NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO (IX)
BÊN THẮNG CUỘC VÀ BÊN THUA CUỘC
Nói gì thì nói sau ngày 30/4/75 bên thắng cuộc cũng đã thắng và bên thua
cuộc cũng đã thua. Bên thắng cuộc thực chất là Miền Bắc VN và bên thua cuộc là
Miền Nam VN thế thôi.
Tất nhiên nếu nói về mặt quốc tế, bên thắng cuộc lúc đó là Liên Xô và
Trung Quốc, còn bên thua cuộc chính yếu là Mỹ, bởi vì đây là hậu phương lớn hay
là đồng minh lớn của hai bên choảng nhau khi ấy.
Bên thắng cuộc sở dĩ thắng vì nhiều lý do và bên thua cuộc sở dĩ thua
cũng bằng những lý do như thế nhưng hoàn toàn ngược lại. Như Miền Bắc được tổ
chức chặt chẽ, hệ thống từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài bằng một thứ kỹ
luật xương máu, hoàn toàn không có nội ứng từ bên trong, hoàn toàn không có cac
phong trào phản chiến hay khuynh tả giả hiêu, thơ ngây, được tuyên truyền,
trang bị tận răng bởi ý nghĩa chống ngoại xâm cứu nước cho toàn dân và quân đội
mặc dù thực chất là cuộc chiến tranh cách mạng vô sản.
Trong khi đó Miền Nam là chế độ tự do nửa vời, do vậy việc chống chính
phủ là điều thường xuyên, lại thêm nhiều thế lực chống đối khác nhau vì nhiều
lý do khác nhau. Nói chung sự mất đoàn kết nội bộ vì thiếu một ý thức hệ chung.
Ý thức hệ quốc gia hay dân tộc thực chất chỉ rời rạc, không hiệu quả, có khi
không thực chất, lại còn bị nhiều xuyên tạc, chụp mũ, bêu rếu. Chiến tranh tâm
lý chiến thực chất Mỹ đã thua Liên Xô và Trung Quốc lúc đó. Đặc biệt nhất nó
còn thêm những bât lợi bên trong như phong trào Phật giáo, phong trào khuynh tà
giả hiệu và đầy rẫy những nội gián từ Miền Bắc được cài vào.
Nói chung lại, cuộc chiến tranh giữa hai miền lúc đó không chỉ là cuộc
chiến tranh bằng bom đạn, bạo lực, mà còn là cuộc chiến tranh trong tuyền
truyền tâm lý chiến, cuộc chiến tranh ý thức hệ và cuộc chiến tranh với hậu
thuẩn đồng minh từ ngoài của cả hai phía. Có điều chiến tranh dù thế nào chăng
nữa, dù ý nghĩa ra sao chăng nữa cũng đều bất lợi với toàn dân tộc và đất nươc
về mọi mặt.
Chính từ đó mà mọi người ca thán chiến tranh cũng như mong hòa bình, cho
dù kết thúc chiến tranh nghiêng về bên nào. Cuối cùng chiến thắng đã nghiêng về
miền Bắc, và kết quả hòa bình đã được trả giá bằng mọi cuộc cải tạo khắp nơi từ
chính trị đến công thương nghiệp mà nhóm khuynh tả trước kia cũng không ngờ đến
và nhân danh hai miền đều đã lãnh đủ sau thời kỳ bao cấp kéo dài xiểng liểng
cho tới khi đổi mới ra đời thì đất nước mới gượng dậy lại được.
Giờ thì ý thức hệ khắp nơi đều cũng đã tàn, Liên Xô đã tiêu tan và Trung
Quốc cũng không còn như xưa nữa. Cả hai giàn lãnh đạo khi xưa của miền Nam và
miền Bắc cũng đã chết đi hết cả rồi, bên thắng hay bên thua cũng không còn trên
đời nữa, chỉ có nhân dân khắp nước là còn lại và sinh mới ra thêm, họ đều không
phải kẻ chiến bại hay kẻ kiến thắng, họ chỉ là những vật phẩm đã kinh qua một
thời gian dài thử nghiệm mà rồi cũng chẳng đâu vào đâu cả cho đến mãi hiện giờ
thế thôi. Bởi xã hội hiện hãy còn đầy tham nhũng, và cũng luôn phải nói theo
một chiều từ trên xuống dưới, đó là điều mà ngay từ đầu tiên chinh họ đã không
hề mơ ước.
NON NGÀN
(13/4/16)
**
CÁCH MẠNG VÀ SỰ CHUYỂN NGÂN PHI PHÁP
Chuyển ngân phi pháp là chuyển ngân ngoài qui định của pháp luật ra nước
ngoài. Qua vụ hồ sơ Panana được phanh phui vừa qua ở Prazil, người ta liên
tưởng tới số tiền mỗi năm có đến 200 ngàn tỷ bạc bốc hơi đi từ Việt Nam mà
không biết đi đâu.
Hay nói khác, theo Báo cáo tháng 12/2015 của Cơ quan Global Financial
Integrity (GFI), trong giai đoạn 2004-2013, có tổng cộng 92,935 tỷ USD được
chuyển phi pháp từ Việt Nam ra nước ngoài. Vào thời điểm 2013, lượng tiền
chuyển phi pháp từ Việt Nam ra nước ngoài lên tới 17,837 tỷ USD.
Tất nhiên số thất thoát to lớn này không phải của dân thường, vì dân
thường buộc phải chuyển ngoại tệ ra theo cách hợp pháp, còn chỉ có ngoại tệ từ
kiều hối bên ngoài chuyển về cho gia định trong nước. Có nghĩa số tiền thất
thoát ra khỏi biên giới quốc gia như trên chỉ có thể do những số cán bộ quyền
hành tai to mặt lớn nào đó tạo ra.
Và nếu vậy thì ý nghĩa của cách mạng đối với đất nước từ bấy lâu nay
người ta nghe nói phải cần nên xem xét lại, bởi nếu không phải cần một cuộc
cách mạng mới để thay thế cho cuộc cách mạng đã có mà đến nay không còn thấy
hiệu quả nữa.
Bởi cách mạng đúng nghĩa là phải làm cái gì đó tốt đẹp hay tốt đẹp hơn
cho đất nước. Nhưng nếu không làm được như thế, it ra trong ý nghĩa hiện tại
thì lấy gì đâu mà cách mạng. Vì tài chánh là huyết mạch của đất nước, giống như
của cải trong gia đình hay là máu huyết lưu thống trong cơ thể. Nên nếu có
những hang cán bộ nào đó thuộc cấp lớn hay cấp nhỏ mà tạo nên được một hệ thống
chuyển tuyền phi pháp ra nước ngoài do kết quả tham nhũng, hối lộ nhằm rửa
tiền, nhằm tích lũy riêng cho cá nhân mình một cách phi pháp ở nước ngoài thì
thử hỏi có còn mọi nghĩa lý gì nữa.
Bởi vậy qua vụ tai tiếng Panana cũng thấy được ý nghĩa thế giới ngày nay
là thế nào và ý nghĩa trong nước ngày nay là thế nào. Nếu mọi danh từ đều trở
thành những danh từ hão thì hay ẹp tất cả chúng đi. Phải trở lại một xã hội,
một đất nước thật sự khách quan, trung thực như nó vốn phải có. Có nghĩa một xã
hội thực tế, khách quan, khoa học, hiệu quả phải thay vào cho một xã hội được
gọi là cách mạng nhưng phi hiệu quả hay kém hiệu quả. Nếu không phải cần đi đến
một cuộc cách mạng mới có thực chất để thay vào đó một cuộc cách mạng thật sự
có thực chất mà toàn xã hội hay mọi người mong đợi.
BẠT NGÀN
(13/4/16)
**
CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
Ý nghĩa tốt đẹp của chính trị là nhân văn, nhưng nếu nói ngược lại kiểu
như thế thì hoàn toàn không đúng. Bởi vậy chính trị phù hợp với nhân văn mới là
chính trị đúng còn nếu ngược lại thì hoàn toàn không đúng.
Ý nghĩa chính trị tương thích với nhân văn nó phải xuất hiện ngay từ buổi
đầu khi chính trị đó có mặt, trong xuyên suốt quá trình đấu tranh của nó, và
cuối cùng nó phải thể hiện điều đó ra ngay khi chính trị đó đã nắm được quyền
hành mà nó muốn. Nếu cả ba giai đoạn mà có một giai đoạn không có sự tương hợp
nào về điều đó, hay cả ba đều không có sự tương hợp đó, thực chất coi như chính
trị đó đã hỏng và coi như nó không có ý nghĩa hay giá trị tự thân của nó.
Vì nhân văn là gì ? Nhân văn là sự tôn trọng con người, tôn trọng xã hội,
tôn trọng chân lý và tôn trọng sự thật theo theo ý nghĩa hoàn toàn khách quan
của chúng. Có nghĩa chính trị nào mà tùy tiện làm biến đổi con người, biến đổi
xã hội theo các ý đồ hay mục đích chủ quan đều không phải là ý nghĩa của chính
trị nhân văn.
Như vậy cũng thấy được thông tin tuyên truyền, rèn luyện giáo dục đơi với
con người và xã hội không thể đi xa khỏi mọi ý nghĩa và giá trị nhân văn trong
chính trị nhân văn. Nếu vì mục đích chủ quan nào đó, bị quán tính hay sự bó
buộc bên ngoài nào đó mà sử dụng con người hay xã hội chủ yếu như những công cụ
thể thành đạt các mục tiêu nào đó cho chủ quan riêng mình, đó hẳn nhiên không
phải là chính trị theo kiểu nhân văn.
Điều đó cũng giống như chuyện biến đổi gien trong phương diện sinh học
ngày nay, Nếu chính trị chỉ chủ yếu làm biến đổi gien về ý thức, về tinh thần,
thực chất đó luôn không phải là chính trị chân chính. Chính trị chân chính là
phải hướng con người và xã hội vè nhân văn, về khách quan, về khoa học, đó mới
ý nghĩa và giá trị của chính trị tối hậu và cao cả nhất.
Nếu biến con người hay xã hội chỉ dừng lại ở những cảm xúc nhất thời như
chào cờ hay không chào cờ, hô khẩu hiệu hay không hô khẩu hiệu nào đó, lấy chủ
quan của mình mà đo đạc hay xuyên tạc những tính khách quan khác nhau của xã
hội và của lịch sử, đó đều là những loại chính trị không phải nhân văn mà chỉ
phi nhân văn và phản nhân văn.
TRĂNG NGÀN
(13/4/16)
**
TRIẾT HỌC LỊCH SỬ
VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Triết học dĩ nhiên không phải khoa sử học cũng như ngược lại. Triết học hướng về tư duy còn sử học hướng về sự kiện. Tư duy luôn cần có tìm tói, sáng tạo, còn sử học chỉ khai phá và lý giải, thích nghĩa.
Sự sáng tạo của triết học tuy vậy có người phủ nhận. Đó là vì họ nhầm lẫn giữa sáng tạo văn học nghệ thuật và sáng tạo của tư duy. Bởi sáng tạo của tư duy chỉ đồng nghĩa với sự khai phá mới, mà nếu không có nó triết học cũng không thể đi lên được.
Như vậy triết học
thực chất cũng khác với lịch sử triết học hay nghiên cứu triết học. Đây cũng chỉ
là thứ sử học trong lãnh vực triết học. Triết học là hoạt động của tư duy, của
công cuộc tìm tòi triết lý, trong khi đó nghiên cứu triết học hay lịch sử triết
học chỉ là tìm về hay bới móc ra mọi cái gì đã là những thành tựu từng có nào
đó. Ý nghĩa khác nhau của sáng tạo trong tư duy triết lý và trong nghiên cứu
triết học về mặt lịch sử hay khảo cứu về lịch sử triết học là như thế.
Trong ý nghĩa
sáng tạo hay khai phá mới như thế, giá trị là tài năng mà không phải chỉ là
thành tựu nào đó đơn giản. Như giá trị của thi hào Nguyễn Du là tài năng của
ông ta khi làm ra Truyện Kiều, nó bàng bạc trong khắp tác phẩm mà không phải chỉ
là sự thành tựu các mặt đã thẻ hiện ra nơi tác phẩm đó.
Do đó trong nghệ
thuật nói chung cũng thế, trong thi ca, âm nhạc chẳng hạn, có người đôi khi suốt
cả đời chỉ có một hai vài tác phẩm cũng đã nói lên tài năng riêng của mình, mà
không phải suốt cả đời với hang hà những gì làm được.
Từ trong thực tế
đó, tôi quan niệm Kim Định là một triết gia của Việt Nam thật sự mà không phải
chỉ là nhà sử học hay chỉ là người tìm tòi, nghiên cứu triết học. Bởi tư duy của
Kim Đinh là tư duy sáng tạo, tư duy khai phá mà không phải chỉ ý thức khảo cứu
hay ý thức sao chép. lượng giá kiểu lối mòn và thụ động.
Bởi vậy so với
nhiều người từng làm triết học hay từng nghiên cứu triết học tại Vietj Nam, người
ta có thể nhận ra tính cách triết gia nơi Kim Định là nổi bật và cũng độc đáo
nhất. Nói khác ngay như Trần Đức Thảo cũng chủ yếu là nhà nghiên cứu triết học,
còn tính cách triết gia độc sáng, riêng biệt that sự cũng chưa có điều gì đáng
nói mấy. Cái ý hướng và tính cách chủ động trong tư duy triết học giữa hai người
trên là khác nhau như thế. Còn phần lớn những người khác ở Việt Nam thì chỉ
bình thường chưa có gì đặc biệt đáng nói.
Hồi còn học triết học ở đại học Văn Khoa cũ tại Saigòn trong miền Nam trước năm 1975, tôi đã có số giờ theo học với giáo sự Kim Đinh. Ngay lúc đó tôi đã có ý thức mơ hồ đánh giá ông ta thật sự là một triết gia mà không chỉ là nhà triết học tức nghiên cứu triết học hay một giáo sư giảng dạy triết học. Mặc dầu số giờ giờ học với giáo sư Kim Đinh của tôi khi ấy không nhiều lắm, vì tôi học ban triết học phương Tây, sự sự mặn mà với các bài giảng về triết học phương Đông mà cụ thể là các tác phẩm cùng giảng khóa về Cơ cấu Việt Nho của ông kiến tôi khi ấy đã hết sức tâm đắc mặc dầu có khi cũng chưa hoàn toàn đào sâu hay hiểu hết.
Hồi còn học triết học ở đại học Văn Khoa cũ tại Saigòn trong miền Nam trước năm 1975, tôi đã có số giờ theo học với giáo sự Kim Đinh. Ngay lúc đó tôi đã có ý thức mơ hồ đánh giá ông ta thật sự là một triết gia mà không chỉ là nhà triết học tức nghiên cứu triết học hay một giáo sư giảng dạy triết học. Mặc dầu số giờ giờ học với giáo sư Kim Đinh của tôi khi ấy không nhiều lắm, vì tôi học ban triết học phương Tây, sự sự mặn mà với các bài giảng về triết học phương Đông mà cụ thể là các tác phẩm cùng giảng khóa về Cơ cấu Việt Nho của ông kiến tôi khi ấy đã hết sức tâm đắc mặc dầu có khi cũng chưa hoàn toàn đào sâu hay hiểu hết.
Cái hay của giáo
sự Định là ông trong tính cách một vị linh mục Thiên chúa giáo đi vào giảng dạy
triết học với cái áo đạo màu trắng mà ông thường mặc, nhưng trong nội dung giảng
dạy và sách viết của ông không bao giờ lan truyền gì về Thiên chúa giáo cả mà
chỉ để tâm truyền giảng triết học hoàn toàn khách quan, chân phương và hoàn
toàn thuần túy. Tinh thần và ý nghĩa triết gia cũng như tinh thần của một vị
giáo sư triết học ở đây là hoàn toàn như thế.
Đã từ lâu rồi tôi không có dịp gặp lại giáo
sư Kim Định, không biết hiện giờ ông ra sao và ở đâu, có các thành tựu triết
học mới thế nào, nhưng tôi vẫn luôn giữ trong long sự quý mến và ngưỡng phục
các tác phẩm và bài giảng ngày xưa của ông. Tôi cũng có tâm niệm một ngày nào
đó sẽ tìm đọc tất cả lại nó. Nhưng điều tôi suy nghĩ chân thành nhất là mong
nhiều người khác hãy tìm đọc nó và nghiên cứu nghiêm túc, sâu sắc hơn về chúng.
Bởi giáo sư Kim Định theo tôi là một triết gia thật sự và ý nghĩa lớn nhất của
ông chính là đặt để ra một nền móng cơ bản, nghiêm túc và tiết yếu cho tất cả
những ai tiếp tục phát triển thêm lên mọi thành quả khởi đầu mà
chính ông đã cưu mang và tâm huyết xây dựng nên được.
ĐẠI NGÀN
(13/4/16)
**
TỪ Ý NIỆM TỰ DO DÂN CHỦ
ĐẾN Ý NIỆM CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN CỦA CÁC MÁC
Ý niệm tự do dân chủ đã có từ lâu, cụ thể nhất ở đầu thế kỷ 19 nơi châu
Âu, khi người ta nhận thức rõ ràng mọi người sinh ra đời đều tự do bình đẳng.
Có nghĩa không ai được quyền cai trị ai theo kiểu độc đoán, chủ quan, bất chấp.
Nhưng đến giữa thế kỷ 19, ở nước Đức xuất hiện Các Mác phi bác tất cả
điều đó. Ông ta cho rằng phải độc tài vô sản do giai cấp công nhân lãnh đạo mới
xây dựng được thế giới không còn giai cấp trong xã hội loài người.
Cái sai của Mác hoàn toàn gắn liền vào các ý niệm không tưởng này. Bởi
độc tài luôn sẽ có cá nhân hay nhóm cá nhân lợi dụng để thủ lợi riêng và khuynh
loát toàn thể xã hội. Vô sản là khái niệm sai trái tron đời sống nhân loại, bởi
nó trái với quy luật sống khách quan tự nhiên, vì tài sản là công cụ tối thiểu
phải có mà không phải mục đích tối đa trong xã hội loài người. Vô sản là quay
trở lại với tự nhiên là phản tiến hóa. Riêng về giai cấp, nó là cấu trúc khách
quan và biến chuyển của xã hội, không bao giờ triệt tiêu hoàn toàn để thành
không còn giai cấp theo kiểu ảo tưởng được.
Do đó chuyên chính vô sản chỉ có thể gắn liền với một đảng độc tài làm
thủ tiêu mọi tự do khách quan của con người và xã hội, và đây thật là một ý niệm
chính trị không những sai lầm mà còn là tội lỗi của Mác đối với nhân loại.
Vả chăng ai cũng biết mỗi cá nhân là tiến hóa, toàn thể lịch sử nhân loại
trên thế giới là tiến hóa. Chính sự tiến hóa làm nên phát triển, và cụ thể hay
kết quả của sự tiến hóa đó trong xã hội loài người là hoàn cảnh kinh tế phát
triển, học vấn phát triển, nhận thức phát triển, đưa đến khoa học kỹ thuật và
văn hóa nói chung phát triển, đó là tinh hoa mà nơi các giai cấp có thể hướng
tới hay có thể thủ đắc được để tạo nên lịch sử phát triển chung trong toàn thế
giới.
Giai cấp vô sản khi xã hội tư bản công nghiệp mới phát triển, nó chỉ là
thiểu số của những người lao động công nghiệp lúc đó. Trong hoàn cảnh đó, giai
cấp công nhân vô sản khi ấy phải chịu rất nhiều thiệt thòi do lịch sử quá khứ
mang lại. Vậy mà Mác mê tín vào ý niệm biện chứng luận huyễn hoặc của Hegel
được Mác hiểu sai và nhằm lợi dựng để thần thánh hóa giai cấp công nhân lên một
cách không khách quan, phản thực tế và phản khoa học. Vì mọi sự quản lý xã hội
là điều thường xuyên phải có, nó có thể là sự góp phần của mọi giai cấp, không
nhất thiết là giai cấp công nhân hay giai cấp tư bản. Và một khi cá nhân nào
vào chính quyền họ cũng không còn thuần túy là giai cấp xuất xứ của họ nữa.
Chính các ý niệm huyền hoặc như vậy của Mác đã thủ tiêu ý nghĩa dân chủ
tự do chính đáng của nhân loại mà ông ta đã quy chụp một cách ngang ngược và
sai trái khi bảo rằng đó chỉ là dân chủ tự do kiểu tư sản thay vào dó bằng độc
tài vô sản và cho rằng đó là dân chủ gấp cả triệu lần một cách hoàn toàn huyễn
tưởng.
Một người trí thức mà đưa ra những quan điểm sai lạc để huyễn hoặc xã
hội, làm xã hội và cá nhân bị khống chế sai trái để quay thụt lùi về với những
trạng thái theo kiểu vật chất, máy móc, hoang dã, thiên nhiên, đó là tội lỗi của
Mác khi làm băng hoại nền văn minh khách quan của nhân loại bằng những quan
điểm chủ quan, sai trái, phản tự nhiên, phản khách quan và hoàn toàn hư ảo, giả
tạo của chính ông ta.
NGÀN KHƠI
(13/4/16)
**
THƯỢNG NGÀN says:
HỌC THUYẾT MÁC LÀM NÔ LỆ
CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI HƠN AI HẾT
Khi Mác đưa ra học thuyết của mình ông ta nhân danh ý niệm giải phóng con
người, giải phóng xã hội và giai cấp, song trong thực hiện nó suốt non thế kỷ,
mọi kết quả thật sự đều hoàn toàn ngược lại. Điều này hẳn nhiên mọi đảng viên
cộng sản theo lý thuyết Mác có thể thấy hoặc không thể thấy do trình độ nhận
thức, hoặc kể cả do có hay không có ý thức đối với con người và xã hội đúng
nghĩa.
Thật ra, khi Mác đưa ra xong học thuyết của mình, trong nhiều thập niên,
chẳng ai ngó ngàng gì tới nó, khiến các sách vở đó phải để cho bụi bặm phủ đầy
và mọt gián gặp nhắm như lời chính ông ta ca thán.
Chỉ tới khi Lênin theo đó xây dựng nên được nhà nước Nga Sô Viết vào năm
1917, phong trào cộng sản quốc tế mới mở rộng ra nhiều nơi trên thế giới, hình
thành nên với nó thế giới Đông Âu và thế giới cộng sản trược kia có đến hang
trăm quốc gia.
Nhưng khách quan mà nói, các quốc gia đó chỉ phát triển theo hướng chính
trị mà không phải theo hướng kinh tế xã hội. Có nghĩa chỉ có chính trị chuyên
đoán đối với toàn xã hội là nổ bùng nhất, còn về văn hóa, tư duy, kinh tế, vật
chất, tinh thân, xã hội mọi mặt thì đều nghèo nàn, kiệt quệ, chỉ mang hình thức
tuyên truyền hào nhoáng bề ngoài giả tạo là chính. Bản thân mỗi cá nhân con
người trong đó và những xã hội đó bị nghèo nàn, héo quắt các mặt là như thế.
Lý do chính yếu là tại sao ? Vì rõ ràng là Lênin quá hướng về hay sính về
sự tổ chức xã hội theo cách hình thức chất chẽ bề ngoài. Điều này cũng không
phải chỉ lỗi của Lênin mà do chính Mác đã từng đưa ra ý niệm chuyên chính vô
sản, đấu tranh giai cấp và nền kinh tế theo tổ chức tập thể.
Bởi vậy xã hội và con người nói chung không còn sự khách quan, hồn nhiên
vốn có nữa, mà trở thành một guồng máy giả tạo được tổ chức theo lỗi hoàn toàn
chặt chẽ, hình thức, nhân danh và xiển dương giai cấp công nhân về mặt tuyên
truyền bằng ngôn từ, mà thực chất do một Tổng bí thư đảng và đảng cộng sản nắm
hết mọi đầu mối và mọi sự điều động. Cá nhân và toàn xã hội trở thành một guồng
máy duy nhất giống nhau, không còn mọi sắc thái riêng và cũng không còn quyền
có các sắc thái riêng.
Ở cao trào hay cao điểm nhất của nó, Tồng bí thư đảng cộng sản Liên Xô
trở thành ông vua không ngai của toàn thế giới cộng sản. Mọi chỉ thị, nghị
quyết điều hành đều phát xuất từ đây, từ bộ tham mưu của ông ta với danh gọi là
trung ương đảng để điều khiển toàn đảng và chi phối mọi vận hành của toàn xã
hội. Guống máy toàn diện đó đã từng do Stalin đứng đầu, hay riêng từng nước CS
cũng giống như thế, như Trung Quốc, Triều Tiên v.v... nói chung mọi người đều
thấy rõ.
Thấy rõ những không ai được quyền nói khác đi, hiểu khác đi, làm khác đi,
bởi vì đây là điều cấm kỵ. không phải đối với toàn người dân, xã hội, mà kể cả
mọi đảng viên hay cả toàn bộ chính trị trung ương cũng đều như thế. Có nghĩa
tất cả chỉ đều rập khuôn, tuân hành để được sống còn mà không cần biết tương
lai của mỗi người, của toàn xã hội sẽ đi đến đâu cũng mặc.
Điều này that hoàn toàn trái với quy luật khách quan của lịch sử con
người và thế giới. Bởi vì thực chất mọi người sinh ra đời ở mọi thời và mọi nơi
đều có quyền bình đẳng, tự do một cách khách quan, tự nhiên. Chính mọi kết quả
được tạo thành từ đó mới mới làm nên lịch sử của từng dân tộc, đất nước và lịch
sử thể giới, nhân loại nói chung. Thế nhưng trong thế giới cộng sản mác xít,
toàn bộ xã hội trở thành như một hình nộm của một quyền hành duy nhất, của một
quan điểm học thuyết duy nhất, mặc dầu biết rõ rang sai về mặt lý thuyết khoa
học và thực tiển nhưng không ai có quyền phản biện hay nói khác đi hoặc ngược
lại cho dù bất kể người đó là ai.
Đấy thực sự tính cách vô lý, phi nhân, nghịch xã hội, hay tính cách nô lệ
hóa con người và xã hội khách quan tự nhiên trong suốt gần trăm năm mà học
thuyết Mác đã từng mang lại cho nhân loại hay toàn thế giới loài người là như
thế. Và xét về lịch sử nhân loại từ cổ chí kim lẫn từ Tây sang Đông cũng từng
chưa hề bao giờ loài người sản sinh ra một lý thuyết như thế trước đó.
ĐỈNH NGÀN
(13/4/16)
**
ĐIỂM SƠ LẠI HỌC THUYẾT
"ĐẤU TRANH GIAI CẤP" CỦA MÁC
Đấu tranh giai cấp là cái cốt lõi trong học thuyết Mác. Vì nếu không có ý
niệm cốt lõi này học thuyết Mác coi như không có, chủ nghĩa cộng sản mác xít
coi như không có. Vậy đấu tranh giai cấp theo Mác là gì và thực chất của nó ra
sao.
Mác dựa vào "biện chứng luận" của Hegel để cho rằng theo nguyên
tắc phủ định của phủ định thì giai đoạn vô sản của nhân loại phải phủ nhận giai
đoạn tư bản chủ nghĩa để đi đến thế giới không còn giai cấp. Nhưng Mác quên
rằng nếu tin tưởng lịch sử khách quan phải diễn ra như thế thì cần gì đấu tranh
giai cấp, phải chăng con người muốn chủ động và có thể chủ động để thay quyền
của lịch sử ?
Thật ra quan điểm của Mác như vậy là một quan niệm mang tính huyền thoại.
Bởi vì trong cuộc đời chỉ có những cá nhân cụ thể, còn giai cấp chỉ là khái
niệm trừu tượng ghép chung những cá nhân có điều kiện sống giống nhau hay gần
nhau lại với nhau. Có nghĩa chỉ có những cá thể cụ thể mới thật sự đấu tranh
nhau còn mọi cái trừu tượng không bao giờ và cũng không thể nào đấu tranh nhau
cả.
Chẳng hạn giữa những con người cụ thể thì có thể đấu tranh nhau, còn các
ý tưởng riêng của họ thì không bao giờ đấu tranh lẫn nhau cả. Cũng thế, quy
luật đấu tranh cá thể là quy luật chung trong tự nhiên cũng như trong xã hội
con người. Và đấu tranh bao giờ cũng có cả hai mặt tích cực và tiêu cực mà
không phải chỉ hoàn toàn tiêu cực. Điều này ngày nay lý thuyết đấu tranh sinh
tồn của Darwin hay đấu tranh sinh học ở mọi khía cạnh khác nhau đều cho thấy
rõ. Mác chỉ vơ vào khía cạnh không tưởng của xã hội và đó chính là lỗi lầm tai
hại của ông ta.
Chính vì ý nghĩa như thế nên những người cộng sản mác xít trước kia trên
khắp thế giới đều chủ trương kiểu chiến tranh giải phóng là như vậy. Như hết
chiến tranh nóng đến chiến tranh lạnh, và chỉ khi nào không còn chiến tranh
được nữa, tức khi họ đã chiếm được chính quyền, hay khi bị sụp đổ và tan rã như
Liên Xô thì thật sự kiểu chiến tranh đó mới hoàn toàn chấp dứt.
Nhưng khi họ đã nắm chính quyền, chiến tranh lại chuyển qua hình thức
khác thầm lặng hơn để phục vụ cho đấu tranh giai cấp. Như ý định và mục đích
tiêu diệt giai cấp tư sản và tiểu tư sản bằng cải tạo công thương nghiệp sau
năm 1975, chính sách đưa nông dân vào hợp tác hóa kiểu giả tạo và máy móc trong
thời kỳ bao cấp để nhằm vô sản hóa nông dân theo đúng bài bản có trước, đó là
điều không ai không biết. Đặc biệt nhất là đưa tất cả sĩ quan và viên chức chế
độ cũ trước đó đi cải tạo đại trà, cũng không ngoài tính cách đấu tranh giai
cấp như thế.
Nhưng điển hình nhất chính là chế độ lý lịch được áp dụng một thời cho
các sinh viên nhằm chận đứng hay hạn chế họ vào đại học. Nhất là mọi công nhân
viên chức thời chế độ cũ đều bị kỳ thị giai cấp trong một thời gian dài, tận
diệt và phí phạm bao nhiêu chất xám mà xã hội từng có được qua họ cũng không
ngoài quan điểm đấu tranh giai cấp tiềm ẩn và hoàn toàn phi lý không thực tế
như thế.
Cho nên nói tóm quan điềm đấu tranh giai cấp của Mác quả là một huyền
thoại, huyền thoại cho nhiều nước áp dung nó và huyền thoại cho cả thế giới
nhân loại từ khi nó xuất hiện. Bởi cuối cùng khi đổi mới thì mọi giai cấp đều
trở lại như cũ một cách khách quan, trong khi đó cuốn sách nói về giai cấp mới
đã được nhà văn Nam tư nổi tiếng đề cập đến ngay trong thời kỳ còn Liên bang Xô
Viết.
Quả thật một trí thức theo kiểu gà mờ, đã đưa ra một quan điểm lý thuyết
không thực tế, phi khoa học, phản nhân văn đã từng làm hại biết bao nhiêu đất
nước và cả nhân loại do lầm lỗi ảo giác và phi thực tế cũng như tính cách gàn
bướng, vô trách nhiệm cùng sự ẩu tả thiếu thận trọng vì mờ mịt trong nhận thức
của mình là như vậy.
THƯỢNG NGÀN
(13/4/16)
**
LẠI NÓI VỀ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT
Hiến pháp và pháp luật là khung sườn, là nền tảng quan trọng nhất trong
sinh hoạt toàn dân và toàn đất nước. Nó chi phối hết toàn hoạt động kinh tế xã
hội văn hóa của đất nước đó trong hiện tại và mọi yêu cầu hay triển vọng phát
triển tương lai của dân tộc hay đất nước đó cũng tùy vào đó.
Chính hiến pháp và luật pháp quan trọng như thế, nên vấn đề là toàn thể
nhân dân phải nắm rõ và người cầm quyền phải nắm rõ. Nắm rõ là hiểu ra được đây
là sinh mạng lâu dài của xã hội, của đất nước mà không phải chỉ là những mưu
toàn hay tính toán theo cách chủ quan riêng tư nào đó hoặc chỉ có ý nghĩa nhất
thời.
Bởi dân tộc và đất nước là cái gì trường cửu, nên hiến pháp cũng như pháp
luật đều phải luôn thiết yếu xây dựng trên chính nền tảng hết sức sâu xa và
quan trọng đó. Có nghĩa hiến pháp và pháp luật không thể chỉ bị lèo lái nhất
thời bởi những lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân nào đó bất kỳ về mặt nào. Những
hiến pháp và luật pháp chỉ mang tính cách nhất thời nhằm phục vụ chủ quan cho
một loại ý hệ nhất thời, thiếu căn cơ khoa học hoặc viễn tưởng nào đó nào đó,
hay các quyền lợi nhóm riêng tư nào đó đều không phải đích thực là hiến pháp
của toàn dân, toàn xã hội hay toàn đất nước theo cách khách quan, đúng đắn, xác
đáng và thiết yếu nói chung.
Trong các ý nghĩa, yêu cầu và mục đích đã thấy, rõ ràng hiến pháp tốt
nhất tức có ý nghĩa và giá trị vững bền nhất phải là hiến pháp thực tiển, khach
quan, dân chủ tự do thật sự mà không là gì khác. Bởi dân chủ thật sự là quyền
làm chủ của toàn dân thật sự, dân chủ thật sự là quyền báo chí và truyền thống
thật sự dân chủ trong xã hội. Có được như thế hiến pháp mới là hiến pháp do dân
làm ra mà không phải chỉ là hiến pháp của kẻ cầm quyền hay đảng cầm quyền nào
đó làm ra.
Hiến pháp là luật đầu tiên, luật mẹ của mọi pháp luật về sau. Nên chỉ có
hiến pháp của toàn dân, do toàn dân thảo ra và quyết định thật sự, hiến pháp đó
mới là hiến pháp chung của đất nước theo ý nghĩa nền tảng, lâu dài và chân
chính nhất. Bởi có được hiến pháp như thế thì mọi pháp luật kéo theo cũng mới
như thế, toàn dân mới làm chủ được đất nước, làm chủ được chính mình, toàn đất
nước, xã hội mới thật sự đi lên theo yêu cầu khách quan, thiết yếu nhất của nó
và mọi triển vọng, thành quả trong tương lai mới thật sự bảo đảm một cách tốt
đẹp được.
NON NGÀN
(13/4/16)
**
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
Đầu tư và phát triển là yêu cầu chính yếu của mọi đất nước, và người nắm
chốt các dự án rộng lớn này không ai ngoài các chính phủ. Tuy nhiên vấn đề quan
trọng đáng nói đến trước nhất là ý nghĩa của ngân sách và ý nghĩa trong tính
hiệu quả và lợi ích về các mặt. Bởi nguồn ngân sách chủ yếu là tiến thuế đóng
của dân, hoặc tiền vay hay viện trợ của các nước khác.
Tiền đóng thuế của dân là mồ hôi nước mắt và sức lao động nhọc nhằn của
dân. Tiền vay thì phải trả về sau cũng là món nợ mà toàn dân phải lãnh. Tiền
viện trợ của nước khác thực chất chỉ là chuyện chẳng đặng đừng, vì ngữa tay xin
tiền của nước ngoài chẳng phải sự vẽ vang hay vinh dự gì để khiến một đất nước,
một dân tộc đành luôn luôn hay thường xuyên cam chịu.
Thế nên mọi sự đầu tư phát triển không phải chỉ là việc làm vô tội vạ
hoặc không tính toán mà phải là sự tính toán mọi mặt chi tiết của chính phủ
nước đó cũng như của toàn dân nước đó. Sự tính toán của chính phủ đặt nền tảng
trên sự trong sáng, lành mạnh, hiệu quả, trong sạch của chính phủ. Sự tính toán
của toàn dân là dựa vào quốc hội có năng quyền quyết định và kiểm soát cũng như
vào nên báo chí dân chủ tự do chân chính và hiệu lực khả dĩ hướng dẫn và soi
sáng dư luận toàn xã hội hiệu quả thật sự.
Có nghĩa nếu thiếu những tính chất căn cơ như trên, các sự đầu tư phát
triển nhiều khi chỉ kết quả ngược hay tác động ngược. Đặt biệt nhất ý nghĩa
quốc phòng, an ninh đất nước là điều mọi người cần nghĩ đến trước nhất. Bởi vì
những công trình nào mà vi phạm hay đi ngược lại các yêu cầu này đều là kiểu
nuôi ong tay áo cho người ngoài, hoặc nó là nguồn ngốn ngân sách một cách vô
cớ, tai hại và chỉ làm lợi ích cho các phần tử tiêu cực, tham nhũng trong chính
xã hội và đất nước đó.
NON NGÀN
(13/4/16)
**
NGÀN KHƠI says:
SỰ MINH BẠCH CỦA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
Mỗi cá nhân đều có quyền tư riêng của mình, nhưng
mọi điều gì khác có liên quan đến xã hội của họ thì đều cần phải minh bạch. Bởi
không minh bạch nó sẽ tạo nên một thế giới ngầm, chúng kết lại với nhau tạo
thành một hệ thống địa phương, trong nước, có khi toàn cầu, làm hại đến những
người khác, nhất là làm hại đến toàn xã hội.
Sự minh bạch như thế là sự trong sáng của mỗi cá
nhân và cũng là sự trong sáng của xã hội hay cộng đồng mà cá nhân sống trong
đó. Thế giới minh bạch là thế giới hợp pháp, đúng pháp luật, thế giới ngầm là
thế giới phi pháp, thế giới kiểu mafia dù nó tồn tại dưới bất kỳ tính chất hay
hình thức nào và ở đâu cũng thế.
Vụ bùm xùm
Panama hiện nay là vụ việc có ý nghĩa trên toàn thế giới. Nó chứng tỏ rằng xã
hội con người không phải bao giờ cũng đàng hoàng, cho dù có đặt dưới chế độ độc
tài chuyên chính nào đó hay dù có mệnh danh là xã hội cách mạng như thế nào.
Bởi vì bản chất của con người phần lớn là theo bản năng ích kỷ do đó mọi sự qua
mặt luật pháp mọi khía cạnh là điều dễ thấy nhất. Hồ sơ Panama cho thấy hệ
thống những cá nhân trốn thuế khổng lồ trên toàn thế giới. Nó không chỉ là giới
kinh doanh, tài chánh, mà cả những chính trị gia nào đó bất chính ở khắp các
quốc gia.
Tính chất luật pháp chung, tính chất công bằng là
mọi người phải đóng thuế sòng phẳng, không được trốn thuế một cách bất chấp và
lớn lao, vì đó chính là hành vi tham nhũng quy mô nhất. Tham nhũng chẳng phải
chỉ nhũng lạm, ăn cắp, cưỡng đoạt bằng pháp luật của người khác, mà đặc biệt
nhất chính là của cái của toàn xã hội, như ngân sách, quốc khố chẳng hạn.
Do đó pháp luật tự do dân chủ tuy không tránh được
tham nhũng mọi loại nhưng ít ra nó có thể hạn chế hiệu quả bằng báo chí, bằng
dư luận, bằng luật pháp công khai. Trái lại ở các nước độc tài mọi loại tham
nhũng là những hệ lụy tự nhiên vô phương cứu chữa. Bởi vì trong những nước độc
tài, quyền hành chung của xã hội bị lũng đoạn, nó có thể biến tướng thành bản
chất quyền hành ngầm để chia chát các quyền lợi nhau một cách âm thầm và phi
pháp mà khó có ai phanh phui hay công khai nói ra được. Đối với con người hành
vi và ngôn ngữ có khi không đi đôi với nhau và cách sống hai mặt là điều tệ hại
nhất, đặc biệt trong các chế độ độc tài.
Hồ sơ Panama tuy dầu không thể tranh khỏi trong xã
hội tự do dân chủ, thế nhưng nó không thể bị che giấu lâu và thế nào cũng bị
phanh phui và bị xử lý những cá nhân liên quan trong đó về tội trốn thuế, rửa
tiền, tham nhũng. Nhưng nếu trong xã hội độc tài, nó sẽ tồn tại dưới nhiều hình
thức khác hơn, khó dễ gì phanh phui ra được, và có phanh phui ra cũng gặp phải
những trở lực về ngôn ngữ bao che, hành vi bao che của những người có quyền lực
liên quan đến nó, đó là những điều mà mọi loại phản ứng khác nhau hiện tại trên
thế giới ở từng nước đối với việc đó rõ ràng đang cho thấy một cách hiển nhiên
nhất.
PHƯƠNG NGÀN
(12/4/16)
**
CÁ NHÂN VÀ SỰ TỰ Ý THỨC
Từng cá nhân làm nên xã hội. Có ý thức trước thì
mới có sự biểu hiện ra ngoài và có hành vi tốt đẹp về sau. Điều này đúng cho
mọi cá nhân trong cộng đồng xã hội, người nắm chính quyền cũng như người trong
hàng dân dã.
Thật ra mọi người nắm chính quyền từ đầu tiên cũng
từ trong hàng dân dã đi lên. Khi còn ở trong hàng dân dã mà họ đã không có ý
thức thì mong gì khi ra nắm được chính quyền họ lại có ý thức. Ý thức trước hết
là ý thức về mình, sau đó là ý thức về người khác, về mọi người và về toàn xã
hội.
Ý thức đó thể hiện ra ở cung cách hiểu biết, ở xử
sự, nhất là ở ngôn ngữ. Có nghĩa sự thành thật với chính mình, sự trung thực
với người khác cũng là giềng mối cho sự trung thực chung trong toàn xã hội.
Người không trung thực là người có thể dùng ngôn ngữ tuyên truyền giả dối để
lừa dối người khác. Điều này trong xã hội bình thường đã là không ổn, huống chi
xã hội nhà nước khi họ đã trở thành những người cầm quyền, lãnh đạo.
Có nghĩa cá nhân và sự tự ý thức là điều cơ bản
quan trọng đầu tiên hết. Không có ý nghĩa này mọi người đều trở thành thụ động,
chai lỳ, thậm chí lừa dối và lạm dung xã hội. Như vậy ý nghĩa cao nhất hay giá
trị cao nhất của xã hội nói chung và chính trị nói riêng không gì hơn là sự
trung thực và thành that. Không có hai yếu tố này, bản chất xã hội thành giả
dối và bản chất chính trị cũng trở thành giả dối về mọi phương diện.
Bởi trong xã hội chỉ có sự trung thực mới tạo nên
niềm tin cho người khác mà không bao giờ là sự giả dối. Mọi cái đều tùy thuộc
vào đó để đánh giá, như lòng yêu nước, yêu dân, yêu con người, yêu xã hội mọi
loại nếu không có ý nghĩa trung thực mà chỉ là giả dối cũng đều chỉ đáng vứt bỏ
đi vì chúng chẳng có giá trị khách quan nào hết. Bởi thế nó cũng tạo nên sự
dưng dưng hay sự vô cảm mọi mặt đối với toàn xã hội.
Nói cho cùng mỗi cá nhân không tự ý thức về tất cả
những điều trên, toàn thể xã hội đều hỏng, phía dân chúng cũng như phía người
cầm quyền cũng thế. Mà điều đó không ai áp đặt, cưỡng chế lên người khác được.
Nó chẳng qua chỉ là sự tự giác, và mỗi cá nhân đều tự giác thì toàn thể xã hội
tự giác. Ngược lại mỗi cá nhân dù địa vị nào mà không tự giác, chỉ biết sống
giả tạo, giả dối, thì toàn thể xã hội đều hỏng bét và tụt hậu thua kém mọi xã
hội khác chỉ là điều tự nhiên.
PHƯƠNG NGÀN
(12/4/16)
**
CHÍNH TRỊ GIA VÀ QUẦN CHÚNG
Ở các nước tự do tư sản luôn có loại người chuyên
nghiệp về chính trị gọi là chính trị gia. Họ có thể là tốt hay xấu trong bản
thân họ, nhưng nếu bề ngoài họ đóng kịch, diễn xuất tốt cũng khó ai biết được.
Thế nhưng đã lọt được vào vị trí lãnh đạo chính quyền, tức là được dân bầu vào
các địa vị chính trị, nếu sai lầm nào đó phát hiện, họ có thể bị báo chí phanh
phui, bị dư luận phản đối, thế là họ liền bị truất phế hay buộc phải từ chức,
rút khỏi chính quyền mà không thể làm gì được. Đấy tính tự do báo chí, tự do
dân chủ trong cấu trúc xã hội, tinh linh hoạt trong xã hội tự chủ nó có lợi ích
cho người dân là thế. Bởi không ai lấy thước để đo lòng người, nên chỉ có cơ
chế dân chủ khách quan mới chận đứng được những lạm dụng chủ quan vậy thôi.
Trong xã hội như thế người dân được quyền có phiếu bầu độc lập mà cũng khỏi bị
nghe tuyên truyền giả dối dù bất kỳ chiều hướng nào bởi báo chí và truyền thông
tự do không bao giờ cho phép điều ấy.
Trong khi đó ở ở nước độc tài mọi loại, không hề có
các chính trị gia chuyên nghiệp kiểu như trên mà những người tham gia vào bộ
máy công quyền đều là công nhân viên nhà nước, đều là cán bộ được đào tạo theo
lối một chiều, đều là người của đảng cầm quyền duy nhất không hơn không kém.
Tất cả đều chỉ là tay chân của người cầm quyền độc tài duy nhất cho dù nó được
thể hiện dưới hình thức nào. Cái đó được gọi là sự nhất trí hay sự ổn định,
thống nhất duy nhất trong xã hội một cách thực chất hoàn toàn giả tạo.
Ở các nước kiểu toàn trị độc đoán như thế, mọi công
cụ tuyên truyền đều của nhà nước, của đảng cầm quyền ở đó, phải nói một chiều,
thuân theo một chiều của kẻ thống lĩnh duy nhất, đó là cá nhân độc tài, nhóm
độc tài hay là đảng độc tài. Tất nhiên cũng không thể có báo chí tự do, truyền
thông tự do do đó mọi người dân đều chỉ được ăn độc một món do cơ chế độc tài
tự nó làm sẳn.
Như vậy trong những xã hội đó không thể có những
đầu óc chính trị độc lập mà chỉ duy có đầu óc của kẻ thừa hành. Họ sống để ăn
lương và mọi cung cách của họ đều phải nô lệ theo lương bổng mà họ được lãnh.
Tất nhiên lương đó do dân đóng thuế nhưng do nhà nước đó quản lý và chi phối,
phát lương ra cho các công cụ của nó. Đặc biệt người dân chỉ nghe và tin theo
một chiều do mọi bài bản tuyên truyền có sẳn, không có quyền lá phiếu tự do nào
mà buộc phải lựa chon những người đã được lựa chon trước làm người đại diện
không thực quyền và cũng chẳng thực chất gì cho mình. Đấy sự khác nhau giữa hai
cơ chế dân chủ tự do khách quan thực chất và cơ chế độc tài chủ quan cũng như
tác động của nó đến người dân và toàn thể xã hội nằm trong đó chỉ là thế.
ĐẠI NGÀN
(12/4/16)
**
KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
VÀ CHÍNH TRỊ
KHOA HỌC
Khoa học là sự nghiên cứu và áp dụng chính xác,
hiệu lực của con người vào một đối tượng khách quan nào đó. Khi chính trị được
dùng như đối tượng khách quan nhắm tới đó, nó trở thành khoa học chính trị hay
được gọi là khoa học chính trị.
Như vậy chính trị thực tiển chỉ mới là chính trị
kiểu cảm tính. Nó có thể hướng theo nhiều mục đích khác nhau tùy theo tâm trạng
hoặc mục tiêu của những người đi theo nó. Như chính trị do kết quả của long thù
hận, căm thù kiểu thế nào đó, chính trị kiểu chạy theo thời cơ, cơ hội, chính
trị do mưu cầu lợi ích cá nhân riêng v.v...
Từ đó cũng thấy rằng chính trị chân chính, thiết
yếu của xã hội loài người phải là chính trị khoa học mà không là gì khác. Bởi
chỉ chính trị khoa học nó mới thật sự vượt lên trên, vượt ra ngoài mọi ý thức
cảm tính để hướng tới chính trị như một yêu cầu khoa học, một nền tảng phát
triển xã hội và bảo vệ những ý nghĩa, những giá trị con người một cách thực tế
nhất và cao nhất.
Nhưng khi nói đến chính trị khoa học cũng có nghĩa
nó phải vượt ra ngoài mọi kiểu ý thức hệ chủ quan, nhất thời, mọi tính độc đoán
theo yêu cầu cảm tính, mọi lý thuyết chưa được kiểm chứng thực tế mà tự xứng,
tự mệnh danh là khoa học v.v... Có nghĩa chính trị như một khoa học thì hoàn
toàn khách quan, chính xác, thực tiển mà không thể ảo tưởng, không thể không
tưởng, như kiểu xây dung một thế giới đại đồng dỏm không bao giờ có thực mà
thực chất chỉ gây ra những tệ hại ngược lại cho xã hội.
Cho nên vấn đề không phải quay về chế độ nào,
nguyên lý nào, con người nào, mà vấn đề chỉ là chính trị có phải như một định
hướng khoa học thực sự hay chỉ là những cảm tính thời thượng một thời rồi cuối
cùng tan rã và tệ hại nhiều mặt thế thôi. Mà khoa học chính trị là gì ? Đó là
kết quả tinh hoa của lịch sử nhân loại, của các nhà nghiên cứu khoa học khách
quan tích góp lại qua bao thế hệ thực tế, không phải chỉ lý thuyết của một cá
nhân lập dị, điên rồ, vu vơ, ảo tưởng nào đó để khiến cho nhiều dân tộc hoặc
toàn thể nhân loại đã phải một thời từng mắc lỡm.
Nói cách khác, chỉ có các chế độ tự do dân chủ thật
sự mới đúng là chính trị khoa học, ngược lại mọi chế độ độc tài dù tự mệnh danh
dưới các từ ngữ hay hình thức mỹ miều nào cũng đều phi khoa học và phản khoa
học. Tính cách thực tiển, khoa học và nhân văn luôn luôn là giá trị và yêu cầu
cao nhất của chính trị lý thuyết và thực tế không ngoài như thế.
THƯỢNG NGÀN
(12/4/16)
**
ĐẠI NGÀN says:
PHẢI THÔNG CẢM
VỚI NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN
Người cộng sản dù cho ở đâu, thời nào khắp nơi trên
thế giới cũng đều giống nhau cả. Phần lớn họ đều không hiểu rõ, không nghiên
cứu sâu xa học thuyết Mác là gì. Các sự hiểu biết của họ về điều này đều theo
cảm tính, tức căn cứ vào sự tuyên truyền, sự lý luận một chiều ngay từ đầu,
nhất là bị rập khuôn theo tổ chức, bởi vì nếu không như thế họ cũng đã không
thành những người cộng sản.
Nhất là sau thế chiến thứ hai, ý nghĩa giải phóng
đất nước khỏi phát xít Đức ở châu Âu, phát xít Nhật hay thực dân Anh, thực dân
Pháp ở Á châu, cũng là đầu mối tạo ra những đảng viên cộng sản. Bởi họ được
nhập một lý thuyết Mác và điều này lại, nên đó là động cơ tốt nhất để tạo nên
những người cộng sản.
Nói chung ý nghĩa ban đầu của mọi người cộng sản là
họ tin học thuyết Mác như một ý nghĩa xã hội lý tưởng và tốt đẹp. Họ cho ràng
nó có thể hoàn toàn thực hiện được vì rõ ràng Lênin ở Liên Xô và nhà nước Liên
Bang Xô Viết khi ấy theo họ đã làm được điều đó. Họ chỉ cần được trang bị lý luận
một chiều để hướng về niềm tin mục đích như vậy là được rồi, không bao giờ cần
lý luận gì khác hay ngược lại, it nhất cũng không có khả năng phản biện hay
cũng không được phép phản biện.
Ngay như kiểu Trần Đức Thảo ở Việt Nam khi còn đang
ở Pháp cũng không đi ra ngoài những thói quen hay vết mòn đó. Nhưng khi đã vào
tổ chức rồi, không người cộng sản nào có thể thoát ra được dù bất kỳ đó là ai,
thuộc hàng lãnh đạo hay chỉ là những đảng viên cán bộ cơ sở bình thường. Dẫu
khi có người trong lòng không còn tin tưởng gì vào học thuyết Mác như trước kia
thì vẫn không thể lọt ra ngoài tổ chức chat chẽ đã có. Chính Trần Đức Thảo khi
đã già cóp sang được Paris trở lại thì mới viết ra tác phẩm Những Lời Trăn Trối
thì cũng không ngoài hệ lụy như vậy. Hay như Trường hợp của ông Trần Xuân Bách
trước đó thì cũng thật không khác gì mấy.
Thế nên ngày nay dù cội nguồn Liên Xô không còn,
cái nối học thuyết Mác là Đông Đức cũng không còn, các thực tế Đông Âu từng bị
phát xít Đức thôn tính cũng không còn, song vẫn còn có bốn nước cộng sản còn
lại luôn kiên cường khó ai lay chuyển nổi trong đó nổi bật có Triều Tiên và
Trung Quốc, còn Việt Nam và Cuba thì ngày nay vẫn tình trong như đã mặt ngoài
còn e.
Đó là lý do cần phải thông cảm với những người cộng
sản chỉ là như thế. Nghĩ cho cùng lỗi phải không phải do tự họ mà chính do học
thuyết Mác. Bởi nếu học thuyết Mác đã thực hiện được thì chỉ cần vài năm họ đã
thành công, đạt được mục đích cộng sản hóa toàn cầu rồi. Đàng này sau hơn 70
năm cuối cùng Liên Xô đã phải đổ vỡ kéo theo cả thế giới cộng sản trước đó, thì
chính là lỗi của Mác đâu phải lỗi của họ. Bởi họ nói chung chỉ là những người
thừa hành, thực hành, những người làm theo, tin theo, họ đâu phải là những
người lý thuyết.
Nên lỗi chính yếu của Mác là cố đưa ra một lý thuyết
tự cho là khoa học, hư tưởng là khoa học, mà thực chất nó không là khoa học, và
sự thất bại chua cay của Mác chính là ở đó. Bởi khoa học đích thực thì luôn
luôn thành công, còn cái gì không thành công được trong cuộc sống thì chỉ có
thể phi khoa học thế thôi. Mác mà còn sai như thế thì những người đảng viên mác
xít vốn xuất thân từ nông dân, công nhân, những người khuynh tà nhất thời nào
đó thì làm sao mà là chủ nhân của lý thuyết khoa học cho được. Vậy nên nói
chung sự cảm thông với người cộng sản là phải lắm,, phải lắm. Bởi vì nếu họ
được hiểu sâu, hiểu đúng khách quan về lý thuyết Mác, ngay từ đầu họ đã không
trở thành người cộng sản hay về sau họ cũng đã không còn là người cộng sản nữa
rồi. Ô hô chính Mác mới là người đáng trách mà không hề là những người cộng sản
vốn đã ảo tưởng đi theo ông ấy.
ĐỈNH NGÀN
(11/4/16)
**
NON NGÀN says:
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ Ý NIỆM ĐẠI DIỆN
Đại biểu quốc hội hay dân biểu hay nghị sĩ nói chung
đều mang tính cách đại diện. Đây là đại diện cho dân tức vùng địa phương mà họ
ra ứng cử và được bầu chọn. Tuy vậy điều này ở các nước tự do tư sản và nước
chuyên chính cộng sản lại khác nhau.
Ở các nước tự do vô sản, bất cứ ai cũng có thể tự
ra vận động ứng cử nếu mình thích công việc này và thấy hi vọng có thể trúng
cử. Tất nhiên họ có thể là người của đảng bầu cử nào đó như đảng Cộng hòa hay
đảng Dân chủ ở Mỹ, hoặc chỉ là cá nhân độc lập nhưng có tính năng động nào đó.
Nhưng ở các nước cộng sản chuyên chính vấn đề lại
hoàn toàn khác. Ứng viên phải là người của đảng cộng sản giới thiệu và do đảng
lãnh đạo. Họ được đưa ra theo yêu cầu của đảng và dĩ nhiên họ phải tuân thủ
mệnh lệnh lãnh đạo của đảng duy nhất đó sau khi đã thành đại biểu.
Ở đây vấn đề chỉ muốn nói đến là tính cách của ý
nghĩa đại biểu là gì. Tất nhiên đại biểu là thay mặt cho người dân của địa hạt
sở tại mà họ đắc cử. Tuy nhiên ở các nước tự do tư sản, ý nghĩa này được hướng
đến tài năng nhiều hơn. Có nghĩa dân bầu những người đại biểu phải có tài năng
để xứng đáng sự đại diện cho họ. Tài năng dĩ nhiên là cái gì riêng tư, khả năng
có sẳn như ý nghĩa học vấn, trình độ nhận thức, tính năng động về giá trị quan
điểm, ý kiến để có thể đấu tranh trong quốc hội, không phải chỉ đại diện theo kiểu
thụ động, tức kiểu vào ngồi như phỗng hoặc kém tài đấu tranh quan điểm cùng với
đại biểu các địa phương khác. Tính cách hiểu biết độc lập, ý thức độc lập, quan
điểm độc lập, ý chí độc lập, đó là ý nghĩa cao nhất của các đại biểu, nghị sĩ ở
các nước tự do tư sản.
Trái lại ở các nước cộng sản, vì nguyên tắc đã có
đảng lãnh đạo chung nhất và cao nhất rồi, các đại biểu thật ra chỉ là sự đại
diện hình thức của các địa phương hay của các giai cấp, giai tầng xã hội nào đó
mà đảng muốn cơ cấu vào cho có đủ mâm đủ bát. Bởi vậy chỉ cần những người biết
tuân thủ, vào ngồi cho có tính cách đại diện, nhiều khi chẳng cần ăn nói, phát
biểu hay thể hiện khả năng riêng tư nào khác.
Bởi vậy sự thể hiện tài năng riêng của hai loại đại
biểu như trên chỉ là thế. Loại đầu thì tuy là đại diện cho các vị trí địa
phương, nhưng họ phải làm việc cho quốc hội chung bằng tài năng riêng của mình.
Ý nghĩa năng lực quan trọng như vậy cho nên tính cách quan trọng của quốc hội
mọi mặt cũng là từ đó. Trái lại loại sau chỉ là đại biểu theo kiểu hình thức
thuần túy, tính cách tài năng riêng không cần thiết mà có khi còn cản trở sự
lãnh đạo chung của đảng. Thế nên ở các nước cộng sản chỉ có đảng mới quan
trọng, còn mọi cái khác chỉ đều hình thức cần phải có, ngay cả quốc hội cũng
vậy thôi. Sự khác nhau của hai thể chế chính trị như nói trên cuối cùng chỉ là
có thế.
NGÀN KHƠI
(11/4/16)
**
CHÍNH TRỊ VÀ THỰC TẾ XÃ HỘI
Mục đích của chính trị là nhằm cai quản xã hội theo
các nguyên tắc đúng đắn, khách quan, hiệu quả của nó. Nhu cầu này vốn đã có từ
thời thượng cổ của nhân loại. Thế nhưng chính trị lý tưởng và chính trị trong
thực tế lại luôn khác nhau một trời một vực. Cái lý tưởng không bao giờ được áp
dụng vào thực tế một cách đầy đủ và trung thực, chính ý nghĩa thực tế của chính
trị trong đời sống xã hội là như thế.
Bởi thế mọi chế độ chính trị trong lịch sử xã hội
loài người đều rồi đi qua, như phong kiến, quân chủ chuyên chế, rồi cuối cùng ý
nghĩa phát triển cao nhất là chế độ tự do dân chủ. Trong chế độ tự do dân chủ,
mọi con người đều bình đẳng trước pháp luật, và chính trị trở thành công cụ phổ
biến chung, khó có ai lạm dụng hay hay lợi dụng được riêng theo ý mình. Kết quả
tiến bộ nhất của giai đoạn này là như thế.
Thế nhưng học thuyết Mác lại phá bĩnh tất cả mọi
thành tựu đó. Ông ta cho rằng chính trị tự do dân chủ chỉ là chính trị của tư
sản, và chính trị của cộng sản phải là chính trị độc tài vô sản. Nhưng qua một
giai đoạn rùm beng mưa gió trên toàn thế giới, hiện tại học thuyết Mác đã bị
phá sản từ lâu và không còn ai căn cứ vào nó nữa.
Thế nhưng mọi xã hội đã từng kinh qua nó thì sự
quay lại với giá trị tự do dân chủ thật sự trong thực tế đều gặp rất nhiều khó
khăn, đó là do các hệ lụy của xã hội mác xít từ trước đó còn để lại. Thói quen
dùng cảm tính thay cho lý tính, thói quen dùng quyền lực cá nhân thay cho quyền
lực xã hội bởi di lụy của học thuyết độc tài vô sản của Mác còn rất nhiều khó
khăn mới loại bỏ được. Đây là sự thiệt hại chung cho các dân tộc đã bị du vào
đó, cho chân lý khách quan của nhân loại mà không phải của riêng ai.
Bởi quan điểm sai lầm của Mác về đảng vô sản lãnh
đạo trong thực tế không thể nào có được ý nghĩa khách quan, xác đáng. Ngược lại
nó chỉ thực chất làm mờ nhạt ý nghĩa của luật pháp khách quan, làm mờ nhạt ý
nghĩa của hiến pháp khách quan, bởi vì quyền lực của cá nhân nắm quyền, ý thức
và nhận thức độc đoán của cá nhân cũng như đảng nắm quyền nó luôn loại bỏ mọi
tính cách khách quan của pháp luật và của luật pháp thế thôi. Đối với cái trước
thì cái sau chỉ là công cụ sử dụng cho ích lợi của riêng mình không hơn không
kém. Chính trị lý tưởng và phát triển mà lịch sử nhân loại đã từng giành được
đã phải bị đầy lùi vào tình trạng thực tế tầm thường của xã hội con người tầm
thường thế thôi.
ĐẠI NGÀN
(11/4/15)
**
NON NGÀN says:
SUY
NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN
Ở
VIỆT NAM HIỆN TẠI
Người
cầm quyền hay nắm quyền là những người nắm trong tay quyền lực cao nhất của đất
nước, toàn dân hiện tại. Cầm quyền có thể gọi là lãnh đạo hay gọi là nắm quyền
thụ động do kết quả quán tính tự nhiên của xã hội mang lại.
Trong
cơ chế một nước cộng sản, khi chính quyền đã được lập nên do đảng CS đứng đầu
rồi, sự lãnh đạo chỉ được hiểu theo là tuân hành theo đường lỗi mácxít lêninnít
về mọi mặt đã có, và sự nắm quyền được hiểu như là sự chuyển quyền theo kiểu
quán tính đi lên trong chiều dọc, đó là điều ai cũng có thể nhìn ra được.
Như
mấy năm trước đây, sự lãnh đạo hay nắm quyền cao nhất được tiêu biểu qua ông
Nguyễn Minh Triết là chủ tịch nước lúc đó với câu nói nổi tiếng toàn thế giới
là Cuba ngủ Việt Nam thức và ngược lại để canh giữ cho hòa bình thế giới ! Bây
giờ thì ông Triết đã về vườn từ lâu và Cuba giờ này cũng đã hoàn toàn đổi
hướng.
Hay
như ông Trương Tấn Sang đã sáng ngời nhất trước cả nước là tiêu chí duy nhất
của ông ta là nêu cao đạo đức Hồ Chí Minh. Trong khi ông ta không nghĩ rằng đạo
đức và chính trị trong lịch sử có khi là hai khía cạnh hoàn toàn khác nhau. Vả
chăng lấy quá khứ buộc mãi vào hiện tại như thế đó cũng còn gì là tương lai
luôn luôn đi lên và phát triển của xã hội, của đất nước ?
Quả
nhiên trong lịch sử phát triển của mình, người cộng sản và đảng cộng sản luôn
không ngừng tạo nên những phong trào. Đó thường là những hoạt động cảm tính
thực tế mà không luôn hướng tới các chiều hướng trí tuệ thật sự khách quan hay
thiết yếu. Hình ảnh của ông Triết, ông Sang v.v… đều luôn là những con người
kiểu như thế. Chỉ trừ ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng gần mười năm, có được
cái là ông ta ít nói huênh hoang hơn các ông khác, kiểu ông ta theo cách thực
dụng kiểu cộng sản thế thôi. Giờ thì gió đã thổi ngược và ông ta đã ra đi rồi.
Giờ
quyền cao nhất chỉ có ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng bí thư đảng, cũng chỉ là lẽ
đương nhiên, vì nguyên tắc đảng CS lãnh đạo hay cầm quyền cao nhất. Hình ảnh
của ông Trọng là hình ảnh nguyên lý lý thuyết mà có người còn gọi là giáo điều.
Nói như thế chắc ông ta không đồng ý. Bởi vì ngày nay nói giáo điều là nói tới
điều gì thủ cựu và không còn hợp thời. Nên nói khác đi, ông ta là người cương
quyết đi theo định hướng cũ đã có, bởi vì ông ta thích như thế vậy thôi. Còn
chân lý hay ý nghĩa khách quan có hay không ở đây hay đối với xã hội lại là
chuyện khác.
Thôi
thì mọi sự lãnh đạo đất nước ngày nay nó vốn đã và đang diễn ra như thế. Nguyên
do đầu tiên của nó là ở học thuyết Mác. Mác đã chết từ lâu rồi, những người
theo Mác làm đúng giáo điều của Mác cũng đã chết hết từ lâu rồi từ Âu sang Á,
từ Tây sang Đông. Nên bây giờ mọi sự việc của đất nước Việt Nam cũng hay cứ để
những diễn tiến của lịch sử khách quan lèo lái hay phát triển lên để nhằm giải
quyết vậy thôi.
ĐẠI
NGÀN
(10/4/16)
(10/4/16)
**
THƯỢNG NGÀN says:
XÃ
HỘI VÀ TÍNH ĐẠO ĐỨC
Xã
hội bao trùm mọi cá nhân, xã hội như tính cách rộng lớn nhất, nên đạo đức xã
hội rõ ràng có chỗ đứng vượt trội lên mọi đạo đức cá nhân. Tuy thế đạo đức xã
hội được tạo nên bởi chính những đạo đức cá nhân mà không gì khác. Nếu phần lớn
đạo đức cá nhân tốt, đạo đức xã hội tốt. Nếu không thì ngược lại.
Đạo
đức cá nhân chủ yếu ở sự nhận thức và chiều hướng ý thức tốt. Những người có
trình độ hiểu biết hạn chế, những người có bản chất ý thức đạo đức không tốt,
không bao giờ hay không thể nào là những người có giá trị đạo đức đúng nghĩa.
Cái tốt đôi khi chỉ là nhất thời, còn cái không tốt mới là thường xuyên. Điều
này ngược hẳn lại với người luôn có phẩm tính đạo đức tốt.
Ý
thức đạo đức tựu trung lại là ý thức không muốn làm hại người và không muốn làm
hại xã hội. Ý thức này phần lớn được đào tạo qua rèn luyện, giáo dục, học hỏi,
và phần nào đó có khi do tự nhiên hay do bản chất bẩm sinh. Sự khác nhau giữa
người có phẩm chất, có học, và người thiếu cả hai ý nghĩa này là ở đây.
Người
có đạo đức thì luôn nghĩ đến điều tốt cho mình và cho mọi người. Người không có
đạo đức thì ngược lại, hoàn toàn chỉ chạy theo cái lợi cá nhân và ích kỷ. Cái
gọi là ý thức xã hội là cái bên trong, đôi khi hoàn toàn với cái được gọi là ý
thức xã hội chủ nghĩa hoàn toàn là cái bề ngoài, bên ngoài, nhiều khi chỉ là
thế.
Muốn
xây dựng một xã hội tốt là xây dựng ý thức bên trong, không phải xây dựng kiểu
ý thức giả tạo bề ngoài bằng cách tổ chức xã hội theo cách giáo điều hay theo
cách hệ thống chặt chẽ, gò bó, nô lệ, rập khuôn, giả dối nào đó. Một học
thuyết, những con người mang lại những điều tốt đẹp hoàn toàn tự nhiên, khách
quan cho xã hội, đó là những lý thuyết và những con người tốt. Ngược lại nếu
một học thuyết, những con người chỉ đem lại điều giả tạo, giả dối cho xã hội,
đó đều không phải là học thuyết tốt hay những con người tốt.
Nên
đạo đức nói tóm lại trước hết mang tính cá nhân rồi tiếp đến mới mang tính xã
hội. Cái trước là cái gốc, cái nền, cái sau là cái ngọn, cái kéo theo nhưng
không phải ngược lại. Sự hiểu sai về xã hội khách quan, sự hiểu sai về ý nghĩa
khoa học của xã hội, sự hiểu sai về bản chất con người, cuối cùng chạy theo
những ảo tưởng, ảo giác để gây ra những hệ lụy phi đạo đức đối với xã hội, đó
thực chất đều không phải là những ý nghĩa đạo đức mà là những điều gì hoàn toàn
phản ngược lại với đạo đức nói chung.
NON NGÀN
(10/4/16)
(10/4/16)
**
BIỂN NGÀN says:
DÂN
CHỦ VÀ Ý NGHĨA DÂN TRÍ
Dân
chủ là nguyên tắc, là quy luật xã hội thiết yếu. Nói nguyên tắc và quy luật là
nói điều gì khách quan, điều gì mang đến sự tốt đẹp cho mỗi cá nhân, cho mọi
người, hay cho toàn thể xã hội, cho đất nước.
Thế
nhưng phải những người có ý thức, có trình độ hiểu biết tạm ổn nào mới hiểu ra
được điều đó. Bởi nếu không người ta có thể coi dân chủ như pha, như cái xa lạ,
cái không cần thiết, thập chí còn hiểu nó như là cái chẳng ăn nhằm gì tới mình
hay là cái còn có hại cho mình nữa.
Mà
dân trí và trình độ dân trí luôn phải tính tới mặt bằng, tính tới số đông. Nếu
mặt bằng quá thấp, số đông quá ít để trở thành thiểu số, nhưng thế coi như
trong xã hội đó, đất nước đó trình độ đân trí quá thấp, quá ít, thì cũng chẳng
có gì đáng nói.
Bởi
thế không những trình độ dân trí quá thấp khó thể nào có tự do dân chủ đúng
nghĩa, mà không có tự do dân chủ đúng nghĩa lại càng khiến trình độ dân trí cứ
xuống thấp hơn, khiến cho có sự thủ tiêu trình độ dân trí không hơn không kém.
Bởi vì có tự do mới có dân trí, nó là quy luật cộng hợp và quy luật lan truyền.
Nếu không có tự do, dân trí bị khống chế nơi một số ít, không thể lan tải ra,
cuối cùng nó chỉ teo héo, cạn hẹp và tiêu tan mất.
Có
nghĩa dân trí và dân chủ cùng đòi hỏi và bổ sung, thiết yếu cho nhau. Không có
cái này cũng không có cái kia hay cả hai đều cùng kéo nhau đi xuống. Bởi vậy
mọi chế độ độc tài đều làm cho tình độ dân trí càng thấp kém, làm giá trị và ý
hướng cũng như ý nghĩa của dân chủ khó có thể có được nơi mọi người. Ý thức độc
tài do đó trở thành như một giá trị giả dối hay giả ảo, nó không những chỉ có
nơi một thiểu số nào đó có khả năng lũng đoàn toàn xã hội mà nó còn xuất hiện
nơi toàn dân như là một trạng thái tê liệt về sự hiểu biết cũng như về ý hướng
chính đáng hướng về dân chủ.
NGÀN KHƠI
(10/4/16)
(10/4/16)
**
NÓI VỀ Ý NIỆM GIẢI PHÓNG
Giải phóng thì ngược lại với tình trạng
nô lệ vốn có trước đó. Đối với mỗi cá nhân, với xã hội, hay cụ thể với một đất
nước cũng thế. Nô lệ là lệ thuộc ngoại cảnh, lệ thuộc người khác, lệ thuộc nước
ngoài, khiến không có sự tự chủ tự do riêng phải có của mình.
Giải phóng luôn đi theo với giải
phóng tinh thần và giải phóng vật chất. Giải phóng tinh thần là sự thoát ra mọi
sự lệ thuộc tinh thần nào đó, lệ thuộc ý thức hay sự hiểu biết nào đó của người
khác. Giải phóng vật chất là không lệ thuộc vật chất vào người khác, có tài sản
tư riêng cần thiết, đầy đủ để sống được đời sống tự chủ, tự lập của mình.
Khi Mác đề ra học thuyết chuyên
chính vô sản mà tự cho đó là sự giải phóng nhân loại, thật sự đó không phải giải
phóng mà sự nô lệ nhân loại. Bởi vì tất cả từ đó phải phụ thuộc vào tư duy của
Mác, không ai thoát ra được, không ai có mọi suy nghĩ độc lập tự do nào được.
Chuyên chính vô sản chỉ là kiểu làm ăn tập thể, bắt buộc cưỡng chế mọi người
như thế, toàn xã hội không thể nào thoát ly ra được. Kết quả là sự nghèo nàn về
vật chất và tinh thần, ý thức của mọi người, như vậy rõ ràng học thuyết Mác chỉ
nô lệ nhân loại mà không làm giải phóng nhân loại.
Lênin thực hành theo lý thuyết Mác,
chủ trương thủ tiêu chế độ kinh tế tự do tư hữu được phủ chụp chung là chế độ
tư bản chủ nghĩa. Ý thức của Lênin chỉ là ý thức tập thể, ý thức quần chúng, ý
thức hoạt động theo cách phong trào theo cảm tính thường xuyên. Như vậy cũng
không còn mọi tinh hoa trong xã hội, xã hội không phát triển theo chiều hướng
trí tuệ lên cao, chỉ phát triển theo chiều hướng hành động phong trào xoàng xỉnh,
giả tạo, chủ nghĩa ích kỷ cá nhân trở thành mặc chiếc áo giả tạo bên ngoài như
là chủ nghĩa xã hội hình thức. Tất cả đều đưa vào tổ chức, vào chung một giềng
mối do Lênin lãnh đạo, cầm quyền. Như vậy đó không hề là xã hội giải phóng mà
trở thành xã hội nô lệ theo cá nhân, theo đoàn nhóm, theo chính đảng riêng tư của
ông ta.
Tóm lại, mọi danh từ không là vấn đề,
chính ý nghĩa khách quan, trung thực của danh từ mà người ta phát ngôn ra mới
là vấn đề. Có nghĩa chỉ có một xã hội hoàn toàn dân chủ tự do đích thực mới là
xã hội giải phóng, vì mọi cá nhân trong đó đều được giải phóng. Trái lại xã hội
kiểu độc tài toàn trị mọi loại đều không phải xã hội giải phóng mà thực chất chỉ
là xã hội nô lệ. Đó là lý do tại sao nhà nước Xô Viết Liên Xô do Lênin lập ra trong
suốt 70 năm lấy ý thức vô sản được tự mệnh danh là của giai cấp vô sản trong sự
tưởng tượng làm để làm lý thuyết, cuối cùng bị chính Boris Yelsin giải phóng và
nước Nga đã qua lại lá cờ cũ của mình khi xưa và tồn tại khách quan kể từ ngày
đó đến nay. Kiểu như Mác hay Lênin thực chất chỉ là kiểu tư tưởng cực đoan, cảm
tính, không có chi là tư tưởng trí tuệ khách quan mà nhân loại luôn cần tới ở mọi
nơi và trong mọi thời đại. Sự hô lên đó là tư tưởng đỉnh cao của trí tuệ loài
người thực chất chỉ là giả dối và thái độ nô lệ bắt buộc để bị ép uổng phải giả
tạo phát ngôn lên trái với mọi ý nghĩa và giá trị khách quan như thế thôi.
Nhà tư duy THƯỢNG NGÀN
(10/4/16)
**
NHẬN THỨC VÀ SỰ THẬT
Sự thật là cái gì khách quan, xảy ra
theo ý nghĩa đúng của riêng nó, đó gọi là giá trị khách quan. Nhưng con người
biết hay không biết về cái khách quan, còn tùy trình độ nhận thức, hiểu biết,
còn tùy cả ý thức hiểu biết của mình. Khuynh hướng cảm tính là khuynh hướng của
người bình dân, ít học, thường dừng những sự hiểu biết ở thị hiếu, ở thói quen
nắm biết theo sự lệch lạc, riêng tư của mình. Khuynh hướng của người hiểu biết,
có nhận định, hay có khuynh hướng hướng về sự khách quan, đúng đắn, chính xác.
Cuộc chiến nào thật ra cũng do hai
bên cầm đầu đối chọi lại với nhau. Đó cũng là khuynh hướng chung của mọi đấu
tranh chính trị. Những quần chúng cấp dưới, nói chung đều là công cụ, là phương
tiện sử dụng của họ, lính thì chỉ đơn giản ra chết ngoài mặt trận, trừ khi nào
leo lên được tướng. Nhân dân thường đều chỉ là nạn nhân, theo bên này hay bên
kia là do hoàn cảnh, bó buộc khi không có sự lựa chọn chủ động. Nên chẳng ai là
anh hùng trong hoàn cảnh, trừ ra những người có may mắn hay có những phần số,
những định mạng đặc biệt.
Bởi thế sự thua thắng trên chiến trường
hay trong chính trị, chưa hẳn đã là tài năng mà còn tùy vào sự may mắn, tùy vào
hoàn cảnh, kể cả tùy sự gan lì, quyết đánh tới cùng, hi sinh tới bến, để địch
thủ cũng phải chùn bước, ngao ngán, buộc phải chịu thua vì phải đối mặt với
chính sách hoặc được cả hoặc ngã về không, và hiện tượng nhân loại này trong
hoàn cảnh trước đây, đã xảy ra khá nhiều nơi trên thế giới.
Kể từ khi xuất hiện học thuyết cộng
sản mác xít cho tới nay, sự hào nhoáng của nó làm nhiều người trên thế giới hấp
dẫn, và nhiều cuộc chiến tranh trước đây đã xảy ra một mất một còn cũng không
ngoài như thế. Tất nhiên có thể có nhiều người lợi dụng nó để thủ lợi riêng,
song cũng không phải không có người cả tin thật sự về nó. Phía bên chống lại
cũng bị phân hóa ra như thế, hoặc chỉ thụ động chống lại nó, hoặc cũng phải
ngoan cường chống lại nó bằng mọi cách.
Thế nhưng rồi cũng giống như hai đứa
trẻ đánh nhau chí chóe để giành giật riêng cho mình một món đồ gì đó mà chúng đắm
đuối say mê. Chỉ đến khi giành được rồi mà thấy món đồ không ý nghĩa gì cả,
không hay ho hay ích lợi gì cả thì mới bỏ đi thôi. Nhưng khi đó thì mọi sự đã rồi,
bời mọi cái hi sinh đã qua thì không lấy lại được và mọi cái di hại về sau cũng
còn lâu mới xóa hay loại bỏ đi được. Bởi vậy cũng chỉ như một cuộc chơi, cuộc
chơi ấu ó trong hiện tại khi những kẻ cùng dự phần đều còn sống. Nhưng khi cuộc
chơi qua rồi, tất cả họ cũng đều chết đi, chính trị trở thành quá khứ lịch sử,
và chỉ khi đó lịch sử mới phơi lộ ra mọi ý nghĩa khách quan của nó để mọi người
cùng nhận định và rút ra cho mình mọi điều kết luận riêng tư mình cần phải có.
DẶM NGÀN
(09/4/16)
MỤC LỤC NHỮNG BÀI PHÓNG
BÚT NGẮN,
CHỚP NHOÁNG TIẾP THEO (IX)
914.
BÊN THẮNG CUỘC VÀ BÊN THUA CUỘC
(13/4/16)
915.
CÁCH MẠNG VÀ SỰ CHUYỂN NGÂN PHI PHÁP
(13/4/16)
916.
CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN (13/4/16)
917.
TRIẾT HỌC LỊCH SỬ VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
(13/4/16)
918.
TỪ Ý NIỆM TỰ DO DÂN CHỦ ĐẾN Ý NIỆM
CHUYÊN CHÍNH
VÔ SẢN CỦA CÁC MÁC (13/4/16)
919.
HỌC THUYẾT MÁC LÀM NÔ LỆ
CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI HƠN AI HẾT
(13/4/16)
920.
ĐIỂM SƠ LẠI HỌC THUYẾT "ĐẤU TRANH
GIAI CẤP" CỦA
MÁC (13/4/16)
921.
LẠI NÓI VỀ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT
(13/4/16)
922.
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN (13/4/16)
923.
SỰ MINH BẠCH CỦA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI (12/4/16)
924.
CÁ NHÂN VÀ SỰ TỰ Ý THỨC (12/4/16)
925.
CHÍNH TRỊ GIA VÀ QUẦN CHÚNG (12/4/16)
926.
KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ CHÍNH TRỊ KHOA HỌC
(12/4/16)
927.
PHẢI THÔNG CẢM VỚI NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN
(11/4/16)
928.
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ Ý NIỆM ĐẠI DIỆN (11/4/16)
929.
CHÍNH TRỊ VÀ THỰC TẾ XÃ HỘI (11/4/15)
930.
SUY
NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM
HIỆN TẠI (10/4/16)
931.
XÃ
HỘI VÀ TÍNH ĐẠO ĐỨC (10/4/16)
932.
DÂN
CHỦ VÀ Ý NGHĨA DÂN TRÍ (10/4/16)
933.
NÓI VỀ Ý NIỆM GIẢI PHÓNG (10/4/16)
934.
NHẬN THỨC VÀ SỰ THẬT (09/4/16)
No comments :
Post a Comment