tại sao không đoạn tuyệt nó để hướng tới tương
lai, để vun đắp cho tương lai, đó là ý nghĩa mà mọi người chân thực và tốt lành
nào vẫn có thể khẳng định và quyết đoán được.
Tất cả tính cách đó cũng là trách
nhiệm trước lịch sử nếu nếu nó được nhìn trong tầm vĩ mô nói chung, nhất là
nhìn nó dưới góc độ nhà cầm quyền chính hay người lãnh đạo.
Mọi điều này ngày nay trên toàn
thế giới tất cả đều nhìn rõ, cả toàn dân trong nước cũng nhìn rõ.
Bởi quá khứ rõ ràng chỉ là quá
khứ ý thức hệ, và tương lai rõ ràng nhất thiết cũng không ngoài sự hạnh phúc
của toàn dân cùng sự phát triển của đất nước.
Như vậy đoạn tuyệt quá khứ, vun
đắp tương lai thực chất chỉ có thể thực hiện được nếu con người có ý thức trách
nhiệm đầy đủ trước lịch sử. Và trách nhiệm này không phải chỉ nơi người cầm
quyền chính hay lãnh đạo, mà cũng là trách nhiệm của toàn dân, tức của mỗi người
dân. Sự chọn lựa giữa quá khứ và tương lai, sự chọn lựa đồng minh thân cận là
Trung Quốc hay Hoa Kỳ hiện nay thực tế cũng không đi ra ngoài tất cả những gì
đã nói. Cũng như trách nhiệm đối với tương lai không phải chỉ được đánh giá
trong hiện tại, mà còn chính là sự đánh giá của mọi thế hệ sau này bắt buộc
phải có.
ĐẠI NGÀN
(01/4/16)
**
NON NGÀN says:
CẦN
PHÂN BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN
THỰC
CHẤT VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MANG TÍNH HÌNH THỨC
Thật
ra chủ nghĩa nhân văn mới là đích điểm của thế giới loài người mà không phải là
"chủ nghĩa xã hội". Sự hiểu lầm hay hiểu nhập nhằng hai khái niệm này
chính là một điều chết người mà hầu như thế giới loài người đã phải trải qua hết
sức nhọc nhằng và tai hại cả thế kỷ này từ khi học thuyết Mác được đưa vào thực
hiện. Chính sự đánh đồng hai ý nghĩa này là sự bé cái lầm mà đến nay nhiều nơi
trên thế giới cũng như nhiều người chưa thoát ra được.
Chủ
nghĩa nhân văn là chủ nghĩa vì con người, vì xã hội con người tốt đẹp. Trong
khi đó chủ nghĩa xã hội theo quan điểm mác xít chỉ là sự tổ chức xã hội theo hướng
tập thể và rập khuôn bằng mọi giá.
Có
nghĩa chủ nghĩa Mác hay chủ nghĩa xã hội kiểu mác xít là sự cưỡng đoạt chủ
nghĩa nhân văn, biên chủ nghĩa nhân văn thành cái bung xung bề ngoài, trong khi
đó thực chất của nó chỉ là chủ nghĩa tập thể hóa theo cách của Mác và Lênin đặt
ra. Tính cách nhân văn chỉ là tính cách giả hiệu, tính cách bề ngoài để nhằm thực
hiện ý đồ tập thể hóa xã hội một cách toàn diện, đó là ý nghĩa và mục đích sau
cùng của quan điểm chủ nghĩa xã hội theo kiểu mác xít.
Có
nghĩa sự nhập nhằng hay sự đánh đồng giữa chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội
là sự cố ý hiểu lầm một cách tinh vi mà chủ nghĩa xã hội theo kiểu mác xít trước
sau mãi mãi thực hiện.
Vậy
nên khuynh tả, cực tả, cấp tiến v.v... theo hướng chủ nghĩa nhân văn đích thực
đều luôn luôn cần thiết, luôn luôn tốt. Trái lại nếu các ý nghĩa này chỉ nhằm mục
đích thực hiên "chủ nghĩa xã hội" theo kiểu mác xít thì chưa chắc hay
chưa hẳn đã là như vậy.
Quyền
làm việc của con người, chống thất nghiệp, bảo vệ quyền chính đáng của người
công nhân v.v... đều là những ý hướng hay mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa nhân
văn. Nhưng nếu lồng ghép "chủ nghĩa xã hội" theo kiểu mác xít thì có
khi hoàn toàn ngược lại, vì ý nghĩa của chủ nghĩa nhân văn luôn luôn là nội
dung chân chính hay đích thực. Ngược lại, điều đó trong "chủ nghĩa xã hội"
mác xít thường khi chỉ là phương tiện, là công cụ lợi dụng để hô hào, kêu gọi về
mặt bề ngoài, hình thức để đích điểm cuối cùng là nhằm thực hiện chủ nghĩa tập
thể hóa xã hội hoàn toàn bề ngoài và bên ngoài theo quan điểm mác xít thế thôi.
Nói
chung sự khác nhau căn bản chỉ là : chủ nghĩa nhân văn chân chính luôn đi đôi với
ý niệm tự do dân chủ đích thực, còn chủ nghĩa xã hội theo kiểu mác xít luôn đi
đôi với sự độc đoán chuyên quyền và sự tập thể hóa hoàn toàn bề ngoài mà không
gì khác. Nên nếu người Pháp hay chính ở nước Pháp mà đến nay nhiều người vẫn
chưa phân biệt hay nhận thức ra được sự tinh tế này thì coi như quan điểm hay học
thuyết xã hội của Pháp vẫn chỉ bé cái lầm hay chẳng có điều gì đáng nói cả.
Có
nghĩa chủ nghĩa xã hội đích thực không thể đi ra ngoài hay vẫn đồng nhất với chủ
nghĩa nhân văn đích thực. Trái lại chủ nghĩa xã hội "nhay nháy" hay
chủ nghĩa xã hội kiểu mác xít là điều hoàn toàn khác hẳn hay ngược lại, bởi vì
nó chủ yếu là chủ nghĩa tập thể ngoại hình mà không bao giờ là chủ nghĩa nhân
văn đích thực trong căn cốt.
Nhà
tư duy ĐẠI NGÀN
(29/3/16)
**
NHỮNG
ĐẦU ÓC "CÁCH MẠNG" GIÀ CỖI
Trong
chuyến viếng thăm Cuba vào những ngày vừa qua, Tổng thống Mỹ Barach Obama đã
tuyên bố "chấm dứt 5 thập niên thù địch giữa hai quốc gia". Tuy vậy
ông Fidel Castro, cựu Chủ tịch nước Cuba, nay đã 89 tuổi, đã chuyển quyền cho
người em trai của mình là Raul Castro, nay 84 tuổi, lại phản ứng nói “Chớ có ai
nghĩ người dân đất nước cao thượng và vị tha này sẽ từ bỏ vinh quang và quyền lợi
của mình. Chúng tôi có khả năng sản xuất thực phẩm và của cải vật chất mà chúng
tôi cần với sự lao động và trí tuệ của nhân dân chúng tôi”.
Và
khi ông Obama nói rằng “giờ đây là lúc để chúng ta bỏ lại quá khứ ở phía sau”.
thì nhân vật cách mạng đã lên nắm quyền ở Cuba vào năm 1959, cai trị đất nước
trong nhiều thập niên lại bảo “Tôi hình dung rằng bất kỳ ai trong số chúng ta
cũng có nguy cơ bị đau tim khi nghe những lời này từ tổng thống Mỹ”. Nói tóm,
quan điểm của cựu lãnh đạo cộng sản Cuba vẫn là thế này : "Chúng tôi không
cần đế quốc đó cho chúng tôi bất kỳ món quà gì”.
Qua
các cách nói như trên, mọi người có thể thấy rằng quan điểm "đấu tranh
giai cấp", "cách mạng vô sản" không bao giờ gột rửa được khỏi đầu
óc những người cộng sản đúng nghĩa nhất. Chúng gần như một sự nhập tâm vĩnh viễn,
không thể nào thay đổi, cho dù ngày nay thế giới có đổi khác và phát triển bao
nhiêu.
Cái
đó vốn đã trở thành quán tính tư duy, người ta cũng gọi được là một thứ não trạng
đã được định hình từ lâu trong quá khứ, không có cách gì đổi mới hay tẩy xóa đi
được.
Mặc
dầu rõ ràng qua qua nửa thế kỷ làm cách mạng vô sản, Cuba đã hoàn toàn thất bại
trong việc phát triển đất nước mà mưu cầu lợi ích cho dân, đó là lý do ngày nay
họ lại đã chủ trương hòa giải lại với Mỹ. Đây là ý nghĩa thực tế theo yêu cầu
hoàn cảnh thế giới đã hoàn toàn đổi khác ngày nay.
Thế
nhưng đầu óc của người cộng sản cố cựu đầu tiên của đất nước Cuba là Fidel
Castro thì vẫn không bao giờ thay đổi. Lý do vì sự nhận thức không phát triển
được theo trào lưu thế giới hiện đại nói chung, cũng như tâm lý kẻ cả, cá nhân,
độc đoán một chiều và ý nghĩa của sự cuồng tín rồ dại một thời thực chất nó đã
định hình hoàn toàn vĩnh cửu trong ý thức đó rồi. Quả thật là vô phương cứu chữa,
cho dầu điều đó là đúng thực chất hay chỉ là cách đóng kịch bề ngoài.
Nhà
tư duy ĐẠI NGÀN
(30/3/16)
**
VẤN
ĐỀ ĐẤU TRANH Ý THỨC GIỮA CON NGƯỜI VÀ
CON
NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ XÃ HỘI
Con
người nếu tách phần ý thức ra thì cũng chỉ còn là tồn tại sinh vật như mọi sinh
vật nói chung.
Ý
thức ở đây chủ yếu là mặt nhận thức, hiểu biết, và mặt đạo đức, sự biết phân biệt
tốt xấu và hướng về điều tốt nói chung trong xã hội.
Sự
đấu tranh ý thức giữa con người trong xã hội là điều tất yếu và thường xuyên. Bởi
vì nhận thức luôn luôn phát triển, trong đó kể cả ý thức đạo đức, qua thời
gian, tức bao gồm cả không gian lịch sử.
Con
người không những đấu tranh ý thức thường xuyên với đồng loại của chính mình mà
còn cả với bản thân chính mình. Đó là đấu tranh giữa nhận thức đúng và sai, giữa
tốt và xấu, giữa thiện và ác ở đời.
Duy
có điều đấu tranh tốt xấu thì xảy ra thường xuyên và mọi nơi trong toàn lịch sử
xã hội, thế nhưng nó cũng không đi ra ngoài sự đấu tranh về nhận thức, như đấu
tranh về hiểu biết và về quan điểm song hay quan điểm về xã hội trong mọi mặt.
Mà
ý thức nhận thức là gì nếu đó không phải là kết quả của đào tạo giáo dục và ở
phẩm chất thông minh riêng của mỗi cá nhân con người trong mối điều kiện và
hoàn cảnh riêng của họ.
Câc
quan điềm trên đây rõ ràng là quan điểm thực tế, khách quan, khoa học. Nó hoàn
toàn khác hẳn hay ngược lại với quan điềm "đấu tranh giai cấp" mà
cách đây trên 2 thế kỷ Các Mác đã đưa ra. Quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác
chỉ hoàn toàn là quan điểm trừu tượng, nó xuất phát từ một ý hệ không thực tế,
phản sự thực và hoàn toàn ảo tưởng.
Thế
nhưng những người cộng sản tin tưởng vào ý nghĩa "đấu tranh giai cấp"
của Mác thì vẫn luôn lấy đó làm ý nghĩa nhận thức mang tính khách quan và niềm
tin đó mang tính vĩnh viễn không bao giờ xóa đi được.
Đấy
cuối cùng sự đấu tranh ý thức của con người trong nhiều thập kỷ qua cho đến nay
cũng không thoát ra khỏi được lối mòn hay vũng nước ao tù đó. Đó là điều đã gây
ra biết bao hệ lụy mà rất nhiều người vẫn không thấy ra được. Không thấy ra được
vì sự đấu tranh ý thức nơi bản thân của họ đã không thể sáng lên, đã không
thành công hay bị thất bại.
Và
đấy cũng là điều mà người viết bài phóng bút ngắn này muốn chỉ ra cho nhiều người
thấy rằng sự đấu tranh ý thức trong xã hội hay sự đấu tranh giai cấp trong xã hội,
thì hoặc là điều nào sai hay chính là điều nào đúng để cùng suy nghĩ và phản biện.
Nhà
tư duy ĐẠI NGÀN
(30/3/16)
**
TRÍ NGÀN says:
TRIẾT
LÝ VỀ BẠO LỰC
Giới
thực vật như cây cỏ không có bạo lực giữa nhau, bởi chúng không có nhận thức,
không có cảm xúc, vả lại bị gắn chặt vào nơi chốn chúng tồn tại. Thế giới động
vật ngược lại hoàn toàn khác. Chúng có sự di động và cả móng vuốt, răng nhọn,
cùng sức mạnh cơ bắp, nhu cầu sinh tồn và phát triển khiến cho sự bạo lực lẫn
nhau là điều tự nhiên. Tuy nhiên nếu loài vật chỉ có bản năng thì loài người lại
có nhận thức, tình cảm, cảm xúc, đó như những yếu tố định hướng và chi phối các
tính cách bạo lực vì mục đích đấu tranh để khống chế lẫn nhau những khi cần thiết.
Như
vậy cũng có nghĩa mọi lý thuyết chiến tranh, đấu tranh cách mạng đều cũng không
đi ra ngoài thực tế này. Chính sự tranh giành về quyền lợi mọi mặt giữa người
và người, nếu không được khống chế và nếu có điều kiện thuận lợi sẽ xảy ra
khuynh đảo và chiến tranh lẫn nhau là điều không thể tránh. Từ cổ chí kim, từ dạng
sống bộ lạc, cho đến các xã hội phong kiến, quân chủ, dân chủ tự do hiện đại
cũng luôn luôn như thế. Có chiến tranh cục bộ từng nơi, hay cả chiến tranh thế
giới trong các thế kỷ trước mà mọi người đều biết.
Nhưng
trong thời hiện đại, ý nghĩa của học thuyết, của lý thuyết lại là điều đáng nói
nhất. Học thuyết tự nó có thể đúng hay sai. Tuy nhiên nếu được nhận thức không
đầy đủ, một số người có thể mù quáng tin theo nó, tạo nên những tình cảm, những
cảm xúc, những động cơ vụ lợi liên quan nào đó, tạo nên lực lượng của số đông,
thế là chiến tranh cách mạng, chiến tranh lật đổ có thể xảy ra. Khi đó bạo lực
được dẫn dắt bởi lý thuyết, như ý thức hệ nào đó chẳng hạn, và lý thuyết được
thực hiện qua bạo lực cho tới khi nó thắng lợi và chiến tranh chấm dứt khi nó
hoàn toàn không còn mục tiêu bạo lực nữa.
Thế
nhưng mọi cái rồi cũng qua. Có nghĩa mọi lý thuyết, mọi ý hệ nào đó rồi cũng
qua sau khi chiến tranh và bạo lực đi qua một thời gian dài. Có nghĩa lịch sử
như những đợt sóng cồn trên biển từng đợt khác nhau rồi cuối cùng cũng qua đi tất
cả. Hay nói khác, mọi loại chiến tranh và bạo động đều chỉ nhất thời, cuối cùng
lịch sử vẫn quay lại hòa bình nhưng không phải hoàn toàn mãi mãi.
Chỉ
có điều sau những giai đoạn bạo lực bạo hành như thế, luôn hi sinh mọi mặt đối
với số lớn con người là nạn nhân tự giác hay không tự giác của nó. Sự hi sinh
này có khi có ý nghĩa nhưng cũng có khi hoàn toàn vô nghĩa. Như chiến tranh
cách mạng chính đáng, chiến tranh giải phóng chính đáng, chiến tranh chính
nghĩa chính đáng. Trái lại nếu không phải như thế, mọi sự hi sinh cũng chỉ như
việc giài quyết sai lầm một bài toán nào đó và cuối cùng chỉ vô bổ mà không lợi
ích gì cả.
Vậy
nói cho cùng, trong thế giới loài người, chỉ có tình cảm trong sáng, nhận thức
đúng đắn, cảm xúc lành mạnh, mục đích chính đáng mới mang lại hạnh phúc cho mỗi
cá nhân và cho toàn xã hội. Đó là nền hòa bình chính đáng, lâu dài, hay kể cả
vĩnh cửu. Trái lại tất cả những điều đó, lịch sử sẽ luôn luôn bất ổn và đều trở
thành những giai đoạn chiến trường hi sinh vô ích và uổng phí.
Dù
sao, nhân loại càng phát triển, năng lực nhận thức của con người càng phổ biến
và tinh vi hơn, xã hội càng trong sáng và chính đáng hơn, nhất là quan điểm tự
do dân chủ đúng đắn và khoa học càng khiến con người và xã hội càng gần lại
nhau hơn, và cuối cùng chủ nghĩa nhân bản hoàn chỉnh sẽ thay thế cho mọi quan điềm
lý thuyết phiến diện, nông cạn, hời hợt, đó là con đường tất yếu làm cho mỗi
người trưởng thành hơn, xã hội chính chắn hơn, và cuối cùng lịch sử được trơn
tru cũng như hiệu lực và gia tốc hơn, đó là điều lý tưởng khách quan tự nhiên
mà không bao giờ chủ quan hay giả tạo.
Nhà
tư tưởng ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
CHÍNH TRỊ
VÀ SỰ CAI TRỊ
Chính trị
bao giờ cũng có vì luật pháp luôn luôn cần thiết và luôn luôn phải có. Mà luật
pháp và chính trị đều cùng bản chất hay chỉ là hai mặt của một vấn đề : yêu cầu
quản lý xã hội và yêu cầu phát triển xã hội. Bởi xã hội luôn luôn có người xấu,
có người tiêu cực, nên chính trị và luật pháp vẫn luôn cần thiết là như thế.
Tuy
nhiên, bởi xã hội luôn phát triển đi lên, nên chính trị và luật pháp cũng tiến
theo như vậy. Có nghĩa qua lịch sử, chính trị và luật pháp phải càng ngày dân
chủ hơn, khoa học hơn, tiến bộ và tiến hóa hơn, đó là điều tất yếu. Như chính
trị hay chế độ phong kiến, quân chủ độc tài phải chuyển sang chính trị dân chủ
tự do là quy luật khách quan không thể đi ngược lại. Thời hiện đại mà còn bám
theo quan điểm chính trị chuyên chính độc tài là phản xã hội, phản phát triển,
phản tiến hóa.
Cho nên
cái sai lầm lớn của Mác là chủ trương xã hội lý tưởng tương lai không còn cần
dùng đến chính trị, không cần luật pháp, không cần tiền tệ, không cần thị
trường, vì lúc đó mọi cá nhân đều thánh thiện, lý tưởng trong một xã hội hoàn
toàn lý tưởng. Đó là điều ảo tưởng, huyễn tưởng của Mác vì thực tế đó không bao
giờ có.
Nhưng Mác
lại cho rằng để đi đến xã hội lý tưởng đó, trước hết phải độc tài vô sản. Điều
này lại càng phi lý. Vì đã độc tài như một cái cây bị niềng lại, có bao giờ nó
tự giải phóng ra trừ khi cái niềng sắt bị han rĩ hay bị đứt gãy. Chính sự ngây
thơ này đi đến sự ngây thơ khác của Mác là như thế. Trong khi đó xã hội lý
tưởng nhất lại là xã hội tự do dân chủ, vì mọi người đều bình đẳng nhau, tự
kiểm soát lẫn nhau, tránh được mọi sự độc tài chuyên đoán để cho mỗi cá nhân và
toàn xã hội đều hài hòa đi lên, đó mới là sự phát tiển khách quan tốt đẹp nhất.
Chính trị
do vậy không còn là sự cai trị độc đoán của môt hay một thiểu số người đối với
toàn xã hội. Mà chính trị trở thành như một nghệ thuật quản lý hoàn toàn tự do
dân chủ đúng nghĩa, trở thành sự thỏa thuận chung, sự tự giác chung, mà không
ai là kẻ bị trị và kẻ thống trị, đó mới thật sự là kiểu chính trị khoa học,
thực tế, lý tưởng mà chính Mác đã hoàn toàn không hiểu ra được.
Nhà tư
tưởng triết học ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
TRIẾT HỌC
VỀ QUYỀN TƯ HỮU
Con người
có thân xác cụ thể nên quyền tư hữu là quyền thực tế. Chỉ có ý thức con người,
nhận thức con người, tư duy con người, hay nói chung tinh thần con người mới là
cái chung của toàn xã hội, vì nó hoàn toàn trừu tượng, cũng như xã hội thực
chất cũng chỉ là khái niệm trừu tượng chỉ định chung cho mọi thực thể con người
cụ thể hiện đang tồn tại.
Quyền tư
hữu hay công cụ tự hữu như vậy chẳng qua là điều kiện thiết yếu của mọi cá nhân
tồn tại cụ thể, trong thiên nhiên cũng vậy, và trong xã hội loài người cũng
vậy. Bởi nó là sự bảo đảm điều kiện sống tối thiểu, sự tiện ích thực tế nói
chung, kể cả quyền tự do tối thiểu. Bởi quyền sở hữu đi liền quyền sử dụng và
quyền định đoạt. Không có sở hữu thì cũng không có năng lực sử dụng và năng lực
định đoạt đúng nghĩa. Đó là sự bất lực và sự khô héo của con người. Thực tế đó
ngày nay mọi người đều thấy rõ. Tư hữu tài sản chỉ là phương tiện của mọi
người, không bao giờ là mục đích của mọi người, nhưng chính Mác đã hiểu sai
điều đó.
Khi thấy
giai cấp vô sản bị trần trụi ở buổi đầu của phát triển công nghiệp hóa tư sản
hay tư bản chủ nghĩa, Mác cho rằng đó là giai cấp tiên phong của phát triển
lịch sử. Đó chỉ là bé cái lầm. Bởi xã hội phát triển đi lên là theo quy luật
khách quan chung bao quát, trong đó giai cấp vô sản ban đầu chỉ là một thành
phần, nó không phải là đầu tàu hay động cơ gì cả, sự tưởng tượng của Mác thực
chất chỉ hoàn toàn cảm tính, và tệ hại hơn nữa là do Mác đã qua mê tín vào biện
chứng luận của Hegel mà chính Mác cũng đã hiểu sai hay chỉ hiểu một cách phiến
diện.
Nói chung
lịch sử xã hội loài người phát triển là do khoa học kỹ thuật, do kinh tế, văn
hóa và xã hội, không phải do thuần túy chính trị. Chính Mác đã hiểu sai chính
trị, độc tôn chính trị một cách mê tín và độc đoán theo lý thuyết độc tài hay
chuyên chính vô sản. Đây là phương diện phi khách quan, phi khoa học của học
thuyết Mác, và chính nó chận đứng mọi sự phát triển xã hội tự nhiên để làm xã
hội trở nên hoàn toàn giả tạo là như thế.
Nhà tư
tưởng triết học ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
CHÍNH
ĐẢNG VÀ NGUYÊN TẮC TỒN TẠI
HOẶC PHÁT
TRIỂN CỦA NÓ
Chính
đảng hay đảng chính trị nào cũng vậy. Nó hình thành nên theo mục đích, thay đổi
theo thành viên thay đổi, cuối cùng nếu không còn ý nghĩa với xã hội thì tự đào
thải.
Bởi chính
đảng luôn hợp thành bởi những đảng viên của nó. Mà mỗi đảng viên chủ yếu là do
nhận thức, ý thức và tình cảm của họ. Có nghĩa những yếu tố này thay đổi, thì
con người thay đổi, và chính đảng cũng tự thay đổi. Đó chỉ là nguyên lý tồn tại
hay phát triển của mọi sự vật khách quan, không riêng gì các đảng phái chính
trị.
Như vậy
đảng cộng sản mọi nơi cũng không đi ra ngoài quy luật đó, vấn đề là mau hay
chậm, sự duy trì có thực chất hay chỉ giả tạo thế thôi. Đây là quan điểm phát
triển lịch sử nói chung, chẳng phải "duy vật biện chứng" gì như ông
Bùi Quang Vơm nói cả. Chính ông Vơm còn bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Các
Mác một cách không chính xác, đừng nói tới ai.
Thật ra
vấn đề chủ yếu là học thuyết của Mác. Nó như thế này : Mác có thật sự hiểu đúng
chân lý khách quan hay không. Người ta có thật sự hiểu đúng điều gì Mác hiểu
hay không. Và khi người ta hiểu đúng chân lý khách quan, cũng như hiểu đúng cái
hiểu của Mác, thực chất người ta có làm gì khác đi hay không ?
Dĩ nhiên
ngày nay có nhiều người có thể chứng minh rõ ràng là Mác hiểu nhiều cái không
đúng chân lý khách quan. Nhưng nguyên tắc độc đoán của chủ thuyết Mác tạo nên
cơ chế độc đoán trong thực tế khiến không ai dám phát biểu theo cách khách quan
dù người ta có hiểu ra chân lý khách quan như thế nào, đó chính là lỗi lầm tai
hại của Mác. Nên việc chủ quan có muốn thay đổi hay không thay đổi xã hội không
những là do nhận thức chưa tới hay do trách nhiệm đối với xã hội có hay không
có thế thôi.
Nên nói
tóm lại, chính đảng nào cũng chỉ là bộ phận hay thành phần xã hội. Chúng không
thể tồn tại bất biến thường xuyên như dân tộc, quốc gia hay đất nước. Người nào
chủ trương chính đảng phải tồn tại bất biến là không khách quan, không hiểu
lịch sử, đặc biệt không hiểu tính chất của mỗi chính đảng như thế.
Nên chi,
nếu đa phần đảng viên CS ngày nay hiểu rành rọt học thuyết Mác là gì tất yếu
đảng CS phải thay đổi. Nếu họ chỉ hiểu sương sương, không hiểu gì hết, hay
không cần hiểu gì cả về mặt nội dụng mà chỉ hiểu đảng như một tập thể thực tế
để họ sống vì cảm tính hay vì lợi ích nhóm riêng, dĩ nhiên đảng sẽ có mà thay
đổi.
Bởi ý
thức con người mới làm thay đổi được sự vật. Tức sự nhận thức mới làm đổi thay
thế giới. Trái lại vật chất hay thiên nhiên thì luôn quán tính và ù lỳ. Sự khác
nhau giữa ý thức, nhận thức của mỗi cá nhân con người, toàn thể xã hội con
người và tính ỳ vật chất của mỗi sự vật, của toàn thế giới vật lý khách quan
cũng hoàn toàn y như thế.
Nhà tư
duy ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
CẦN PHẢI NÓI
CÓ SÁCH
MÁCH CÓ
CHỨNG
Đây không
những là nguyên tắc thực tiển trông đời sống xã hội đã có tự ngàn xưa của dân
ta mà cũng còn là nguyên tắc pháp lý được thừa nhận và mọi người phải tuân thủ.
Bởi vậy
những người tự ứng cử độc lập cũng phải tuân thủ mọi nguyên tắc ứng cử bầu cử
như mọi ứng cử viên được nhà nước giới thiệu. Tức trước hết phải kê khai minh
bạch tài sản, sau nữa cho thấy mình hoàn toàn độc lập, không trá hình, không
dựa vào bất kỳ tổ chức đoàn thể nào, kể cả tổ chức nhà nước. Bởi người ứng cử
cho dù được ai giới thiệu hợp pháp hay không, cũng cần phải hoàn toàn độc lập
tự do của riêng mình, có như thế thì việc ứng cử, bầu cử mới hoàn toàn có ý
nghĩa và thật sự giá trị cũng như hiệu quả.
Do thế,
cũng không thể chụp mũ khơi người nọ người kia tự do ứng cử là có sự hậu thuẫn
hoặc phụ thuộc vào tổ chức phản động nào. Bởi trường hợp như thế phải cần chứng
minh minh rõ rệt, không thể nói vu vơ. Như thế nào là định nghĩa “phản động”,
là có các hành vi phản động như thế nào, cũng như có mối dây liên hệ nào rõ
ràng của người ra ứng cử.
Nói có
sách mách có chứng, đó chính là ý nghĩa của xã hội và chính trị. Chính nguyên
tắc đó mới bảo đảm cho nguyên lý tự do dân chủ mà mọi công dân, mọi tổ chức, kể
cả tổ chức nhà nước đều phải cần nêu cao và tuân thủ một cách tuyệt đối, cụ thể
và rõ ràng nhất.
DẶM NGÀN
(18/3/16)
**
ĐẠI NGÀN says:
VIỆC TỰ ỨNG CỬ VÀ ĐƯỢC
GIỚI
THIỆU ỨNG CỬ
Việc ứng
cử để được người dân lựa chọn vào làm đại biểu các cấp từ quốc hội đến chính
quyền cấp dưới có thể diễn ra dưới hình thức tự ứng cử và được giới thiệu ứng
cử. Tự ứng cử cho tới nay vẫn được hiểu như một hình thức mới, còn giới thiệu
ứng cử cũng chỉ mới là cơ quan nhà nước giới thiệu, chưa có qui định những cá nhân
uy tín hay các đoàn thể nhân dân độc lập giới thiệu.
Như vậy
có thể thấy được rằng có ba hình thức để ra ứng cử : tự ra ứng cử, được cá nhân
uy tín hay tổ chức, đoàn thể độc lập giới thiệu, được cơ quan nhà nước chính
thức giới thiệu. Dĩ nhiên cả ba khởi điểm này đều hoàn toàn bình đẳng nhau theo
nguyên tắc, vì ra ứng cử chỉ mới là điều kiện cần, còn được người dân bỏ phiếu
lựa chọn mới là điều kiện đủ.
Dĩ nhiên
tiếp theo việc ứng cử, còn phải có sự tranh cử và sự bỏ phiếu bầu cử. Chính sự
tranh cử cũng là điều kiện cần tiếp theo, vì sự lựa chọn cuối cùng của dân mới
là điều kiện đủ tối hậu. Và rõ ràng mọi sự tranh cử bằng lời nói, bằng vận động
cũng phải bình đẳng giữa các ứng cử viên là điều cũng được nên lưu ý.
Bởi phải
có sự tranh luận tự do trong ứng cử mới giúp cử tri chọn lựa được người xứng
đáng, đây tất nhiên phải có sự bình đẳng tuyệt đối, bởi chính điều đó mới đưa
lại việc bầu cừ mang ý nghĩa và giá trị tuyệt đối.
Nhưng
chính khâu tranh luận tuyệt đối tự do giữa các ứng cử viên mới giúp được việc
lựa chọn ra người xứng đáng, ưng ý của các cử tri sử dụng lá phiếu bầu cử. Bởi
đây là bước sàng sảy, rây lọc cuối cùng đối với việc vàng thau lẫn lộn của các
ứng cử viên đã được nêu ra danh sách kết thúc.
Ý nghĩa
còn lại chỉ là trình độ nhận thức và ý thức chính trị công tâm sáng suốt của
toàn dân hay của toàn thể cử tri. Ngày nay có lẽ trình độ này không thể nghi
ngờ, vì nếu có những trường hợp nghi ngờ về sự nhận thức hay sự sáng suốt, thì
cũng không thể bác khước được vì nó đã thuộc về nguyên tắc bó buộc tự nhiên của
việc phổ thông bầu phiếu hay việc phổ thông tuyển cử.
Nên nói
tóm lại, tự do dân chủ là nguyên tắc cơ bản đầu tiên và cơ bản của mọi xã hội
tự do dân chủ thực sự. Nó khởi đầu từ khâu ứng cử, tới khâu tranh cử, và cuối
cùng tới khâu bầu cử. Nếu khâu đầu tốt, tất nhiên khâu tiếp theo cũng phải tốt,
và khâu cuối cùng mới có thể tốt đẹp khi đạt được. Tức là nhận thức của người
ứng cử phải tốt, của nhà nước phải tốt, và của cử tri hay người dân phải tốt.
Tốt có nghĩa là tự do dân chủ đúng đắn, khách quan và chân thực. Điều này phát
huy được mọi sự tích cực và hạn chế hay tránh được mọi sự tiêu cực. Bởi chỉ cần
mỗi một các chủ thể trên tiêu cực hay yếu kém về một phương diện nào đó, tất
nhiên kết quả cuối cùng vẫn hỏng vì không giá trị.
Đó là chưa
nói khi đã đắc cử rồi, việc thể hiện kết quả ra sao trong các cương vị đại biểu
của mình còn là chuyện khác. Nên nói chung lại, tự do dân chủ không những là
nguyên tắc khoa học về hoạt động của xã hội, mà còn là một nghệ thuật hành vi
trong tư cách của nhiều người, tức mỗi công dân, nhà nước, và toàn bộ bản thân
chung của cả đất nước hay xã hội.
NON NGÀN
(18/3/16)
**
NÓI VỀ
HỌC THUYẾT KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CỦA CÁC
MÁC
Nói về
kinh tế chính trị tức là nói khái quát mối quan hệ hay sự mật thiết hoặc đồng
nhất giữa kinh tế chính trị. Do đó từ xưa nay người ta có hẳn một môn chung gọi
là kinh tế chính trị học (Economie politique, political Economics). Ngay cả học
thuyết Mác cũng lấy môn này làm trung tâm cho sự phát triển cũng như nền tảng
của ông.
Thực chất
nền tảng cơ bản của nó là gì ? Đó không ngoài là ý thức con người và cơ chế
chung của toàn thể xã hội. Ý thức con người hiểu ở đây là thế giới ý thức phong
phú, gồm nhiều khía cạnh khác nhau trong nội tâm mà ai cũng có như nhận thức,
bản năng, ý chí, tình cảm, mong ước v.v... Còn cơ chế xã hội là guồng máy chung
vận động mà mỗi ý thức hay con người cá nhân chỉ là yếu tố hay thành viên đơn
giản nhất.
Từ đó
cũng thấy rằng nền tảng của kinh tế xã hội là được xây trên ý thức cá nhân và
cơ chế xã hội mà không là gì khác. Chính ý thức cá nhân tạo nên sự cạnh tranh,
sự bổ sung nhau trong kinh tế. Còn cơ chế xã hội tạo nên guồng máy khách quan,
kết hợp những ý thức cá nhân lại với nhau để điều hợp chúng tạo nên lợi ích
chung.
Nói một
cách rộng hơn, kinh tế xã hội chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng khoa học
tâm lý và khoa học xã hội khách quan, mà không thể xây dựng trên nền tảng triết
học vu vơ, mơ hồ nào khác. Chính sự hiểu biết về khoa học kinh tế xã hội của
Mác thật kém cõi hay phiến diện, nên ông ta mới cho ra đời học thuyết vô sản và
lý thuyết cộng sản hoàn toàn phi thực tế, phản khoa học, phản tự nhiên mà ngày
nay mọi người đều rõ.
Bởi Mác
có nhận thức triết học hạn hẹp, thô nhám, nên ông ta mới đưa ra học thuyết duy
vật phiến diện, giản lược, nông cạn, đồng thời ông ta giải thích quan điểm biện
chứng luận của Hegel theo cách chủ quan, tùy tiện, có dụng ý riêng, nên mới đưa
ra các lý giải về kinh tế chính trị, xã hội, lịch sử của ông theo cách hàm hồ,
tức mơ hồ, hổ lốn, mà cuốn Tư bản luận của ông ta là cả một điển hình tùy tiện
và phi khoa học kiểu như thế.
Mác bỏ
qua mọi tâm lý tham vọng của con người cá nhân, bỏ qua cơ chế phát triển khách
quan tự nhiên của xã hội, đó là nguyên nhân của quan điểm đấu tranh giai cấp
của ông ta cũng như nó làm cho học thuyết của ông ta trở thành không tưởng và
phi thực tế, phản thực chất. Bởi Mác hiểu lệch lạc hay không hiểu về nền kinh
tế thị trường, có nghĩa ông ta chỉ nhìn kinh tế học ở tầm vi mô mà không hề
nhìn ở tầm vĩ mô theo cách khoa học và thực tế. Ông ta không hiểu quy luật cạnh
tranh khách quan, quy luật lợi nhuận, quy luật tái phân phối lợi tức, quy luật
đầu tư mở rộng phát triển, quy luật giá cả và hàng hóa, quy luật tiền tệ v.v...
nên ông chủ trương một nền kinh tế sản xuất phi thị trường, phi tiền tệ, phi cơ
cấu để chỉ còn sản xuất và phân phối trực tiếp mọi mặt mà theo ông ta đề nhằm
xóa tư hữu, xóa giai cấp xã hội.
Nói chung
lại, Mác đã triết học hóa kinh tế xã hội một cách vô bổ, giả tạo, phi thực chất
để chủ trương một xã hội không tưởng, một nền kinh tế hoàn toàn không tưởng,
phản khoa học, phi thực tế, phản tự nhiên màông ta tự mệnh danh là "khoa
học". Chính sự mê tín của Mác vào biện chứng luận của Hegel một cách sai
trái là đầu mối của mọi sự, của sự ấu trĩ của Mác về các mặt nhân văn, xã hội
mặc dầu ông ta tự ngụy tín đó là con đường giải phóng nhân loại hiệu quả, mà
thực chất đó chỉ là ảo tưởng và hậu quả cũng như hệ lụy là hoàn toàn ngược lại.
Nhà tư
duy khoa học ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
HỌC
THUYẾT MÁC CHỈ LÀ
HỌC
THUYẾT CẢM TÍNH
Cảm tính
có nghĩa chỉ thấy nhu cầu thực tế trước mắt mà không nhìn được bao quát, sâu
xa. Thấy người chết đuối nhảy ùm xuống cứu, thấy bị điện giật nhào vào lôi ra,
thấy người bị rắn cắn thì chỉ chu môi hút nọc độc cách đơn giản, v.v... nói
chung đó chỉ là cảm tính. Cảm tính thì xa với tri thức khoa học, không mang tính
chất kỹ thuật đầy đủ, do vậy kết quả lắm khi không đạt.
Mác cũng
thế, thấy sự giàu nghèo trong xã hội, thấy sự bất công về thu nhập trong xã hội
tư bản lúc ban đầu, thấy tính cách toàn quyền độc đoán của các kiểu nhà nước
phong kiến, quân chủ, thấy giai cấp công nhân vô sản thời kỳ ban đầu như mở
rộng và gia tăng, vậy là chủ trương vô sản và cộng sản theo kiểu toàn thế giới
để nhằm giải quyết mọi vấn đề một cách toàn diện. Bởi vậy khái niệm vô sản và
khái niệm chuyên chính được Mác để cao như giải pháp tối hậu để phát triển nhân
loại.
Hơn thế
nữa, Mác lại vin vào học thuyết biện chứng luận (Dialektik) của Hegel thời danh
lúc đó để cho rằng xã hội phải phát triển theo quy luật phủ định của phủ định,
tức cộng sản nguyên thủy, qua tư hữu, rồi cuối cùng xã hội cộng sản hoàn toàn,
mới là đích điểm. Mác sử dụng biện chứng luận Hegel một cách trái khoáy mà hoàn
toàn không ý thức hay chỉ là ngụy biện. Bởi Hegel duy tâm mà Mác hoàn toàn duy
vật, khiến trở thành râu ông nọ cằm bà kia, hoàn toàn bất thích nghi thì làm gì
mà còn thực tế hay khoa học được.
Mác cũng
dựa vào học thuyết tế bào và học thuyết đấu tranh sinh tồn của Darwin lúc đó.
Nhưng những kiến thức như vậy vào thời điểm đó chỉ mới sơ khai, chưa toàn diện,
chưa đầy đủ, học thuyết về môi trường, về tương tác cộng tồn ngày nay Mác hoàn
toàn chưa biết rõ. Bởi vậy lý thuyết đấu tranh giai cấp Mác đưa ra thực chất
chỉ là hạn hẹp, phi khách quan khoa học, hay thậm chí mê tín, vì đầy tính cách
loại suy không cơ sở, thiếu nền tảng, nhất là hoàn toàn phi thực tế, phi thực
chất, phi hiện thực.
Nói tóm
lại, lỗi lầm lớn nhất của Mác là kiến thức triết học lơ mơ, kiến thức khoa học
lõng lẽo, nông cạn, vá víu, hạn hẹp, hiểu biết xã hội hời hợt, thiếu chiều sâu,
không bao quát. Bởi thế mọi lý giải của Mác về thực tại thế giới, về sự vận
hành của lịch sử, về chính trị xã hội nói chung ngày nay đều cho thấy những lổ
hổng to tướng về triết học, về khoa học, về lịch sử, về xã hội chính trị thực
tiển không thể chối cãi được mà hầu như toàn thế giới trí thức hiện đại mọi
người đều có khả năng thấy rõ.
Do đó có
thể nói toàn bộ học thuyết của Mác chỉ đầy tính cách tự cương, tính chất ngụy
biện, chính chất cảm tính, tính chất mê hoặc, chỉ phỉnh dụ được những người có
năng năng lực trí tuệ kém Mác mà không thể nào thuyết phục được đa phần trí tuệ
nhân loại từ trước tới nay đặc biệt là những thành phần trí thức đúng đắn, chân
chính, khách quan, khoa học, công tâm, thiện chí và sáng suốt của tiến trình
phát triển trong lịch sử cận và hiện đại của nhân loại.
Nhà tư
tưởng ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
TRONG THẾ
GIỚI CỘNG SẢN,
KHÔNG THỂ
CÓ AI CAO HƠN MÁC
Các Mác
là người đầu tiên đã đưa ra thuyết cộng sản toàn thế giới. Điều đó xảy ra cách
đây gần hai thế kỷ rưởi. Từ đó đến nay kể từ thời Lênin lập ra nhà nước vô sản
lần đầu tiên ở Nga vào năm 1917, cho tới nay, trong thế giới cộng sản, đều
không ai vượt được lên trên Mác.
Sự không
vượt được lên Mác này có hai khía cạnh hay nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân
thực tế và nguyên nhân thực tế và nguyên nhân cơ chế. Nguyên nhân thực tế vì
không ai đủ sức, đủ tâm nguyện, đủ tài năng, đủ kiến thức, đủ thiện chí, đủ
hiểu biết, đủ trí thức hơn Mác ngày xa xưa. Nguyên nhân cơ chế vì Mác đã coi
chuyên chính là giải pháp duy nhất cho chính trị mà ông quan niệm, do vậy chận
đứng mọi người đi sau, dầu cho có hơn Mác đi chăng nữa cũng phải đành thúc thủ,
đánh bó tay, không thể phản biện hay phê phán Mác, dù đây chỉ là điều khả dĩ và
cũng là nhu cầu thiết yếu cho toàn xã hội.
Thực chất
người viết bài này đã phê phán học thuyết Mác theo nhãn quan khoa học và triết
học cũng như cả nhãn quan thực tiển một cách rốt ráo, đầy đủ, hệ thống nhất,
dầu chỉ mới là những bài phóng bút ngắn, dài, chớp nhoáng trên mạng, với tính
cách blog Nhà thơ Đại Ngàn, mặc dầu có khả năng cho ra đời những tác phẩm đồ sộ
phê phán toàn diện học thuyết Mác, nhưng cơ chế thực tế của xã hội hiện tại hay
lâu nay không cho phép làm được. Dù sao những bài phóng bút ngắn, dài như thế
đều đã cung cấp cho mọi người những cái nhìn chân phương, đầy đủ, toàn diện,
sâu xa và bao quát nhất về các nội dung tư duy của Mác về mọi phương diện nói
chung.
Đấy thực
tế như thế thì bảo mọi người cộng sản ngày nay thay đổi là điều không thể có
được. Bởi thay đổi trước hết phải thay đổi từ tư duy nhận thức, tình cảm cá
nhân rồi mới đến xã hội. Tư duy nhận thức nếu luôn chỉ đào tạo, truyền nối theo
kiểu một chiều, như đi mãi trong con đường ống thì làm sao mà thoát ra được.
Không có người hiểu sâu xa được Mác, thấy bao quát được Mác, đánh giá toàn diện
được Mác, làm sao mà người cộng sản mác xít có thể thay đổi.
Ngoài ra,
cơ chế đó là một quán tính, nó do những con người có nhãn quan và tình cảm đã
được thiết định hay thiết chế trước theo cách công thức bất biến thì làm sao có
thể kiến tạo lại được. Chính cơ chế trói buộc con người, con người củng cố, nén
chặt cơ chế, làm gì nó có thể bung ra hay đổi khác. Nên tóm lại cái đinh ốc chỉ
là sự nhận thức hạn chế, tình cảm hạn hẹp, cơ chế quán tính, mục đích không xác
định rõ ràng mà chỉ theo cảm tính đã có đã do lịch sử quá khứ để lại về nhiều
mặt, nên thành đều phải bó tay về nhiều ý nghĩa trong thực tế là phải.
Nhà triết
học ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
TỰ DO DÂN
CHỦ VÀ CƠ CHẾ XÃ HỘI
Đây chỉ
là ý nghĩa khách quan, song trước khi nói về điều gì liên quan cần trước hết
nói ngay đến lý thuyết chính danh của Khổng tử. Cách đây nhiều ngàn năm Khổng
tử, nhà hiền triết vĩ đại đã nói phải chỉ đúng về sự vật, trái bầu và bình rượu
phải định danh khác nhau không thể nói lẫn lộn. Và ông còn khái quát ra
"danh bất chính ngôn bất thuận, ngôn bất thuận sự bất thành". Có
nghĩa không gọi tên đúng sự vật, ngôn ngữ trở nên luẩn quẩn, ngôn ngữ luẩn quẩn
thì không bao giờ đạt tới điều gì cả.
Vậy dân
chủ và tự do cũng thế. Trước hết phải hiểu đây là ý nghĩa, giá trị khách quan,
là điều chính đáng, là nguyên lý lập thân của cá nhân và xã hội, thì mới là sự
hiểu biết hoàn toàn chân chính và trong sáng, nếu không thì cũng chỉ nói suông.
Thứ đến,
con người không bao giờ mang ý nghĩa cá nhân thuần túy trong xã hội, mà luôn
chỉ mang ý nghĩa là thành viên của cộng đồng. Do vậy tự do dân chủ có hay không
là bởi cơ chế của cộng đồng. Tức cộng đồng hay xã hội bảo đảm được khách quan ý
nghĩa này thì tự do dân chủ mới có, nếu không cũng chỉ có trong ý thức trừu
tượng của mỗi người mà không bao giờ hiện thực ra cuộc sống.
Cuối
cùng, tự do dân chủ phải theo đúng nguyên tắc khách quan của nó, không như thế
thì đó chỉ là ý niệm vô bổ, lừa dối. Nguyên tắc cao nhất của tự do dân chủ là
nguyện tắc bình đẳng giữa mọi người. Mọi người bình đẳng thì mọi người mới có
tự do. Nếu bất bình đẳng, tức chỉ có thiểu số người tự dưng dành quyền ăn trên
ngồi trước, nói trước, thế là bất bình đẳng trong xã hội, làm gì còn có dân chủ
và tự do ?
Trong
thực tế, tự do dân chủ thật sự khi mọi người đều cùng làm chủ xã hội. Người cầm
quyền phải là người được khác bầu lên theo đúng nguyên tắc bầu cử tự do khách
quan, không có bất kỳ sự lèo lái nào trước của bất cứ ai. Người cầm quyền không
tự có quyền trước mà phài được toàn dân bầu cử tự do mới có quyền. Quyền đây
cũng là quyền đại diện, quyền điều phối toàn dân, không phải quyền "lãnh
đạo" toàn dân theo ý thức chủ quan nào đó của mình, đó mới là tự do dân
chủ thực sự mà không phải chỉ là sự đoạt quyền, sự xưng quyền dựa trên những
yêu cầu không chính đáng, không khách quan, không trong sáng, không đúng nguyên
tắc hay có sự mạo dụng nào đó.
Chính cơ
chế xã hội tự do dân chủ thực sự mới bảo đảm được mọi sự tự do dân chủ chính
đáng của mỗi người dân. Cơ chế chung chính là nền tảng đầu tiên trên hết. Cơ
chế chung này phải do toàn dân quyết định để tạo nên sự bảo đảm cho mọi thành
viên trong xã hội. Bởi nếu không do toàn dân quyết định thì cũng không bao giờ
có tự do dân chủ thực sự, vì nó chỉ được quyết định bởi chỉ một nhóm nhỏ những
cá nhân nào đó.
Nhà tư
tưởng Đại Ngàn
(18/3/16)
**
THƯỢNG ĐẾ
VÀ TÍNH DỤC
CỦA CON
NGƯỜI
Thượng đế
ở đây là khái niệm chỉ nguyên nhân cao nhất, nguyên nhân tối hậu, nguyên nhân
đầu tiên nhất, hay nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nguyên nhân làm ra mọi kết
quả mà con người có thể hiểu được.
Từ đó
cũng có thể hiểu được hai nguyên nhân nền tảng mà Thượng đế tạo ra cho thế giới
không thể không có, đó là nguyên lý sinh tồn và nguyên lý tính dục. Sinh tồn để
phát triển và tính dục để tiếp tục sinh tồn, đó là hai tính toán then chốt mà
Thượng đế nhất định đã phải nghĩ tới cho muôn loài sinh vật, trong đó có loài
người.
Tính dục
ở đây được hiểu là bản năng tình dục (libido) hay là yêu cầu truyền giống, là
lòng ham muốn giao hợp giữa nam và nữ để cho ra con cháu khiến cho sự sinh tồn
được luôn tiếp tục. Bản năng sinh tồn cùng bản năng tính dục do vậy trong con
người cá nhân cũng như trong xã hội loài người là luôn luôn có mặt, bảo tồn và
hầu như cùng theo nhau một cách thống nhất. Cái gọi là tứ khoái mà người bình
dân thường nói là ăn ngủ làm tình và thải chất cũng là bốn cái lạc thú, cái
khoái mà từ ngàn xưa ai ai cũng phải thừa nhận.
Bởi đó,
khi nền văn minh phát triển, hình thức tính dục cũng đi theo đó. Nó mang những
màu sắc mới hay nhưng y trang mới. Bản chất là một, hình thức là một, từ cổ chí
kim, song càng ngày càng văn minh, tính cách tình dục của con người không những
được giải phóng hơn mà thật sự lại càng phong phú hơn.
Trong
tính dục, dĩ nhiên đàn bà là phương tiện hay công cụ thỏa mãn của đàn ông cũng
như ngược lại. Cơ chế này là do Thượng đế sắp sẳn trong mỗi cá nhân và chỉ gặp
dịp thuận lợi, phù hợp là nó được bung ra thế thôi. Có nghĩa khi sự thỏa mãn
lên tới cực điểm, tức yêu cầu đã đạt thì nó chấm dứt để chuyển sang cho một
khởi đầu khác. Tính dục là nguyên nhân ở trong, còn nhan sắc hay mọi sự thu hút
khác chỉ là sự xúc tác hỗ trợ mặt ngoài. Nên nếu trong bị vô hiệu hóa hay bị tê
liệt, mọi yếu tố bên ngoài cũng đều trở nên vô ích, tức là vô tích sự.
Trong ý
nghĩa tính dục hay tình dục, chủ thể cá nhân tự thỏa mãn mình theo yêu cầu đòi
hỏi là chính, đối tượng chẳng qua chỉ là công cụ, nam cũng thế mà nữ cũng thế.
Mọi sự lãng mạng khác nhau chỉ là các bao bì hay lá gói hoặc nơ thắt trang điểm
của những cái bánh. Bởi người ta chỉ ăn được bánh, chỉ muốn ăn bánh mà không
thể ăn hay không cần ăn các thứ khác. Mùi nước hoa hay son phần chỉ hỗ trợ thêm
là như thế.
Nên nếu
ăn uống là sự thỏa mãn sinh tồn đầu tiên nhất, khoái cảm tình dục là sự thỏa
mãn truyền giống đứng thứ hai. Ý nghĩa đạo đức chỉ là ý nghĩa xã hội mà không
liên quan gì đến ý nghĩa tính dục thuần túy. Khi người nữ từ chối người nam
theo kiểu em chả em chả, đó chẳng qua là màu mè đạo đức xã hội, còn ham thích
tính dục luôn là điều tự nhiên, khách quan không có gì khác. Tính chất bình
đẳng về tính dục trong mọi mặt của xã hội hiện đại ngày nay chung quy cũng
không ngoài những điều mà trên đây đã được nói ra như thế. Và đàn ông do bản
chất chủ động nên cũng thường hay nghĩ tới sex thường xuyên hơn đàn bà là cũng
vậy.
Nhà tư
tưởng ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
NGUYÊN LÝ
KHOA HỌC VÀ SỰ CẢM TÍNH
Nguyên lý
khoa học chi phối khách quan mọi sự tại và thực thể trên cõi đời này. Thế giới
tự nhiên hay vật chất chi phối bởi nguyên tắc vật lý học. Thế giới sinh học hay
sự sống chi phối bời nguyên lý sinh học. Thế giới nhân loại hay xã hội loài
người bị chi phối bởi nguyên lý ý thức và nhận thức.
Mọi sự
vật khi vận hành đúng các nguyên lý khách quan của chúng thì tồn tại và phát
triển, nếu không thì hoàn toàn ngược lại.
Riêng xã
hội loài người, nguyên lý căn bản nhất chi phối mọi hoạt động khách quan của nó
không ngoài nguyên lý ý thức và nguyên lý nhận thức. Bởi đây là nguyên lý chi
phối nơi mỗi con người, tức chi phối toàn thể bản thân loài người. Nhận thức có
nghĩa là nhận thức đúng hay nhận thức sai. Ý thức có nghĩa là ý thức tốt hay ý
thức xấu.
Bởi vậy
mỗi đất nước, mỗi xã hội phát triển tốt khi nào mọi thành viên của nó đều có nhận
thức đúng và ý thức tốt, nếu không thì hoàn toàn ngược lại. Khoa học và đạo
đức, bởi vậy là nguyên lý tối hậu cùa mọi xã hội ngày nay. Vì khoa học là sự
đúng đắn khách quan, không phụ thuộc hay chi phối bởi mọi sự sai lầm cá nhân
chủ quan. Đạo đức là ý thức lành mạnh, tốt đẹp để làm cho mỗi cá nhân hoàn
thiện, tốt đẹp, và từ đó toàn thể xã hội được tốt đẹp.
Như vậy
bất kỳ ý thức hệ hay học thuyết chính trị xã hội nào cũng nhất thiết phải đúng
mà không được sai lầm. Bởi nếu sai lầm vì phi khoa học, vì phản đạo đức, chỉ có
thể làm hại xã hội mà không thể nào làm tốt xã hội. Do đó mọi lý thuyết trong
quá khứ đều phải được chấn hưng, chỉnh đốn, bổ sung, sửa đổi hay xóa bỏ nếu có
chứa nhiều sai lầm vì lịch sử nhân loại luôn phát triển mà không thể mù quáng chỉ
tin tưởng theo cách mơ hồ, thụ động hoặc cuồng tín.
Tinh thần
và giá trị dân chủ tự do là ở mỗi thành viên xã hội, ở toàn xã hội, mà không
phải chỉ ở riêng cá nhân hay tập thể riêng biệt nào. Đây cũng có nghĩa là nhân
quyền của tất cả mọi người. Do vậy ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội chân chính là ý
nghĩa nơi đạo đức, ý thức, nơi khoa học, nhận thức, mà không phải ở cảm tính
thiển cận của quan điểm tổ chức xã hội theo cách cuồng tín. Ý nghĩa của quan
điểm xã hội, của chủ nghĩa xã hội là nơi nhận thức của từng con người mà không
phải ở sự tổ chức nông cạn bề ngoài, bên ngoài.
Sự hiểu
biết về chủ nghĩa xã hội của Mác ngày xưa có sự nông cạn và nhầm lẫn vì nặng về
hình thức tổ chức giả tạo bề ngoài, bên ngoài, điều đó ngày nay hoàn toàn không
đúng. Đó chỉ là sự cảm tính mà thật sự không có tính cách khoa học sâu sắc hay
chỉ là sự phản khoa học trong thực chất.
Bởi vậy ý
nghĩa nhà nước pháp quyền ngày nay chỉ có thể là nhà nước pháp quyền tự do dân
chủ mà không thể chỉ là nhà nước pháp quyền "xã hội chủ nghĩa" giả
tạo mang hình thức tổ chức bề ngoài, bên ngoài như kiểu trên 200 năm trước đã
bị Mác hiểu một cách thô thiển và sai lạc mà hậu quả của nó vẫn còn để lại mọi
di hại cho tới ngày nay cho xã hội con người.
Nhà tư
duy ĐẠI NGÀN
(18/3/16)
**
NGÀN KHƠI says:
SỰ
NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI
Con người
nhận thức sự vật khách quan có khi đúng, có khi không đúng. Khi nhận thức đúng
thì hành động đạt hiệu quả và có hiệu lực. Trái lại khi nhận thức không đúng
thì kết quả hoàn toàn ngược lại.
Về mặt lý
thuyết cũng thế, về mặt thực hành cũng thế. Lý thuyết đưa ra không đúng, thực
hành không bao giờ đạt tới kết quả nào cả.
Năng lực
nhận thức sáng suốt và khoa học của con người chủ yếu do học tập, giáo dục và
đào tạo mà có. Ít học thức và ít trí tuệ thì hạn chế và không làm được gì có kết
quả tối ưu cả. Phần lớn chỉ hành động theo cảm tính, theo bản năng, theo thói
quen mà không đủ khả năng để hành động theo lý tính để đạt được kết quả tối ưu.
Bởi thế học
thuyết Mác là một kiểu sai lầm như thế, vì chủ trương đấu tranh giai cấp theo
kiểu cảm tính và bất chấp mọi sự. Dù sao qua non thế kỷ được mang ra thử nghiệm
ở nhiều nơi, giờ này mọi người mới té ngữa vì nó luôn luôn phản kết quả.
Do đó con
đường đi lên hữu lý nhất ngày này của mọi đất nước, của toàn loài người không
thể ngoài con đường tự do dân chủ đúng nghĩa, đúng đắn, cũng như mọi yêu cầu
trí tuệ và nhận thức nâng cao theo định hướng khoa học và thực tế mà không gì
khác.
NHÀ TƯ DUY
ĐẠI NGÀN
(17/3/16)
**
BÀI
TOÁN NHỎ BÀI TOÁN LỚN
VÀ
NĂM NGUYÊN LÝ VĨNH CỬU
CỦA
XÃ HỘI NHÂN LOẠI
Bài toán
nhỏ là bài toán giải quyết cho yêu cầu tồn tại của bàn thân và gia đình trong
cuộc sống, tất cả mọi người đều luôn phải làm bài toán đó.
Bài toán lớn
chỉ dành riêng cho một số thành phần ưu việt, tinh hoa nào đó trong xã hội là
góp phần lo liệu nhằm giải quyết nhiều vấn đề tồn tại hay mãi mãi cứ được đặt
ra cho toàn xã hội, quốc gia, dân tộc hay một đất nước. Có điều việc giải quyết
những bài toán lớn nhiều khi cũng bao trọn trong đó những giải quyết đối với
nhiều bài toán riêng. Song ngược lại, nếu có quá nhiều hay phần lớn hoặc toàn bộ
mọi cá nhân trong xã hội chỉ lo giải quyết những bài toán riêng, thì những người
nhằm giải quyết những bài toán lớn nhiều khi rất bị trở ngại, vì bị ngăn chặn,
bị phá bĩnh, do vậy mọi bài toán chung đều bị bế tắt và chính toàn thể xã hội đều
bị lãnh đủ.
Còn năm
nguyên lý vĩnh cửu của xã hội loài người là gì ? Đó không ngoài là nguyên lý hữu
sản để tồn tại và phát triển, nguyên lý tự do dân chủ thực chất, nguyên lý khoa
học và khách quan, nguyên lý đấu tranh trong hòa bình, nguyên lý trí tuệ và đạo
đức. Cả năm nguyên lý này đều luôn đòi hỏi, hổ trợ, bố sung cho nhau, hay thực
chất chúng cũng chỉ cùng bản chất, là một, hay chân lý nói chung mãi mãi của
nhân loại.
1/ Nguyên
lý tư hữu để tồn tại và phát triển : tư hữu hay của cải riêng là điều kiện thiết
yếu cho tồn tại và phát triển của mọi cá nhân và xã hội. Không có nó là hoàn
toàn không được. Một người giàu cũng có thể làm nhiều người khác cùng giàu, hay
xã hội cũng thế. 2/ Nguyên lý tự do dân chủ : khiến mọi người đều được bình đẳng,
tự do, độc lập và phát triển tự nhiên, không phải nô lệ, khống chế hay lệ thuộc
nhau một cách phi lý, tệ hại và phi nhân cách.
3/ Nguyên
lý khoa học và khách quan : khách quan hay chân lý khách quan chi phối mọi tồn
tại trong đó có xã hội con người. Nên mọi yêu cầu tồn tại và phát triển đi lên
đều tùy theo đó. Đi ngược quy luật khách quan thể chỉ có thể bế tắt, suy biến,
tiêu vong, dù lấy cái duy ý chí, cái chủ quan rồi coi đó là khách quan để đi
theo thì cũng như thế.
4/ Nguyên
lý đấu tranh trong hòa bình : mọi sự vật đều luôn phải đấu tranh nhau để tồn tại
và phát triển. Nhưng đấu tranh trong hòa bình là tính cách tối ưu nhất. Thủ
tiêu đấu tranh hay thủ tiêu hòa bình đều tai hại như nhau. Nên chận đứng đấu
tranh là sự nghịch lý, vì đó cũng là thủ tiêu hòa bình và gây hại xã hội. Chẳng
hạn đấu tranh giữa tích cực và tiêu cực, giữa đúng và sai, giữa hay dở, tốt xấu
v.v... không bao giờ cùng tận trong xã hội mà chúng chỉ luôn phát triển sang mọi
hình thức mới.
5/ Nguyên
tắc trí tuệ và đạo đức : tiêu chuẩn và giá trị cũng như ý nghĩa cao nhất của
con người trong xã hội là trí tuệ, tức năng lực hiểu biết và đạo đức hay tính
chất nhân văn mà hoàn toàn không phải tài sản của cải hay quyền lực. Chính trí
tuệ mới là yếu tố để phát triển, và đạo đức mới là nền tảng của nhân văn và hòa
bình mà không thể là gì khác.
Vậy mà
cách đây 200 năm, Các Mác đã đưa ra chủ thuyết chuyên chính độc tài vô sản. Rõ
ràng ý nghia đó hoàn toàn nghịch lý, chống lại, đi ngược lại năm nguyên lý như
trên đã nêu. Có nghĩa Mác muốn mình là người đầu tiên giải quyết rốt ráo bài
toán lớn của xã hội và lịch sử nhân loại, tiếc rằng chỉ đưa ra giải pháp và kết
luận sai, bởi vậy từ đó đến nay thực chất chỉ có làm hại mà chẳng làm lợi được
gì cho nhân loại cả. Như thế, nếu mọi người Việt Nam ngày nay đều không thấy ra
được mọi điều tệ hại như trên, thì thật là có lỗi, và kể cả có tội, đối với
toàn dân, đất nước, dân tộc, cũng như lịch sử nước nhà.
ĐẠI NGÀN
(04/03/16)
**
YẾU
TỐ CHÍNH TRỊ NGÀY NAY
Yếu tố
chính trị trong thời hiện đại không ngoài yếu tố nhận thức và yếu tố ý thức.
Khái niệm yếu tố chỉ về bản thân của sự việc cùng là hướng ra của mọi sự việc.
Sự nhận thức
thuộc về cả nhân dân lẫn người đang cầm quyền. Tính ý thức cũng thế.
Nếu hai
bên đều cùng phù hợp hay hòa hợp nhau, tính chất tương thích tất có, có nghĩa
cũng chẳng đặt ra vấn đề gì. Nhưng nếu hai bên là trái cựa, tất nhiên trước mắt
phải có đấu tranh trong hòa bình, còn vẫn không kết quả gì, về lâu về dài dĩ
nhiên phải xảy ra cách mạng.
Nhận thức
trước hết là nhận thức về tính nguyên tắc của một xã hội dân chủ tự do đúng
nghĩa. Ý thức là ý thức về các quyền làm người thiết yếu và chân chính, cũng
như ý thức về yêu cầu phát triển đi lên của xã hội, dân tộc, đất nước.
Hẳn nhiên
nhận thức không thể không đi đôi với trí thức, thế nên ý nghĩa của việc trí thức
hóa đội ngũ cầm quyền và nâng cao mặt bằng trí thức của toàn dân luôn luôn cần
thiết. Bởi nếu hàng ngũ cầm quyền không được trí thức hóa, thói quen và quán
tính ngu dân vẫn cứ mãi được áp dụng vì các quyền lợi thiển cận, ích kỷ riêng.
Riêng về mặt
ý thức, rõ ràng là ý thức đạo đức. Càng trí thức ý thức đạo đức chung và riêng,
tức mặt bản thân và mặt xã hội càng mạnh, còn càng kém trí thức, ý nghĩa hay
tính cách luôn luôn ngược lại.
Tính ngu
dân, tuyên truyền một chiều tất yếu luôn hạ thấp nhận thức của dân chúng, đó là
điều lỗi của giới đương quyền nếu cứ luôn muốn làm như vậy. Tính thống trị kiểu
toàn trị tất nhiên luôn làm nhân dân khó khăn, tiêu cực và sợ hãi, bạc nhước.
Đó cũng là lỗi của nhà cầm quyền nếu chủ yếu chỉ muốn làm như vậy.
Thế thì
cái gì gây nên tất cả mọi điều trên ? Đó không ngoài sự nhận thức yếu kém và ý
thức yếu kém. Nhận thức yếu kém khiến thấy cái sai nào đó là đúng, như một học
thuyết, một ý thức hệ sai, lỗi thời, phản khoa học. Còn ý thức kém là ý thức đạo
đức bản thân và xã hội đều kém. Ý thức đạo đức kém như thế thì chỉ có ích kỷ,
chủ yếu lo tém vén bản thân còn người khác ra sao, xã hội ra sao đều kệ, thậm
chí còn sợ hãi và bạc nhược đủ mọi khía cạnh.
Đấy tóm lại,
nhu cầu ngày nay nhằm tranh đấu cho tự do dân chủ đúng nghĩa cũng như tranh đấu
nhằm phát triển xã hội, phát triển đất nước tốt đẹp nơi tất cả mỗi con người Việt
Nam trong hiện tại chỉ là như vậy.
THƯỢNG
NGÀN
(04/03/16)
**
MỤC LỤC NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO - (VII)
**
888.
ĐOẠN TUYỆT QUÁ KHỨ, VUN ĐẮP TƯƠNG LAI,
NHẬN RÕ
TRÁCH NHIỆM CHÍNH MÌNH TRƯỚC
LỊCH SỬ DÂN
TỘC, ĐẤT NƯỚC (01/4/16)
889.
CẦN PHÂN BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA NHÂN
VĂN
THỰC CHẤT VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MANG TÍNH
HÌNH THỨC (29/3/16)
890.
NHỮNG ĐẦU ÓC "CÁCH MẠNG"
GIÀ CỖI (30/3/16)
891.
VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH Ý THỨC GIỮA CON NGƯỜI
VÀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ XÃ HỘI (30/3/16)
892.
TRIẾT LÝ VỀ BẠO LỰC (18/3/16)
893.
CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CAI TRỊ (18/3/16)
894.
TRIẾT HỌC VỀ QUYỀN TƯ HỮU (18/3/16)
895.
CHÍNH ĐẢNG VÀ NGUYÊN TẮC TỒN TẠI
HOẶC PHÁT TRIỂN CỦA NÓ (18/3/16)
896.
CẦN PHẢI NÓI CÓ SÁCH MÁCH CÓ CHỨNG (18/3/16)
897.
VIỆC TỰ ỨNG CỬ VÀ ĐƯỢC GIỚI THIỆU ỨNG CỬ
(18/3/16)
898.
NÓI VỀ HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CÁC MÁC
(18/3/16)
899.
HỌC THUYẾT MÁC CHỈ LÀ HỌC THUYẾT CẢM TÍNH
(18/3/16)
900.
TRONG THẾ GIỚI CỘNG SẢN, KHÔNG THỂ CÓ AI
CAO HƠN MÁC (18/3/16)
901.
TỰ DO DÂN CHỦ VÀ CƠ CHẾ XÃ HỘI (18/3/16)
902.
THƯỢNG ĐẾ VÀ TÍNH DỤC CỦA CON NGƯỜI
(18/3/16)
903.
NGUYÊN LÝ KHOA HỌC VÀ SỰ CẢM TÍNH (18/3/16)
904.
SỰ NHẬN THỨC CỦA CON NGƯỜI (17/3/16)
905.
BÀI TOÁN NHỎ BÀI TOÁN LỚN VÀ NĂM
NGUYÊN LÝ
VĨNH CỬU CỦA XÃ HỘI NHÂN LOẠI (04/03/16)
906.
YẾU TỐ CHÍNH TRỊ NGÀY NAY (04/03/16)
**
No comments :
Post a Comment