NHỮNG
BÀI PHÓNG BÚT DÀI,
CHỚP
NHOÁNG - [1]
**
NÓI VỀ GIAI CẤP XÃ HỘI VÀ PHÊ PHÁN
HỌC THUYẾT ĐẤU TRANH GIAI CẤP CỦA CÁC MÁC
Giai cấp xã hội thì từ xưa nay vẫn có,
nhưng nguồn gốc và cách giải quyết nó thế nào, cũng như có thể tiêu diệt nó
được không, và học thuyết đấu tranh giai cấp do Mác từng đưa ra thật sự có
chính xác hay khách quan không, là điều chúng ta sẽ thảo luận sau đây. Tuy
nhiên vấn đề này nhà học giả triết học nổi danh của Việt Nam trước đây, tiến sĩ
Trần Đức Thảo, dù suốt thời gian dài ông ta là người mác xít, nghiên cứu học
thuyết chủ nghĩa Mác khá bài bản và sâu xa vẫn chưa đặt ra cách đầy đủ, có lẽ
vì lúc đó ông Thảo cũng chỉ là người mác xít giáo điều, sách vở, và điều đó
thật sự cũng chẳng mang lại lợi ích cho ai cả, ngay cả bản thân của ông ta cũng
vậy. Gần như hầu cuộc đời của Thảo, ông ta chỉ xiển dương học thuyết biện chứng
duy vật, duy vật lịch sử, lý thuyết biện chứng luận của Mác, chỉ đến khi gần 90
tuổi, ông quay lại Pháp lúc quá già yếu sắp qua đời ông ta mới thừa nhận học
thuyết Mác là quá sai lầm. Ở đây chúng ta sẽ phân tích một cách khách quan,
khoa học cũng như sâu sắc các ý nghĩa này.
1/ Giai cấp xã hội là gì và tại sao có sự hiện diện của nó ?
Giai nghĩa là đều nhau, cấp là sự phân
tầng lớp, nghĩa chung là tầng lớp hay đẳng cấp phân biệt nhau của mọi người
trong xã hội. Có nghĩa là vị trí, sự giàu nghèo khác nhau của nhiều người xếp
thành những hạng loại. Điều đó cũng cho thấy ý niệm giai cấp không luôn luôn
thật chính xác, ranh giới khó khác định rõ ràng, không luôn luôn cứng nhắc mà
có thể biến chuyển, thay đổi, mỗi cá nhân trong đó cũng như loại dạng chung của
nó. Do vậy người ta chỉ phân thành những giai cấp chính trong xã hội nào đó.
Chẳng hạn ngày xưa ở nước ta là sĩ nông công thương, tức bốn loại dạng giai cấp
chính. Còn ngày nay ở các xã hội hiện thời, người ta thường phân ra giai cấp
chủ, giai cấp thợ, giai cấp doanh nhân, giai cấp những người công nhân lao
động, giai cấp những người làm dịch vụ, giai cấp những người làm hành chánh
v.v… Nói chung giai cấp chỉ là một phạm trù phân loại nào đó tùy vào nghề
nghiệp, hoạt động xã hội hay chuyên môn chẳng hạn. Đó thực chất trước hết chỉ
là do phân công lao động, sau là do sự khác biệt bởi nguồn gốc phân công lao
động đó kéo theo nhiều hệ quả khác nhau mà có. Như vậy có nghĩa là không bao giờ
có xã hội mà không có giai cấp, vì điều kiện và tính chất của mỗi cá nhân đều
khác nhau, không ai giống ai, năng lực hay hoàn cảnh cũng vậy. Chính mọi điều
kiện kinh tế và điều kiện xã hội tạo nên giai cấp. Khi hai yếu tố trước đổi
thay thì yếu tố sau cũng đổi thay. Tức giai cấp phụ thuộc vào lịch sử xã hội
mỗi giai đoạn cũng như phụ thuộc lịch sử mỗi cá nhân từng thời kỳ. Hay nói khác
luôn vẫn có những cái chung và những cái riêng trong các giai cấp và mỗi giai
cấp, hay giai cấp chỉ là ý niệm khái quát, biến chuyển, và tương đối. Nó mang
tính cách thực tế đồng thời cũng mang tính cách lịch sử của thực tế mỗi đơn vị
cấu thành nó khác nhau, đó là mỗi cá nhân con người cụ thể tùy theo hoàn cảnh.
Do vậy giai cấp cũng chỉ là một hình thức cấu trúc xã hội luôn luôn thích ứng
và biến đổi tự nó. Nó cũng giống như mọi sự vật, hay kể cả toàn xã hội, đều
luôn luôn phải có chính cấu trúc nội tại của nó. Không thể tưởng tượng vật thể
nào trong đời này mà không có cấu trúc, kể cả hạt nhân nguyên tử hay cơ thể
loài vật cũng thế. Không có cấu trúc cũng có nghĩa không thể có sự vật, một sự
vật không có cấu trúc bên trong chỉ hoàn toàn trừu tượng là vô lý vì không hiện
hữu cụ thể. Đấy ý nghĩa giai cấp cuối cùng thực sự hay thực chất chỉ là thế.
2/ Quan niệm về giai cấp và nguồn gốc hay cơ sở giải thích về giai cấp của
Mác.
Mác cho rằng xã hội cộng sản nguyên
thủy ban đầu là xã hội không có giai cấp. Chỉ khi xuất hiện tư hữu thì mới phân
chia thành giai cấp. Chính tư hữu là nguồn gốc gây nên giai cấp, gây nên bóc
lột, tạo ra mọi sự bất công, do đó muốn xóa giai cấp thì phải xóa tư hữu, xã
hội hoàn toàn vô sản, không có tài sản riêng nào cả, tất cả đều trở thành công
hữu, theo Mác đó là xã hội lý tưởng nhất, là đích điểm phải tới của xã hội cộng
sản tương lai mà Mác cho rằng đó là chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mác cho rằng
từ khi có tư hữu thì luôn phân thành giai cấp chính, giai cấp thống trị và giai
cấp bị trị. Hai giai cấp này cứ chuyển đổi qua lại trong suốt lịch sử qua các
cuộc biến đổi lật đổ nhưng vẫn lại tái diễn như vậy, vì hễ còn tư hữu là không
thể thoát ra cái vòng luẩn quẩn đó được. Đó là lý do tại sao Mác chủ trương
cuộc cách mạng vô sản tối hậu, tiêu diệt xã hội tư sản, xã hội tư bản, để thế
vào đó thời kỳ quá độ của cách mạng vô sản, của giai cấp công nhân công nghiệp.
Mác cho rằng sứ mạng giải phóng nhân loại là sứ mạng lịch sử của giai cấp công
nhân. Ông ta cũng cho nhà nước và pháp luật từ xưa đến này chỉ là sản phẩm của
giai cấp, nên khi xã hội không còn giai cấp nữa, nhà nước và pháp luật cũng tự
triệt tiêu, bởi không còn công dụng và ý nghĩa nữa, khi đó mọi người đều thiện
chí, tự giác lao động, khi đó mới là sự giải phóng xã hội thực sự, một xã hội
hoàn toàn không còn giai cấp nào cả, tức xã hội phi giai cấp. Quan điểm của Mác
quả là quan điểm không tưởng vì hoàn toàn không thực tế, nó đi ngược lại mọi
bản chất con người và đi ngược lại chính bản chất tự nhiên khách quan của xã
hội nói chung. Điều này chúng ta nói ở trên, sự vật phi cấu trúc cũng không còn
là sự vật cụ thể hiện thực nữa.
Chỉ có điều Mác chỉ nói tư hữu là
nguyên nhân và đầu mối của tất cả, nhưng ông không nói được tại sao phát sinh
là ý nghĩa tư hữu ban đầu, cũng như sự từ bỏ tư hữu về sau này phải chăng là sự
tự nguyên hay phải có sự cưỡng chế đối với tâm lý con người. Chính sự mù mờ và
sự thiếu rốt ráo trong mọi lý giải về giai cấp của Mác thật sự là ở đây. Có
nghĩa cách lý luận của Mác là kiểu lý luận đứt đoạn, ngắt đầu cắt đuôi nên
không thể hoàn chỉnh hay toàn diện. Sự thiển cận hay sự áp đặt trong lý luận
này của Mác chẳng qua ông cố làm cho lịch sử xã hội phù hợp với lý thuyết biện
chứng lịch sử mà ông ta đề ra. Đó là kiểu gọt chân cho vừa giầy, tính cách giả
tạo hay phản tự nhiên trong quan điểm giai cấp của Mác là như thế. Ngay cả khái
niệm cộng sản nguyên thủy của ông cũng khiên cưỡng, áp đặt. Bởi vì lúc đó chưa
xuất hiện tư hữu thì làm gì gọi là cộng sản. Lúc đó chỉ có thiên nhiên bên
ngoài và con người, có gì là tư hữu hay là cộng sản đâu, đó chỉ là xã hội loài
người nguyên thủy, ghim cho nó khái niệm cộng sản là sự cưỡng từ đoạt lý mà chính
Mác vấp phải hay ngụy tạo ra, điều này chính Trần Đức Thảo cũng đã chẳng bao
giờ nhận thức hay phân tích sâu sắc cả. Cho nên hầu hết mọi người mác xít khắp
nơi xưa kia cũng đều lập lờ ý nghĩa này, chỉ tin suông lời Mác nói mà không
phản biện hay suy xét ra sao cả. Mác cũng đánh giá sai về nhu cầu hay công năng
của nhà nước và pháp luật. Sự giải thích nguồn gốc luật pháp và nhà nước theo
kiểu Mác là nông cạn, hàm hồ, phiến diện, tùy tiện. Bởi nguồn gốc của nhà nước
và pháp luật là để chế ngự băn năng tự nhiên của con người, đưa vào trật tự phù
hợp để bảo đảm an ninh và an toàn chung của mọi cá thể thành viên trong đó.
Quan điểm của Mác rõ ràng là quan điểm vô chính phủ một cách hoàn toàn sai
trái, ảo tưởng, huyền hoặc và phi khoa học.
3/ Lý do nào mà Mác chủ trương đấu tranh giai cấp ?
Thật ra do Mác quá mê muội, mê tín,
hiểu nông cạn quan điểm biện chứng luận của Hegel nên mới chủ trương ý niệm đấu
tranh giai cấp. Hegel cho rằng lịch sử thế giới phát triển được là do tính phủ
nhận liên tiếp. Bởi tiền đề nào đó xác lập, nó liền thành tự phủ nhận nó trở
nên cái đối lập với nó là phản đề. Cái sau này cũng thế, tự phủ nhận nó, trở
thành cái hợp đề của hai yếu tố trước, và cứ tiếp tục như thế mãi. Có điều biện
chứng như vậy thì làm sao có chỗ dừng lại, và sự phân nhỏ như vậy hoài thì cuối
cùng yếu tố quyết định của nó là ở đâu. Điều này nhà triết học Hy lạp thời cổ
danh tiếng Zénon đã nói tới rồi khi lý luận là mũi tên bắn ra không hề bay đi,
con rùa không thể vận động, vì sự vật không thể tiếp tục chia nhỏ mãi. Tuy dầu
lý luận này của Zenon có vẻ ngụy biện, nhưng thật ra nó lại hàm chứa sâu xa một
ý nghĩa nào đó nơi các sự vật, đó cũng là quan điểm cái toàn thể bất biến do
nhà triết học thời danh cổ Hy lạp là Parménide đưa ra. Vả chăng phép biện chứng
trong Hegel có nền tảng duy tâm, nó là phép biện chứng duy tâm. Mác đem nó biến
thành duy vật, chỉ là chuyện nọ xọ chuyện kia một cách phi cơ sở và vô lý,
chuyện đem râu ông cắm cằm bà vừa ngây thơ, phi lý, vừa lố bịch và phản hiệu
quả, kết quả. Nói chung Mác hiểu biện chứng luận Hegel một cách nhếch nhác, lạm
dụng, lợi dụng, bất chấp, không cần hợp lý, chỉ mang tính cượng ép, giả tạo,
phi cơ sở, phi bản chất, tức hoàn toàn nghịch lý và phi lý.
Bởi Hegel đề ra nguyên lý trừu tượng
của biện chứng là sự phủ định của phủ định, Mác cũng bê nguyên như thế cho rằng
xã hội tư hữu là phản đề của xã hội cộng sản nguyên thủy, do đó xã hội tư bản
cũng nhất thiết bị phủ nhận, tiêu diệt bởi xã hội cộng sản khoa học. Mác cho đó
là điều xã hội tư bản tự đào mồ chôn mình và chắc chắn xã hội cộng sản sẽ chiến
thắng sau cùng. Đó cũng là điều mà Lênin cho rằng chủ nghĩa đế quốc là giai
đoạn tột cùng của xã hội tư bản chủ nghĩa, là đêm trước của chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản. Bởi thế học thuyết Mác làm sao mà không hấp dẫn được những
người cộng sản trên khắp thế giới trong non một thế kỷ cho đến khi Liên Xô sụp
đổ và hoàn toàn tan rã. Chính lý luận ngụy biện đôi khi vẫn rất thuyết phục
được nhiều người có hiểu biêt và khả năng lý luận hạn chế là như thế. Ta thử
hỏi hòn đá có bao giờ tự phủ đinh tích cực được nó để thành cái gì khác nó, bởi
nó luôn chỉ là vật chất trơ lì. Chỉ điều đó thôi cũng chứng tỏ học thuyết duy
vật biện chứng của Mác là nông cạn và sai lầm. Ngay như hạt cây, nếu đem nấu
chin, cũng hết khả năng tự phủ định nó để mọc lên cái cây. Mà sự sống là cái gì
trừu tượng, đâu còn là vật chất thô. Nên quan điểm của Ănghen cho rằng óc não
tiết ra tinh thần, ý thức cũng giống như gan tiết ra mật, quả thật ấu trĩ và
nông cạn quá mức, thế mà người ta cũng đem dạy cho lớp trẻ trong đại học ở nước
ta suốt gần thế kỷ nay. Thế mới biết sự bé cái lầm và sự chuềnh choàng trong
giáo dục, sự vô ý thức, vô trách nhiệm, phi khoa học, phản khoa học trong giáo
dục là như thế.
Từ quan điểm biện chứng duy vật thô
lổ, Mác cũng nâng cấp lên thành biện chứng lịch sử, bào rằng xã hội từ xưa nay
là xã hội đấu tranh giai cấp, vì đấu tranh của hai mặt đối lập, cuối cùng tư
bản và cộng sản mâu thuẫn nhau nên tư bản phải bị tiêu diệt. Nhưng cái gì làm
tư bản tự tiêu diệt thì đó chỉ là niềm tin của Mác vào phép biện chứng trừu
tượng, máy móc như đã nói mà không có cơ sở khách quan khoa học cụ thể, xác
định nào cả. Thật ra giai cấp công nhân ban đầu hình thành là do sự phát sinh
của nền công kỹ nghệ ở châu Âu lúc đó. Mà phát sinh công kỹ nghệ là do khoa học
kỹ thuật phát triển, do trí tuệ các nhà khoa học khám phá các quy luật từ thiên
nhiên. Và cũng chính các doanh nhân áp dụng các thành quả đó vào sản xuất trong
các xí nghiệp nhà máy. Giai cấp công nhân đâu có tự hình thành nếu không có
những yếu tố đó. Nên thần thánh hóa giai cấp công nhân như có sứ mạng giải
phóng lịch sử nhân loại, thật là sự hoang tưởng hết sức phi lý của Mác. Bởi vì
giai cấp công nhân cũng con người như người khác, cũng có bản năng, cũng có
hoàn cảnh nhất định thế thôi. Giai cấp công nhân lúc đầu quá nghèo khổ là do
nền sản xuât tư bản chủ nghĩa còn quá phôi thai, phải cần tích lũy để đầu tư và
tái đầu tư mở rộng, và sản phẩm cuối cùng cũng vào toàn xã hội, đáp ứng cho
toàn nhu cầu xã hội. Làm thế nào mà chia đều sản phẩm ra hết kiểu cộng sản như
Mác muốn. Có nghĩa Mác chẳng hiểu gì về tâm lý học, về xã hội học, về kinh tế
học một cách cơ bản cả, nên chỉ nói càn đùa theo cảm tính, bất chấp khách quan
và cơ sở. Cụ thể ngày nay khoa học tiến bộ vượt trội, máy móc tự động hóa dần
dần thay thế cho sức người mọi mặt, thế thì ý nghĩa của giai cấp công nhân như
Mác quan niệm là như thế nào. Bởi vì cuối cùng chỉ ý niệm chung con người là
quan trọng nhất. Một nhà nước hiệu quả là nhà nước biết điều hòa giai câp, điều
chỉnh phúc lợi chung của xã hội, đâu nhất thiết phải là nhà nước của giai cấp
nào riêng biệt. Và nếu danh nghĩa như thế liệu có phải chỉ là sự nhân danh, sự
đội lốt, sự lợi dụng mà chắc gì là nhà nước của giai câp như ngôn ngữ bề ngoài.
Ý nghĩa chính trị của Mác ở đây quả thật cũng yếu kém chẳng khác gì ý nghĩa
triết học hay ý nghĩa khoa học kinh tế, xã hội cũng như lịch sử cả.
Thật ra trong xã hội luôn luôn có sự
đấu tranh của mọi cá thể con người, đó mới là cái cụ thể, còn giai cấp chỉ là
khái niệm trừu tượng. Quy luật sinh tồn, quy luật phát triển, quy luật bản
năng, quy luật cơ chế xã hội, đó đều là những ý nghĩa mà mọi cá nhân cụ thể
phải luôn đấu tranh nhau khi cần thiết. Nhưng xã hội loài người thực chất không
phải chỉ có đấu tranh loại trừ, mà đôi lúc còn có đấu tranh phát triển và xây
dựng, không phải chỉ có đấu tranh kinh tế hay vật chất mà cũng còn đấu tranh ý
thức, tinh thần vì những giá trị chính đáng, cao cả. Không thể chỉ có nguyên
tắc đấu tranh sinh tồn hoàn toàn thô thiển, mà ngay trong thế giới loài vật
cũng còn sự cộng sinh, sự hỗ tương nhau, nhất là trong xã hội con người còn có
văn minh, văn hóa. Nên lý thuyết đấu tranh giai cấp của Mác chỉ kéo con người
về kiểu hoang dã, đi ngược lại lịch sử phát triển, nó mang cả tính phản động mà
không phải cách mạng theo cách giải thích của Mác. Đó chính là điều mà các kiểu
đấu tố trong cải cách ruộng đất trước kia tỏ ra vô nhân đạo, phi nhân văn do từ
sự căn cứ ở nguyên lý đấu tranh giai cấp sai lầm của Mác. Như vậy đấu tranh
giai cấp của Mác thực chất chỉ là một quan điểm không thực tế, một quan niệm
huyễn hoặc. Bởi đấu tranh nhau chỉ có thể là những sự vật cụ thể, trong tình
trạng chúng cọ xát nhau, để cái được và cái mất như thế nào đó, như hai viên đá
đập nhau, hai con người choảng nhau, hai con vật cắn nhau chẳng hạn. Đằng này giai
cấp không có ranh giới xác định cụ thể, chỉ là khái niệm do sự khái quát hóa
của con người mà có, vậy mà nói đấu tranh giai cấp theo kiểu cụ thể, chính xác
là nói dối, nói kiểu hoang đường và tự bịa vì mê tín vào biện chứng luận. Tính
phản thực tế của Mác ở đây chính là như thế.
Cho nên trong thực tế chắc chắn không
ai tin vào đấu tranh giai cấp, vì nó không thiết thực, không cụ thể. Mà Mác đưa
ra đấu tranh giai cấp cũng không chỉ thuần túy là đấu tranh giữa những người
giàu, người nghèo, người vô sản, người hữu sản nào đó, mà nó đặt nền tảng trừu
tượng trên ý niệm triết học là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập để giải quyết
đi đến cái tổng đề là xã hội không giai cấp. Nhưng người bình dân thông thường
đâu thể quan niệm gì về điều đó, nên trong thực tế xảy ra sự quay về với bản
năng hoang dã của một số người, do tính đố kỵ, ganh ghét kiểu hạ đẳng, phi nhân
cách, văn hóa mà người lương thiện đích thực thì không bao giờ làm. Nên trong
thực tế, cải cách ruộng đất ra xảy ra như thế, là sự tuyên truyền giả tạ, gian
dối hay sự cưỡng ép bằng bạo lực để lôi kéo một số kẻ nòng cốt thực hiện. Kết
quả là bao sự dã man tàn ác tập thể chưa hề có đã xảy ra. Ở Trung Quốc gần 10
triệu người là nạn nhân của điều đó, còn con số ở Việt Nam lúc ấy là non 200
ngàn người bị bạo hành và giết chết cách dã man, phi lý. Điều này hoàn toàn
khác với chính sách người cày có ruộng xảy ra êm thắm ở miền Nam Việt Nam vào
cùng giai đoạn. Vì nhà nước chỉ cần mua lại theo giá rẻ với định mức phù hợp
của người giàu nhằm điều tiết lại cho người nghèo thế thôi. Chỉ bằng biện pháp
pháp lý, hành chánh, sự hiểu biết, không bằng kiểu mê tín, cuồng tín và tướt
đoạt hay khủng bố trắng. Đó thật sự là vết nhơ trong học thuyết Mác, nó chỉ
chứng tỏ một quan điểm chính trị phi nhân văn, phi văn hóa, hoàn toàn phi khoa
học và phi lịch sử. Nó chỉ là sự xách động và áp dụng sai trái vì mê tín, vì
cuồng tín của những kẻ kém nhận thức về mọi mặt. Tính cách hoang dã, ngờ
nghệch, mê tín lẫn dã man trong lý thuyết đấu tranh giai cấp của học thuyết Mác
hoàn toàn chỉ là vậy. Nhưng trước kia những người Việt Nam chủ trương đấu tranh
giai cấp thực chất đâu có hiểu gì điều uẩn khúc sâu xa đó trong học thuyết Mác,
chẳng qua chỉ làm theo bài bản đã có của Liên Xô, Trung Quốc thế thôi. Quả thật
tính mù quáng của học thuyết Mác luôn xảy ra thế đó.
4/
Ý niệm hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc mơ hồ của Mác.
Nhưng ngoài cái cốt lõi đầu tiên trong
học thuyết Mác là đấu tranh giai cấp, cái cốt lõi thứ hai là quan niệm hạ tầng
cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Theo ông ta chính yếu tố đầu tiên tạo nên yếu
tố tứ hai mà không đâu khác. Ông ta cho rằng kinh tế là nền tảng duy nhất trong
xã hội, trong bản thân kinh tế đó, đấu tranh giai cấp là cốt lõi quyết định,
toàn thể những cái đó được Mác gọi là hạ tầng cơ sở, và kết quả từ đó đưa lại
được Mác gọi chung là thượng tầng kiến trúc của xã hội, bao gồm toàn bộ mọi
khía cạnh của đời sống tinh thần con người như chính trị, luật pháp, văn hóa,
tôn giáo, nghệ thuật nói chung. Mác gôm toàn thể những thực tế đo vào một phạm
trù nhận thức duy nhất được phong là ý hệ hay ý thức hệ. Và đó chính là ý thức
hệ cộng sản, có nghĩa Mác cho rằng phải tuyệt đối tiêu diệt mọi ý thức hệ tư
sản cũ để thay thế vào đó ý thức hệ vô sản, ý thức hệ cộng sản toàn diện mà Mác
chủ trương. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì Mác là người duy vật thuần túy, không
tin ý nghĩa nào ngoài ý nghĩa vật chất, nên theo ông thượng tầng kiến trúc cũng
chỉ là ý nghĩa vật chất đã được thăng hoa hóa từ vật chất nền tảng là kinh tế.
Đó là học thuyết kinh tế xã hội chính trị của Mác. Mác chỉ tin và chỉ mặc nhiên
khẳng định như thế mà không hề giải thích tại sao hạ tầng cơ sở lại biến hóa
được thành thượng tầng kiến trúc, bằng cách nào và con đường thế nào. Nên nói
chung học thuyết Mác phần lớn chỉ là ức đoán. Mác không tin mọi ý nghĩa hay giá
trị tinh thần nào trong đời này, nên ông ta hoàn toàn tuyệt đối duy vật vô
thần, bởi vậy ông cũng từng bảo tôn giáo chỉ là thuốc phiện ru ngũ quần chúng,
nó chỉ là mặt trời hay đám mây ảo tưởng do những người nghèo khổ tạo ra, là hậu
quả tất yếu như niềm an ủi tưởng tượng xoay quanh hạt nhân cốt lõi là hạ tầng
cơ sở. Tôn giáo theo ông là niềm hạnh phúc bị đánh lừa từ nước mắt và sự khổ
đau ở trong hạ tầng cơ sở. Nhưng Mác không nghĩ tới một điều từ vật chất thô
lậu chai ì cụ thể làm sao lại biến thái thành ý thức tinh thần hoàn toàn vô
hình trừu tượng nơi óc não con người. Ănghen nói nói điều đó cũng chẳng khác gì
gan tiết ra mật ! Thật là cái nhìn thô thiển và sơ đẳng theo cách ức đoán thuần
túy mà không gì hơn như thế. Dĩ nhiên kinh tế luôn luôn là căn bản của đời
sống, điều đó đứa trẻ cũng biết. Nhưng kinh tế giúp thân xác tồn tại và phát
triển, đó là yếu tố của ý thức tinh thần. Hai thực thể đó liên kết nhau một
cách luôn luôn thống nhất, nhưng không vì thế mà giản lược tuyệt đối cái này
vào cái kia, đồng hóa cái này hoàn toàn vào cái kia như sự suy nghĩ và lý thuận
hết sức nông cạn, thô thiển của Mác. Ngay đến giai đoạn khoa học hiện đại ngày
nay của thế kỷ 21, mối quan hệ của tinh thần và ý thức trừu tượng với não bộ cụ
thể nơi con người cũng là điều chưa thể nào biết hết hay ngay cả không bao giờ
biết hết, vậy mà Mác từng đã đi đến các kết luận hết sức ấu trĩ, trẻ con của
mình theo cách hoàn toàn áp đặt duy chủ quan và duy ý chí một cách hoàn toàn
hời hợt, nông cạn và sai trái. Nên học thuyết duy vật của Mác chỉ là học thuyết
hoàn toàn thô thiển, thấp kém, cũng như Mác cho rằng mọi định chế xã hội, mọi ý
thức xã hội, mọi tinh hoa nơi tinh thần ý thức cá nhân con người, đều chỉ là
thượng tầng kiến trúc thoát thai từ hạ tầng cơ sở vật chất và kinh tê thuần túy
thì thật hết sức nguy hiểm vì nó hạ thấp mọi giá trị và ý nghĩa của xã hội nhân
văn lẫn con người văn minh văn hóa mà mọi người phần lớn đều không để ý. Tức
Mác tầm thường hóa hết mọi ý nghĩa và giá trị tinh thần của con người và xã
hội, thế mà tự mệnh danh là học thuyết nhân bản, học thuyết giải phóng giai
cấp, giải phóng loài người là điều hoàn toàn nghịch lý không thể nào quan niệm
được.
5/ Ý nghĩa của khái niệm chuyên chính vô sản trong học thuyết Mác.
Như đã thấy, từ ý niệm đấu tranh giai
cấp, Mác cũng chuyển sang ý niệm chuyên chính giai cấp hay độc tài vô sản. Tất
nhiên cuối đời mình Mác có xét lại và phủ nhận ý nghĩa này, nhưng đã trễ quá
rồi, ván đã đóng thuyền rồi, nếp đã nấu thành xôi rồi, nên nó chỉ hoàn toàn vô
ích vì đã bén rễ thâm sâu theo cách hiểu này hay cách hiểu khác trong đầu óc
mọi người cộng sản mác xít về sau. Đó chính là điều mà nhà thơ cộng sản nổi
tiếng một thời là Tố Hữu từng viết “mặt trời chân lý chiếu qua tim, hồn ta là
cả hồn hoa lá, dào dạt trong lòng và rộn tiếng chim”. Đấy nguồn gốc mơ mộng
trong Tố Hữu là như thế đấy, mặc dầu có thể ông ta chỉ cảm nhận ở mặt nào đó về
học thuyết Mác mà thực tế chắc chắn không thể nào hiểu sâu xa hết được mọi điều
của nó. Bởi vì Mác tự phong cho giai cấp công nhân vô sản như ông hiểu có sứ
mạng lịch sử dẫn đến xã hội cộng sản lý tưởng mà ông quan niệm, cho nên ông chủ
trương sự độc tài chuyên chính của giai cấp này là hoàn toàn cần thiết để làm
được điều đó sao cho đạt kết quả. Tức ông thiết lập giai cấp công nhân đó trở
thành một đường ống thép không bao giờ rĩ để bắt cả dòng lịch sử loài người
phải tuồng vào đó mà chạy mãi đến xã hội cộng sản không tưởng mà ông ta mong
muốn. Ông cho đó là quy luật tất yếu của lịch sử mà những người cộng sản sau
này vẫn thường nói đến. Tức là sự điều khiển hay lãnh đạo toàn diện từ A đến Z
hoàn toàn về mọi mặt, bằng vũ lực và bằng độc đoán, từ kinh tế hành chánh bao
cấp, cho đến tinh thần trí tuệ và tư duy tư tưởng, nguyện vọng hay mong muốn,
sở thích của mọi con người. Đó là nền kinh tế kế hoạch hóa, và sự chuyên chính
cả trong văn hóa nghệ thuật, học thuật mọi loại, mọi mặt như Liên Xô và Trung
Quốc từng áp dụng mà ai cũng biết. Nên bất kỳ ai có ý kiến hay suy nghĩ khác đi
đều bị quy chụp là phản động, là phản cách mạng, là xét lại, hay ngày nay kêu
là bọn diễn tiến hòa bình, tức chỉ có cuồng tín một chiều mà không ai tự phản
biện nếu kiểu đó thì chính học thuyết Mác có trở thành phản động thực sự vì
phản phát triển và tiến hóa khách quan tự nhiên hay không.
Mác không hề thấy được rằng giai cấp
công nhân vô sản đầu tiên trong xã hội tư bản ở thời kỳ sơ khai ban đầu cũng
chỉ là số ít. Nhưng dầu có tăng lên theo đà phát triển của tư bản thì dần dần
thu nhập của họ hay tiền lương của họ cũng phải tăng lên, bởi xã hội hay nhà
nước cũng phải can thiệp vào cho phải lẽ công bằng tương đối. Hơn thế quy luật
thị trường lao động tự nó cũng phải tự dần dần điều chỉnh. Đó là cơ chế tự động
khách quan của xã hội cũng như ý chí điều hòa trong nhiệm vụ của pháp luật và
nhà nước. Có nghĩa xã hội tư bản không dại gì để nó tự đào thải, vả chăng nó
cũng chỉ là bộ phận trong lòng xã hội nói chung, bị chi phối bởi quy luật phát
triển và tiến bộ nói chung của mọi con người trong toàn xã hội. Hơn thế nữa mọi
sản phẩm do công nhân làm ra không phải cho riêng nhà tư bản mà là chung cho
toàn xã hội, và sản phẩm đó khi phong phú lên thì mọi người công nhân cũng đều
được hưởng. Bởi vậy thuyết giá trị thặng dư của Mác chỉ là phiến diện, nông cạn
và ngờ nghệch. Bởi vì khi xuất tư bản ra để đầu tư sản xuất trong lãnh vực hay
phương diện nào đó, nhà tư bản luôn phải hành xử theo quy luật kinh tế khách
quan, tức quy luật tài chánh, quy luật giá cả, quy luật tiền tệ, quy luật hàng
hóa, quy luật năng suất đầu ra và quy luật lợi nhuận đầu vào, quy luật tổ chức
và sắp xếp lao động v.v… không phải làm ra bao nhiêu thì ăn hết bấy nhiêu, chia
đồng đều hết bấy nhiêu, mà buộc phải tái đầu tư sản xuất, buộc phải mở rộng sản
xuất liên tục không ngừng, nếu không sẽ rơi vào nguy cơ phá sản và không tồn
tại. Nhưng sự thụ hưởng của nhà tư bản về mặt thực phẩm hàng ngày nhiều lắm
cũng chỉ gấp đôi, gấp ba người công nhân về mặt số lượng và chất lượng, không
thể thừa thải quá nhiều vì đó là quy luật khách quan của tâm sinh lý học của
con người. Còn hưởng thụ các tiện ích cùng dịch vụ cơ bản khác cũng thế. Nhiều
lắm là gấp mười hay gấp trăm mỗi người công nhân đối với bản thân cá nhân họ,
song cũng không thể vượt qua những ngưỡng tối đa nào đó, bởi đó là quy luật về
thỏa mãn nhu cầu tự nhiên của cá nhân và xã hội, nó phải theo tính khách quan
nào đó mà không thể chỉ hoàn toàn chủ quan. Và chăng điều đó cũng còn để thỏa
đáp các tài năng, công sức bỏ ra trong kinh doanh, cũng như tạo mọi điều kiện
thiết yếu cho hoạt động hiệu quả của họ. Đó là chưa nói họ cũng phải cạnh tranh
nhau để tồn tại và phát triển, và mọi kết quả đó cũng đều có lợi chung cho toàn
xã hội. Nên lý thuyết giá trị thặng dư của Mác từng một thời được huênh hoang,
đưa lên như tinh túy của học thuyết Mác, con tim và trí tuệ của học thuyết Mác,
thực chất nó chỉ được nhìn trong khía cạnh vi mô về kinh tế học một cách ấu trĩ
và cạn hẹp, không nhìn được trong tầm vĩ mô của toàn nền kinh tế trong xã hội
cũng như trong lịch sử phát triển đi lên của toàn thể loài người. Bởi vì xã hội
phát triển, khoa học kỹ thuật cũng phát triển, bằng chứng là ngày nay máy móc
tự động cũng dần dần thay thế cho người lao động, giai cấp công nhân không tăng
lên vô hạn như Mác hoang tưởng mà sẽ dần dần bớt đi vì được các máy móc thông
minh thay vào, như các loại rô bốt, loại người máy ngày nay ở khắp nơi các nước
tiên tiến mà ai cũng thấy. Thế thì cái gọi là “sứ mạng lịch sử” của “giai cấp
công nhân” sẽ đi về đâu, độc tài vô sản sẽ đi về đâu, hoàn toàn trở thành một
sự lố bịch ngây thơ thơ và tai hại trong học tuyết Mác. Mặt khác, đó là chưa
nói chuyên chính đã chắc gì là chuyên chính của giai cấp công nhân, mà có biết
bao những kẻ cơ hội, nhưng kẻ đầu cơ chính trị, những kẻ hoạt đầu mọi loại sẽ
dần dần thay thế vào đó bằng mọi cách để thủ lợi, để nhân danh giai cấp công
nhân, lợi dụng giai cấp công nhân đích thực về mặt hình thức thì làm sao tránh
khỏi, vì đó chỉ là tâm lý tất yếu của các cá nhân hay thậm chí của phần đông
trong xã hội mà thôi. Như vậy rõ ràng mọi sự hiểu biết của Mác trong nhiều mặt
thật hết sức nông cạn, ngầy thơ và kém cõi. Mác không thấy rằng chính sự phát
triển chủ yếu của khoa học kỹ thuật, kể cả của văn minh văn hóa nhân loại là
yếu tố để giải phóng giai cấp, hòa hợp giai cấp, dung hòa giai cấp, xã hội hóa
giai cấp, văn hóa hóa giai cấp, trí thức hóa giai cấp, mà không phải sự đấu
tranh giai cấp theo cách mù mờ, ấu trĩ, mê tín, tàn bạo, bế tắt, phá hoại và
nguy hiểm mà chính Mác đã đưa ra. Chính học thuyết Mác là học thuyết tầm thường
hóa chính trị, tầm thường hóa xã hội, tầm thương hóa nhân văn, tầm thường hóa
văn minh và văn hóa, tầm thường hóa trí tuệ, tinh thần, ý thức, cả nguyện vọng
và mục đích sống của con người mà ít ai nhận ra được. Bởi mọi cá nhân không còn
tự do dân chủ thực chất nữa, nhưng đã trở thành công cụ chung cho một thiểu số
nào đó nhân danh chuyên chính của đấu tranh giai cấp chi phối, khống chế và lạm
dụng. Có nghĩa mọi tinh thần, ý thức, giá trị khách quan, tự chủ của họ đều bị
lợi dụng và huyễn hoặc, bị tướt đoạt mà họ không còn là họ một cách hồn nhiên,
trong sáng hay cao quý gì nữa. Sự xuống cấp về nhân phẩm nhiều mặt cũng bắt đầu
từ đó, khiến mọi người đều sống đóng kịch, đóng vai giả tạo và giả dối một cách
thường xuyên và liên tục do hậu quả của chuyên chính mang lại. Nếu không thế
thì phải bị cải tạo, bị tẩy não như chính sách của Mao Trạch Đông và Khmer đỏ
từng áp dụng một cách mạnh mẽ và dã man nhất. Tất cả mọi điều đó nếu không phải
do quan niệm dấu tranh giai cấp si trái phi khoa học, phản khoa học, huyễn hoặc
và mê tín đã do học thuyết Mac chủ trương thì có thể do đâu. Tức Mác đã dẫm bừa
lên mọi truyền thống, mọi văn hóa văn minh đã có trong lịch sử xã hội loài
người, muốn tiêu hủy, xóa tan mọi định chế xã hội từng bảo tồn, tiến hóa, phát
triển qua hàng nhiều ngàn năm của xã hội loài người để nhằm xóa bài làm lại
toàn diện và tận gốc theo sự chủ quan, dốt nát và phê tín, mê muội của mình rồi
tự mệnh danh là lý thuyết cách mạng sâu xa, mạnh mẽ, toàn diện, vĩ đại nhất từ
trước đến nay. Đúng là quan điểm phản tiến hóa, phản nhân văn, phản xã hội,
phản lịch sử, phản tiến bộ và phát triển mà lại tự mệnh danh bằng các mỹ từ
hoàn toàn thiếu cơ sở và ngược lại, đó chính là sự ngang trái và sự hẩm hiu mà
chính toàn bộ hệ thống học thuyết ý thức hệ giả tạo của Mác đã mang lại. Nên sự
sụp đổ của nó ở Liên Xô và những nước gọi là xã hội chủ nghia cũ trước đây đều
hoàn toàn khách yếu khách quan, chẳng có gì giả tạo hay do nguyên nhân bên
ngoài nào quyết định cả. Bởi cá nhân hay nhóm người đều có thể sai lầm trong
những hoàn cảnh, điều kiện, giai đoạn nào đó, nhưng toàn thể xã hội, toàn thể
nhân loại, toàn thể lịch sử không bao giờ sai lầm một cách lâu dài hay vĩnh
viễn cả.
Nói chung lại, hệ thống học thuyết của
Mác, nếu đem ra phân tích trên cơ sở khoa học và khách quan thì mọi nhược điểm,
mọi khuyết điểm, mọi sai lầm theo dạng tiêu cực của nó không thể nào nói hết.
Còn việc đánh động những mặt trái của kinh tế tư bản thời kỳ hoang dã thì có
nhiều nhà lý thuyết trước Mác đã nói nhiều rồi, không phải đợi đến Mác. Nhưng
họ nói là để uốn nắn lại, để phát triển lên, để bổ sung, sửa đổi, chỉnh đốn, để
hoàn thiện sao cho tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn theo đà phát triển. Đằng này chủ
trương của Mác lại hoàn toàn khác. Mác hình như tiềm ẩn một ác cảm với xã hội
cũ hay xã hội nói chung, nên để làm thỏa mãn điều đó, ông ta muốn xóa bài làm
lại tất cả theo kiểu mê tín và phiêu lưu của mình. Đó là cuộc cách mạng không
tưởng, không phải để cải tạo, hoàn thiện mà dẹp bỏ, xóa bỏ, tiêu diệt hết thảy
nhằm xóa bài làm lại mọi sự. Nhưng đó thực tế cho thấy dù bao phí phạm mà nhân
loại bỏ ra trong thời gian dài về mọi mặt cuối cùng cũng chỉ dã tràng xa cát. Bởi
vì khách quan lịch sử chỉ có một con đương đi lên duy nhất tối hảo không thể có
con đường thứ hai. Đó là lý do tại sao mọi xã hội phong kiến Á đông cũ đều phải
thất bại trước trào lưu phát triển đi lên chúng của toàn thế giới. Nước ta thời
Nguyễn là một ví dụ đau xót như thế. Trong khi đó Nhật bản nhờ biết duy tân
sớm, biết phát triển sớm, đi đúng vào yêu cầu phát triển của thế giới nên không
bị một nước cường quốc nào của phương Tây đô hộ cả, nhưng tự họ đã vươn lên
thành một cường quốc đầy thực lực chẳng thua gì bất kỳ những nước nào phương
Tây cả cho đến nay. Có nghĩa mọi con đường sai lầm đều dẫn tới kết quả sai lầm
của mục đích, cũng như mọi mục đích sai lầm đều chỉ dẫn đến những kết quả sai
lầm. Đó chính là con đường sai lầm của chủ thuyết Mác, mục đích sai lầm của chủ
nghĩa Mác qua đấu tranh giai cấp, qua chuyên chính vô sản mà Mác đã chủ trương.
Cho nên cái gọi là thời kỳ quá độ của Mác thực chất là con đường cụt không có
lối ra. Bởi vì mọi vật đã gọi là quán tính rồi thì không thể nào tự thay đổi chính
nó nữa. Đã chuyên chính tốt đẹp cho lợi lộc bản thân mình thì không ai tự từ bỏ
cả, mà trái lại phải tìm mọi phương thức để củng cố thêm cho nó, kéo dài nó
mãi, không bao giờ ngừng lại hay bỏ đi, đó là ảo tưởng của Mác khi cho rằng
chuyên chính “vô sản” sẽ tự động triệt tiêu đi khi thời kỳ quá độ kết thúc để
bước qua xã hội hoàn toàn không giai cấp. Mọi cách lý luận mà không cần cơ sở
làm nền tảng hay chứng minh, đó là đặc điểm hay đặc trưng trong tư duy và lập
luận của Mác. Thậm chi có người ngu ngốc cũng chịp theo đó mà tuyên bố rằng
thời kỳ quá độ có thể đến trăm năm hay nhiều hơn nữa nhưng chắc chắn rồi cũng
sẽ hết. Tất nhiên không có gì mãi vĩnh cửu trên cõi đời này, chỉ có điều là mọi
cái tốt sẽ thay thế cho mọi cái xấu khi lịch sử đi lên, và con đường duy nhất
để thông qua đó không ngoài là trí tuệ của con người tức nhận thức và sự hiểu
biết của con người, lương tâm và ý thức của con người tức đạo đức và phẩm chất
của con người, ý chí lành mạnh của con người tức lòng mong mõi và quyết tâm cải
thiện, phát triển xã hội, phát huy nhân cách của cá nhân và xã hội, lý tưởng
muốn mang lại cho con người và xã hộ con người mọi giá trị chân chính nhất và
mọi hạnh phúc cần thiết và chính đáng nhất, thế thôi.
Nên nói cho cùng mọi quá khứ đều có
thể sai lầm nhưng điều duy nhất là con người vẫn phải vượt lên, có ý thức và
quyết tâm vượt lên, đó mới điều thiết yếu và đáng nói nhất. Nên con đường hòa
hợp và phát triển của xã hội nói chung, của mọi cá nhân nói chung chỉ có thể là
con đường khoa học và nhận thức. Đó chính là ý nghĩa chung nhất của nguyên tắc
trí thức. Bất kỳ ai cũng có thể làm điều đó được nếu có hoàn cảnh, có mục đích,
có ý chí, có nổ lực và được sự hỗ trợ cũng như giúp đở của người khác và xã hội
con người. Tức sự hiểu biết, nhận thức, nói chung là trí thức và đạo đức vẫn
luôn là chìa khóa quyết định tối hậu nhất. Điều đó hoàn toàn phù hợp với chân
lý và quy luật cũng như với nguyên tắc khách quan nên không bao giờ sai hỏng,
sai trái hay thất bại. Trong khi đó quan niệm đấu tranh giai cấp của Mác là hoàn
toàn sai trái, sai hỏng và không có ý nghĩa và giá trị khách quan và chân lý về
tất cả mọi mặt. Nhất là từ đó để chủ trương chuyên chính vô sản chỉ là sự dốt
nát, bậy bạ, sai lầm và hoàn toàn nguy hiểm. Do đó nó cũng kéo theo mọi hậu quả
của nó mà suốt gần một thế kỷ kỷ qua trên toàn thế giới ai ai cũng nhận biết ra
được. Do đó trong đời sống nhân loại trên cõi đời này, chỉ có tri thức khoa
học, ý thức đạo đức, mục đích nhân văn và xã hội đích thực mới giúp ích giải
phóng con người mọi mặt mà không là gì khác. Sống là để thể hiện nhân cách, giá
trị và ý nghĩa làm người, không phải chỉ nhằm để đạt đến sự tổ chức xã hội theo
một mô hình hay nguyên tắc nào đó. Đó hoàn toàn đều là những sự giả tạo hay ảo
tưởng. Và học thuyết Mác thật sự muốn dẫn loài người vào chỗ ngu ngốc và vô
duyên đó cũng là sự vô lý và ngu muội trong bản thân của nó. Đến đây tôi xin
được kết thúc bài viết có hơi dài này và trông đợi tất cả mọi sự phản biện hữu
ích, tích cực cũng như hoàn toàn cần thiết từ khắp mọi nơi cũng như khắp mọi phía.
Chờ mong, đón nhận, cũng như chân thành cám ơn lắm thay.
VÕ HƯNG THANH
(20/10/2015)
**
NHẬN XÉT VÀ PHÊ PHÁN CÁI HẠT NHÂN CỐT LÕI
TRONG HỌC THUYẾT CÁC MÁC : PHÉP BIỆN CHỨNG
Hạt nhân cốt lõi trong học thuyết Mác
là “Phép biện chứng”, hay nói đúng hơn là nguyên lý biện chứng, quy luật biện
chứng, hoặc biện chứng luận học. Tức ý nghĩa của nó là tính “biện chứng”,
phương pháp biện chứng, hay lý luận biện chứng. Nó chẳng khác cái động cơ trong
chiếc xe máy học thuyết Các Mác. Bởi không có động cơ này hay tháo động cơ này
ra chiếc xe máy đó cũng không thể chạy được, không thể còn hoạt động được. Tính
cách quyết định của cái động cơ trong mọi loại xe máy hay mọi loại tầu khác
nhau đều chỉ vậy : có động cơ thì tất cả mới vận hành được, hay có yếu tố động
lực nào đó chi phối từ trung tâm bên trong, mọi loại máy móc trên thế gian này
mới có thể hoạt động, thực hiện điều gì đó được. Vậy phép biện chứng đó, cụ thể
hay cốt yếu là gì ?
1/ Nguồn gốc triết học, hay xuất phát điểm lịch sử của phép biện chứng
luận.
Nguồn gốc này khởi đẩu từ triết học cổ
đại Hy Lạp, cách đây trên 25 thế kỷ. Đầu tiên nhà triết học tiên phong của Hy
Lạp là Socrate, dùng phương pháp gọi là “hộ lý”, tức giúp đỡ lý luận, để hướng
dẫn người đối thoại với mình suy nghĩ và lập luận cho đúng cách và giá trị. Có
nghĩa khi nghe người kia phát biểu ra điều gì, Socrate dùng lý luận đúng, chính
xác của ông ta bẻ lại, hỏi ngược lại, cho người kia thấy rằng nói như vậy là
sai và cần điều chỉnh lại. Cứ như thế cho đến khi nào người đó rút ra được kết
luận đúng nhất, hoàn chỉnh nhất. Và người học trò nổi tiếng của Socrate sau này
là nhà triết học vang danh Platon cũng dùng phương pháp đối thoại như thế để
tìm ra những sự thực đúng đắn, giá trị, những chân lý nào đó trong lý luận nhận
thức, nhờ sự tranh cãi rốt ráo giữa hai người tranh luận, cái đó ông ta gọi là
phép biện chứng, hay biện chứng luận, hoặc biện chứng pháp. Nói chung lại, biện
chứng là sự cọ xát, sự biện luận, sự phản biện giữa hai bên để cuối cùng tìm ra
được một kết luận cuối cùng chính xác nhất. Yếu tố quan trọng nhất như vậy
chính là sự phản biện, tức có lý luận ngược lại nhằm bổ sung, soi sáng, điều
chỉnh, thì sau hết mới đạt đến được chân lý nhận thức khách quan đúng đắn nhất.
Có nghĩa nó chỉ áp dụng trong tư duy, trong suy nghĩ, trong tư tưởng nhận thức
trừu tượng của con người, trong lý luận bằng ngôn ngữ nói chung mà không gì
khác.
2/ Phép biện chứng hay biện chứng luận của Hegel.
Nhưng chỉ mãi tới thế kỷ 19 ở châu Âu,
nhà triết học người Đức nổi tiếng là Hegel mới áp dụng lại phương pháp biện
chứng như trên. Nhưng thay vì hiểu biện chứng chỉ là hình thức lý luận và nhận
thức, ông ta lại đưa nguyên tắc đó vào trong thực tại lịch sử nói chung. Đó là
phương thức diễn tiến được người ta hiểu vắn tắt là tiền đề, phản đề, hợp đề
hay tổng đề như là diễn tiến phát triển chung trong thực tại của lịch sử thế
giới. Tức Hegel cho rằng đầu tiên vũ trụ chỉ là tinh thần trừu tượng, tiềm ẩn,
đó là giai đoạn tiền đề. Kế đến tinh thần đó tha hóa thành thế giới tự nhiên,
đó là phản đề, là cái đối ngược lại. Cuối cùng giai đoạn hợp đề là sự xuất hiện
của thế giới loài người, mục đích cuối cùng để nhân loại nhận thức được ra chân
lý sau bao nhiêu phát triển của lịch sử thế giới, đó là hệ thống học thuyết
triết học của Hegel. Rõ ràng đây chỉ là quan điểm riêng của Hegel, chưa hẳn đã
được mọi người thống nhất, đồng ý. Bởi triết học là một khoa học của tư duy,
không ai có thể áp đặt, khuyến dụ ai được, mà lịch sử triết học vẫn cứ phát
triển không ngừng trong lịch sử nhân loại như tất cả mọi ngành khoa học khách
quan khác. Nói khác, chân lý chỉ luôn luôn là sự tiếp cận, không bao giờ là sự
chiếm đoạt toàn diện một lần là xong cả, ai cũng có quyền đóng góp nếu có khả
năng thực sự, nhưng không bất kỳ ai có thể giành được chân lý chỉ cho riêng
mình. Chính sự độc đoán của Hegel là đầu mối dẫn đến sự độc đoán trong lý luận
của Các Mác sau này.
3/ Phép biện chứng hay biện chứng pháp của Mác.
Mác cũng người Đức, đồ đệ hay học trò
của Hegel, nhưng theo phái khuynh tả, và Mác biến đổi biện chứng luận duy tâm
của Hegel, ông thầy của mình, thành biện chứng luận hoàn toàn duy vật mà ai
cũng biết. Tức Mác cho rằng đầu tiên chỉ là vũ trụ vật chất. Do sự tiến hóa tự
nhiên mà làm nên thế giới loài người. Và trong phát triển của lịch sử loài
người thì đầu tiên là xã hội cộng sản nguyên thủy, đó là giai đoạn tiền đề.
Tiếp theo là xã hội tư sản mà giai đoạn cao nhất của nó là xã hội tư bản chủ
nghĩa, đó là ý nghĩa phản đề. Cuối cùng hợp đề hay tổng đề, là xã hội cộng sản
trong tương lai được Mác gọi là xã hội cộng sản khoa học. Mác cho rằng mình đã
“lật ngược” lý thuyết Hegel lại, Hegel đi bằng cái đầu, cho tinh thần là đầu
tiên nhất, phải làm cho ông ta đi bằng chân, tức vật chất là cái có trước nhất.
Mác tự hào về điều khám phá này của mình, và những người theo Mác gọi Mác là
thiên tài, là đỉnh cao trí tuệ loài người cũng là như thế.
Có điều Mác lại đặt học thuyết Hegel
làm tiền đề, đặt học thuyết của ông làm phản đề, nhưng ông quên rằng cuối cùng
cũng phải có hợp đề mới khác mà cho đến nay chưa hề có. Nên nếu Hegel là độc
đoán, Mác cũng hoàn toàn độc đoán như thế, quả thầy nào trò ấy là điều ai ai
cũng thấy. Nhưng Mác lại kém thông minh hơn Hegel một bậc, bởi nếu tinh thần là
thực thể đầu tiên đầy vô hạn tiềm lực để sau đó biến chuyển ra thành toàn vũ trụ
thực tại thì ít ra cũng còn hữu lý phần nào đó. Đằng này Mác cho cái đầu tiên
chỉ là vật chất thuần túy và trơ trụi, thế thì cái không có bất cứ thuộc tính
nào siêu việt cả trong nó làm sao tự biến đổi thành mọi cái cao hơn nó về sau.
Chính cái khờ khạo hay cái ngu tột cùng của Mác là ở đây, nhưng mọi kẻ xum xoe
Mác đều mù quáng và ngu muội cho ông ta là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, thật
là điếc không sợ súng, hay dốt nát coi trời bằng vung là như vậy.
4/ Từ lý luận triết học thuần túy ban đầu, học thuyết Mác lại trở thành lý
luận kinh tế chính trị xã hội và lịch sử toàn diện về sau.
Từ lý luận biện chứng thuần túy duy
tâm, thuần túy triết học ban đầu của Hegel, Mác đã biến thành lý luận thuần túy
duy vật, và trở thành lý luận kinh tế xã hội lịch sử rốc ráo của ông ta. Mác áp
dụng nguyên lý “phủ định của phủ định” mà Hegel đưa ra trong biện chứng luận
của mình để cho rằng xã hội cộng sản nguyên thủy tự phủ định, để chuyển sang xã
hội tư sản, cuối cùng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tự phủ định để chuyển sang
xã hội “cộng sản khoa học” do Mác quan niệm. Mác chỉ quên rằng nếu có nguyên lý
phủ định liên tục như thế thì làm gì có chỗ dừng mà có chế độ cộng sản sau này
ổn định. Đó là điều hết sức ngờ nghệch cũng như áp đặt của Mác. Mác cũng quên
rằng rút cái cốt lõi duy tâm làm cái cốt lõi duy vật thuần túy là không có nền
tảng, không có cơ sở. Không thể đem một động cơ cơ giới hay động cơ điện nào đó
lắp vào một cái máy thủ công mây tre lá hay chỉ bằng gỗ và đất sét mà làm cho
chiếc máy này hoạt động được. Tính cách phi lô-gích trong lý luận của Mác chính
là như thế. Nên cái mà Mác tưởng rằng “khoa học” vì nhờ đem râu ông nọ cắm cằm
bà kia một cách trái ngoách như thế chỉ trở thành phi khoa học, phản khoa học
vì cả bản chất lý luận lẫn bản chất thực tế của nó đều trái khoáy nên đều hoàn
toàn không ổn. Như thế hệ thống học thuyết của Mác chẳng khác gì một hệ thống
đùa bớn, cái mà Mác đã không tự ý thức được hoặc cố tình không chịu ý thức, và
những người kém cõi hơn Mác thì chỉ còn tin vào đó như một thứ bùa lú, một sự
mê tín mà không hề có nhận thức, có lý luận, hay chỉ là thứ lý luận rập khuôn,
nô lệ, thụ động hay hoàn toàn mù mờ mà nay mọi người đều thấy được.
Thật ra cái mà Mác gọi xã hội cộng sản
nguyên thủy chỉ là sự mạo nhận hay nhầm lẫn. Bởi xã hội đầu tiên của con người
là xã hội chưa có khái niệm tư hữu, tài sản thì làm gì gọi là “cộng sản” nguyên
thủy được. Đó chỉ mới là xã hội hoang sơ, xã hội nguyên thủy khi loài người mới
từ tình trạng hái lượm sơ khai chuyển sang đời sống tương đối ổn định nơi các bộ
lạc mà thôi. Đó là một thứ lý luận áp đặt cốt để trùng hợp với khái niệm “cộng
sản khoa học” sau này. Nhưng nếu từ cộng sản ban đầu rồi qua bao phát triển lại
quay về cộng sản sau này, có khác gì một sự đi thụt lùi, quay lại khởi điểm của
lịch sử. Đây quả là lý luận cùn mằn của Mác. Chắc gì là lịch sử nhân loại phát
triển chỉ theo đường xoắn ốc mà không theo đường tuyến tính, tức là đường
thẳng, chi có giai đoạn sau phải cao hơn giai đoạn trước mà thôi cho dù hình
thức đôi khi tưởng có phần như cũ nhưng thực chất là hoàn toàn ngược lại.
Vả chăng trong lịch sử thực tế, xã hội
loài người sở dĩ phát triển đi lên được là nhờ biết dựa vào sự phát minh ra
khoa học kỹ thuật. Sự phát minh ban đầu nhiều khi chỉ hoàn toàn tình cờ, như
phát hiện ra lửa, ra kim loại, ra bánh xe, ra thuốc súng, ra la bàn, ra thuốc
trụ sinh péniciline, ra tĩnh điện, rồi ra giấy, ra kỹ thuật in ấn, ra tiền tệ,
ra trao đổi hàng hóa, ra thị trường, ra tín dụng v.v… và v.v… Bao giờ cái trước
cũng sẽ dẫn dắt ra cái sau, tạo nên cả chuỗi tiếp theo và hình thành nên toàn
thể phát triển của cả nền văn minh nhân loại. Như thế nếu nói nhờ đấu tranh
giai cấp mà lịch sử loài người xưa nay mới phát triển như Mác viết trong bản
Tuyên ngôn cộng sản đảng, là sự phiên diễn lệch lạc, áp đặt, lý luận trừu tượng
một chiều, hoàn toàn phi lô-gích thực tế. Bởi đấu tranh giai cấp thì hai bên
chỉ giành giật nhau, đâu có hướng về mục đích chung nào khác mà đi lên phát
triển. Đó chẳng qua Mác lý luận kiểu ngụy tạo, gọt chân cho vừa giầy, đó là
chiếc giầy biện chứng luận, phủ định của phủ định mà Mác hí ha hí hửng khi chộp
được điều này trong Hegel rồi múa gậy vườn hoang trước bàng dân bá tính hoàn
toàn ù ù cạc cạc.
Đó là chưa nói nguyên lý phủ định của
phủ định, nguyên lý sự đối lập thống nhất của hai mặt mâu thuẫn mới phát triển,
hay công thức đề, phản đề, hợp đề, cũng đều là những lý luận thuần túy trừu
tượng theo kiểu toán học, kiểu lô-gích học hình thức thuần túy, dễ gì mà có cơ
sở khoa học khách quan, xác đáng. Bởi khoa học phải áp dụng cụ thể, không phải
chỉ lý luận khơi khơi trừu tượng. Như hạt cây đem nấu chín thì làm sao còn tự
phủ định nữa, hay sự tự phủ định này chỉ là sự tiêu hóa trong dạ dày con người,
đâu thể nào mọc được ra cây. Vả khoa học ngày nay đã chứng minh cụ thể chính hệ
thống gien di truyền tiềm ẩn trong hạt cây còn sống mới là yếu tố làm phát sinh
ra cây. Và ở mọi loài động vật cũng vậy. Ngay cả bản thân sự sống và mục đích
tối hậu của nó cũng vẫn còn là điều tranh cãi chưa hề ngã ngủ, cho nên cả Hegel
và cả Mác cũng đều là hai anh tưởng mình đang múa gậy vườn hoang thế thôi.
Nhưng Hegel thì vô hại vì nhà triết học thuần túy, không chủ trương dùng bạo
động để khống chế toàn thể loài người. Mác thì trái lại tuyên bố chuyên chính
vô sản, cho dầu cuối đời có cãi chính lại, nhưng còn ai nghe thấy nữa, và cuối
cùng đã khiến giết chết cả trăm triệu người một các phi lý và oan uổng cùng với
sự tiêu diệt bao nhiêu tài sản mọi loại của họ trên toàn thế giới, thật là điều
vô cùng dại dột và tai hại.
Cho nên sự đưa “giai cấp công nhân”
lên tuyệt đỉnh như là có sứ mạng lịch sử giải phóng nhân loại mà Mác đề ra thực
chất chỉ là sự lăng xê ngược ngạo và giả tạo. Nhưng Mác lại không ngờ là sẽ có
khối người lợi dụng, nhân danh giả dối điều đó. Bởi con người trong xã hội với
bao nhiêu bản năng hoang dã tự nhiên là điều không thể tránh được. Đó là hậu
quả của cái gọi là chuyên chính vô sản hay độc tài vô sản của Mác là như thế.
Giai cấp công nhân sở dĩ có là do sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Nên ở
những nước nông nghiệp kém phát triển, người ta lại giả tạo thay vào đó giai
cấp nông dân, như Lênin và Mao Trạch Đông đã làm mà ai cũng biết. Thật ra nếu
khoa học kỹ thuật mà không được đưa ra áp dụng bởi giai cấp doanh nhân qua việc
thành lập các xí nghiệp, nhà máy, xưởng thợ, cũng làm gì có giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân không thể tự có một mình, cho nên lý luận của Mác thật sự
chỉ mê tín vào biện chứng luận do Hegel đề ra, do không hiểu sâu sắc và phong
phú ý nghĩa nguyên thủy của khái niệm đó trong Hegel cho nên mới bé cái lầm là
vậy.
Không những cái được tự mệnh danh là
“khoa học” một cách phi cơ sở do Mác đưa ra đã thu hút được nhiều người trí
thức non nớt, mà chính khái niệm xã hội vô giai cấp, không còn giai cấp, là
điều thu hút giới bình dân ít học nhất. Bởi họ cho đó là xã hội quá lý tưởng,
không làm mà vẫn hưởng, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, mọi tài vật đều
tuông ra như nước, vì ai cũng vừa phấn khởi tự giác sản xuất mà cũng vừa thong
dong chơi vui cả và hưởng thụ cả. Xã hội như thế sẽ không còn kiểu hàng hóa bán
mua, mà chỉ sản xuất và phân phối trực tiếp cùng nhau không thông qua thị
trường nữa, vì tiền tệ cũng dẹp bỏ, thị trường cũng không còn, chuyên chính
cũng mất đi vì nhà nước và luật pháp cũng tự động mất đi, đó là xã hội hoàn
toàn không còn giai cấp, một xã hội giải phóng tuyệt đối và hạnh phúc tuyệt
đối. Quả thật Mác đã khởi điểm từ một quan điểm duy vật trần trụi để đi đến một
xã hội tuyệt đối ảo tưởng, bất chấp mọi quy luật thực tế về tâm lý ý thứ con
người, về kinh tế học, xã hội học và chính trị học sơ đẳng nhất, thế thì nếu
không gọi là kẻ ngu dốt hẳn phải gọi là kẻ càn dở hay kẻ gàn điên, điên loạn
cũng chẳng có gì quá đáng. Cho nên chẳng khác gì học thuyết Mác đã làm xóa nhòa
mọi cá nhân thực tế, mọi xã hội thực tế, để nhằm thay vào đó toàn là những ý
niệm trừu tượng, những thực tế ảo, những điều hoàn toàn hoang tưởng chỉ có thể
thuyết phục được những người kém nhận thức, phi tri thức, hay những người khờ
khạo nhất.
Đó cũng là cái mà Mác từng huênh hoang
rỗng tuếch “muốn tiêu diệt triết học thì phải thực hiện triết học”. Điều này Mác
nói trong Ý hệ Đức, chỉ chứng tỏ sự nông cạn thậm chí không hiểu biết thật đầy
đủ triết học là gì. Biến một cái trừu tượng trong tư duy thành cái cụ thể trong
xã hội đời sống, thật là ngu ngơ chưa từng có trong lịch sử tư tưởng nhân loại.
Cho nên nói chung lại mọi lý thuyết về kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử của
Mác đưa ra đều rỗng tuếch, giả tạo, không thực chất, không thực tế, không có cơ
sở khoa học khách quan, nên không hữu ích và cũng không thể có kết quả nào đúng
nghĩa cả. Tất cả đều chỉ là một thế giới giả tạ được thay vào cho thế giới
thật, những con người giả tạo được thay vào cho những con người thật. Cái trớ
trêu đó trong mọi nước cộng sản mác xít từ trước đến nay đều đã chứng tỏ. Có
nghĩa từ cách đặt bản chất vấn đề sai, từ cách đặt tiền đề sai thì không bao
giờ đi đến kết luận đúng, kết quả đúng được. Điều này chính Aristote người học
trò của Platon và là một nhà triết học vĩ đại nhất trong thời cổ đại đã từng
biết. Tính phi khoa học mà tự cho là khoa học, tính phi chân lý mà tự cho là chân
lý, tính phi xã hội mà tự cho là xã hội, tính phi đạo đức mà tự cho là đạo đưc,
tính phi nhân văn mà tự cho là nhân văn, tính phi nhân bản mà tự cho là nhân
bản, tính phi tự do dân chủ mà tự cho là tự do dân chủ như mọi điều trên đã
chứng minh, điều đó kết luận được Mác thực chất chỉ là anh chàng tầm ruồng, ngô
nghê, lừa dối, nếu không phải chỉ hoang tưởng, ngu ngốc hoặc điên loạn.
5/ Học thuyết Mác đã được đưa vào Việt Nam và thực chất đã ru ngủ người
Việt Nam bằng cách nào ?
Đây cũng chính là điều đáng nói nhất.
Vì ngay như Trần Đức Thảo gần hết
cuộc đời cũng chỉ để nhằm giảng dạy, tuyên truyền, sống với các quan điểm cốt
lõi trong lý thuyết Mác như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, xã hội cộng
sản khoa học. Ông Thảo đã hầu như chẳng hiểu gì hay không hiểu hết tất cả những
điều gì đã được trình bày trên đây. Chỉ đến khi 90 tuổi và qua được Pháp lại,
Trần Đức Thảo mới công khai thú nhận ra rằng học thuyết Mác chỉ là một học
thuyết sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì sao ? Vì bản thân ông Thảo cũng như nhiều
người khác từ trước đến sau đều bị lóa mắt bởi các lý tưởng mà Mác đề ra như xã
hội không giai cấp, con người phát triển toàn diện, xã hội cộng sản khoa học lý
tưởng, tức chỉ tin đó là mục tiêu đạo đức, mục tiêu bác ái, mục tiêu nhân văn
nhân bản, mục tiêu nhận thức đúng đắn, mà không hay biết hay không nhận thức ra
bản chất phi khoa học, không thực tế, sắt máu, hoàn toàn ảo tưởng hay không
tưởng của nó. Đó là giai tầng trí thức mà người ta gọi là trí thức khuynh tả,
ngày xưa trong miền Nam trước 1975 có rất nhiều, bây giờ thì hết cả rồi. Còn
miền Bắc từ xưa nay đều chỉ là trí thức XHCN kiểu đúc lò, rập khuôn, hoàn toàn
một chiều, không hề có tư duy tự chủ tự lập, nhất là trong phạm vi khoa học
nhân văn và xã hội. Bởi vì trước sau họ đều được huấn luyện theo chương trình
đào tạo chính thống như thế thì làm gì còn khoa học khách quan, còn tư duy tự
chủ hay sáng suốt được. Còn giới bình dân thì hẳn nhiên không cần nói, bởi vi
trình độ bình dân nhiều lắm chỉ là trình độ phổ cập, đâu dễ gì mà biết triết
học, biết khoa học theo kiểu nhận thức cao. Kể cả như lớp các cán bộ cộng sản
đầu tiên như Trần Văn Giàu chẳng hạn, cũng chỉ đi qua Nga để học trường Đại học
Đông Phương lúc đó, nhưng cũng chỉ trong thời gian ngắn hạn và theo lối đào tạo
cán bộ thừa hành, cán bộ hoạt động thực tế, đâu làm gì có điều kiện mọi mặt để
nghiên cứu chuyên sâu, ít ra về bình diện triết học hay bình diện khoa học nói
chung. Có nghĩa cũng chỉ kiểu truyền đạt miệng, theo các bài bản hoặc công thức
bình dân đã được soạn sẳn nhằm đào tạo cán bộ truyên truyền, xách động thuần
túy thế thôi. Và khi về nước cũng chỉ tiếp tục theo phương cách đó. Điều đó
diễn ra gần suốt thế kỷ ở nước ta, cho dù được đi học để đào tạo ở Liên Xô,
Trung Quốc hay bất cứ nước XHCN nào trước kia cũng thế. Ngay như bản thân ông
Hồ Chí Minh, nói ra thì vô phép, nhưng thực tế ông ta cũng chỉ hiểu biết chủ
nghĩa cộng sản mác xít về phương diện thực tế như các bài bản mà Liên Xô đã có,
đâu có đi vào các mặt chuyên sâu kiểu trí thức thật sự được. Bởi vì điều kiện
thực tiển không cho phép, và cả sự tổ chức trong hệ thống quốc tế lúc đó cũng
không cho phép. Cho nên nói thì quá đáng, nhưng ông Hồ quả thật cán bộ cộng sản
quốc tế vĩ đại nhưng không bao giờ là kiểu một nhà cách mạng hay nhà chính trị
tức một chính khách hay một nguyên thủ quốc gia vĩ đại như trong lịch sử đất
nước và dân tộc vẫn thường có.
Mặt khác, học thuyết Mác vẫn đi đôi
với sự tuyên truyền hấp dẫn lôi cuốn cùng với sự độc đoán chuyên chế. Điều này
thể hiện ngay từ trong bản thân của Mác. Bởi bất kỳ người bình thường nào đọc
vào phần nhiều đều thấy lôi cuốn, thuyết phục cả, do giọng văn lưu loát, hùng
hồn, bút chiến, trấn áp của ông ta. Ngay cả trong quan điểm lập luận cũng thể
hiện ra điều ấy. Trong khởi đầu bộ Tư bản luận Mác đã công khai lên án và kết
luận bất cứ người nào không có quan điểm giống ông ta hẳn nhiên chỉ có thể là
bọn tư sản, bọn phản động. Ngay cả điều này đã cho thấy mầm mống của độc tài
độc đoán, của phản và phi tự do dân chủ thực sự rồi, trong con người của Mác
cũng như trong lý luận và học thuyết của Mác. Bởi vậy cuốn Tư bản luận của ông
chứa đầy những sự mâu thuẫn, những sự nghịch lý, những sự huyền hoặc và tưởng
tượng mà ai tinh ý hay có cách nhìn bao quát đều có thể thấy ra được. Nói khác
đi người ta có thể thấy phần lớn lý luận của ông ta đều nghiêng về sự ngụy
biện, sự quỷ biện, giống như sự gan lì trong lý luận, bất chấp mọi lô-gích mà
chỉ nhằm sao cuối cùng mình chiến thắng được thôi. Nếu nói không quá đáng, thì
ngay cả trong Tư bản luận cũng như các tác phẩm thời trẻ của Mác, mà phần nhiều
đó chỉ là những bài bút chiến viết trên báo, tuy đều có tính cách sôi nổi,
nhưng không phải không có nhiều cách cãi chày cãi cối, nhiều cách lý luận hàm
hồ, kiểu người mình nói là cả vú lấp miệng em, cưỡng từ đoạt lý, chanh chua,
ngoa ngoắt, để cố giành phần thắng mà nếu thanh thản để ý người ta sẽ thường
thấy rõ. Và có lẽ nhiều luận điểm thuyết phục được người khác ở Mác cũng không
ngoài như thế.
Cho nên có thể nói được, học thuyết
Mác vào Việt Nam cũng như nhiều nơi khác, không phải bằng con đường học thuật,
tri thức khoa học, mà chính là bằng con đường chính trị. Người ta nói khi ông
Hồ đọc được bản Luận cương của Lênin về vấn đề các nước thuộc địa, ông đã nhảy
cẫng lên, chẳng biết có có không, nhưng khi Mác đọc Biện chứng luận của Hegel
thì ông ta có nhảy câng lên thật, coi đó như cái xương sống không thể thiếu cho
toàn bộ học thuyết được đưa ra của mình. Đó là chưa nói ông Hồ chủ yếu là người
cách mạng cộng sản quốc tế mác xít, nhưng ông thành công được là do tình hình
thời thế lúc đó thuận lợi. Tức nương theo nguyện vọng và phong trào yêu nước
chống Pháp để giải phóng dân tộc, giải phóng toàn dân lúc ấy đang nổ ra rầm rộ,
và ông đã tương kế tựu kế nhẹ nhàng đưa chủ nghĩa cộng sản mác xít vào để nhằm
giải phóng giai cấp theo ông quan niệm. Bởi ông Hồ thực sự chỉ nương vào chủ
nghĩa dân tộc hay quốc gia nhưng thực chất không bao giờ ông ta đặt nặng mục
đích này mà chỉ dặt nặng mục đích quốc tế lên trên hết. Điều này có thể do ông
ảnh hưởng khi đọc luận cương của Lênin trước kia, và ý nghĩa này ông từng nói
rõ không giấu giếm trong một loạt các bài báo ông viết khi đang ở Hồng Kông
trước kia.
Cho nên chính sách tuyên truyền một
chiều và tính cách khống chế bằng vũ lực vốn đã có ngay trong bản thân học
thuyết Mác, được áp dụng thành công ở Liên Xô do do bởi Lênin trong suốt 70
năm, và sau đó mọi nước cộng sản mác xit khác đều như thế. Chính Mác trước hết
đã dùng lý luận áp đảo từ đầu trong học thuyết của mình, nhiều lúc bằng ngụy
biện hay kể cả bằng quỷ biện, còn mặt bạo lực thực tế thì ông tuyên bố “lý luận
của vũ khí cần phải thay cho vũ khi của lý luận”, điều này về sau bất kỳ người
cộng sản thực hành nào cũng đều được trang bị một cách thiết yếu nhất. Cho nên
điều này đáng lẽ tôi chỉ viết ngắn mà thành ra viết hơi dài, bởi vì mọi sự kiện
lịch sử đã diễn ra trong thực tế đất nước ta cũng y như thế. Như trong thời
gian đầu vì thấy điều kiện chưa chín muồi, chủ yếu mọi người dân Việt Nam chỉ
muốn chống Pháp mà không muốn làm cộng sản, cho nên ông Hồ đã tuyên bố công
khai giải tán đảng Cộng sản, nhưng thật sự lại đưa nó vào hoạt động bí mật dưới
tên gọi mới là đảng Lao động Việt Nam, nhưng thật ra trong thâm tâm không bao
giờ lơ là hay phai nhạt mục đích và nhiệm vụ quốc tế của mình mà ngay từ đầu đã
có, nên cuối cùng tên gọi cũ công khai lại xuất hiện cho mãi đến nay mặc dầu
hiện nay thì mọi hoàn cảnh quốc tế cũng như của quốc nội trước kia đã hoàn toàn
thay đổi. Việt Nam ngay nay thực chất đã chuyển bước qua nền kinh tế thị trường
trong căn bản, và hội nhập quốc tế tưng bừng nhất, nhưng thực chất cái cốt lõi
trong quan điểm và trong mục tiêu của chủ nghĩa Mác, nhất là trong tổ chức
chính trị xã hội, thể chế, có khi trong quan điểm kinh tế, thì hầu như luôn
luôn không thay đổi. Đó là lý do tại sao ngày nay người ta vẫn tiếp tục đề cao
Di chúc Bác Hồ (dù có vài điểm quan trọng đã tự ý sửa đổi), đề cao việc học tập
và làm theo lời Bác, đề cao đạo đức Hồ Chí Minh tức đạo đức mác xít, đạo đức
quốc tế vô sản, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu cũng chỉ nội dung như
thế. Bởi thế đây cũng là bài viết cốt yếu để cho mọi đảng viên cộng sản dù cấp
nào hiện nay cũng có thể đọc và nhận xét, tất cả mọi người dân hay người Việt
Nam ở đâu cũng có thể đọc và nhận xét. Từ đó mọi người đều có thể đi đến những
kết luận riêng cho chính mình về nhận thức và việc làm, đồng thời cũng có thể
có những phản biện cho riêng mình hay cùng trao đổi với mọi người khác cũng như
vơi chính người viết bài này nếu không trực tiếp được thì cũng bằng mọi hình
thức thông tin đại chúng ngay cả trong toàn cầu ở mỗi nơi mà ngày nay không ai
không sử dụng được. Xin trân trọng và cũng hết sức nhiệt tình cám ơn thay. Bởi
vì đây đã trở thành ý nghĩa vấn đề của toàn xã hội, của toàn dân, toàn đất
nước, dân tộc ta trong hiện tại và cả trong tương lai mà không còn chỉ riêng
của ai nữa, cho dù đó là ông Hồ Chí Minh hay kể cả toàn thể đảng Cộng sản do
ông ta đã lập nên cho tới nay.
VÕ HƯNG THANH
(19/10/2015)
**
NÓI VỀ NGUYÊN TẮC, TÍNH CHẤT, VÀ TÍNH CÁCH
CỦA NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỘT ĐẤT NƯỚC
TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Xã hội con người trong thời kỳ hiện đại
là xã hội công nghiệp và xã hội hội nhập quốc tế toàn cầu. Đây là xu hướng tất
yếu cũng như thực tế đã và đang xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bất kỳ mọi
đất nước nào ngày nay cũng đều phải như vậy. Có nghĩa tương lai toàn cầu sẽ
càng thống nhất hơn, màu sắc các quốc gia cũng như các hình thức tổ chức càng
đi gần lại nhau hơn mà không phải còn quá dị biệt như trong quá khứ, tức nguyên
tắc nhân bản chung, nguyên tắc khoa học chung, nguyên tắc thống nhất thế giới
chung càng ngày càng hiện đại hóa hơn, càng mới mẽ hơn, càng xít lại gần nhau
hơn và càng đơn nhất hóa với nhau hơn. Tức cộng đồng quốc tế hay Liên Hiệp Quốc
ngày nay càng trở thành đinh chế hay tổ chức duy nhất của mọi nước trên thế
giới, và trong toàn cầu đinh chế tổ chức của mỗi nước cũng phải càng trở nên
những đất nước hay xã hội tự do dân chủ đúng nghĩa khách quan, tự nhiên, tất
yếu và kinh điển nhất. Đó là điều mà mọi người cần nhận thức, phân tích và thảo
luận như sau đây.
1/ Nguyên tắc tổ chức mọi đất nước hiện tại phải mang tính cách khoa học,
khách quan, thực tế hiện đại.
Có nghĩa con người và xã hội ngày nay
không ai có thể dẫm chân tại chỗ mãi, hay quay về quá khứ, mà phải nhất thiết
phát triển và đi lên. Yêu cầu đi lên đó buộc phải tuân theo quy luật và bản
chất khách quan của xã hội hiện đại, đó là nền dân chủ tự do thật sự đúng
nghĩa. Nói đúng nghĩa có nghĩa là phải đúng bản chất vốn có, không phải chỉ
được che đậy hay ngụy tạo dưới tên gọi bề ngoài mà thực ra không có thực chất
hay hoàn toàn ngược lại. Tức tự do dân chủ phải là tự do dân chủ đích thực,
không được ngụy trang, không được hiểu sai, không được nhân danh hay cũng không
được lạm dụng theo chủ quan hay sai trái. Nên tảng hay cơ sở cho những điều ấy
là nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối, đúng mức giữa mọi cá nhân con người hay mọi
người công dân không phân biệt. Cả ba khía cạnh bình đẳng, dân chủ, tự do luôn
đòi hỏi cùng nhau, luôn hòa hợp, phù hợp cùng nhau, không bao giờ mâu thuẫn hay
ngược nhau, đó là điều mà mọi người cần nhận ra trước nhất trong mọi xã hội
hiện tại. Đó cũng là nguyên tắc khoa học, nguyên tắc khách quan, và nguyên tắc
tự nhiên nhất mà mọi người phải biết. Không thể có nguyên tắc nào khác hợp lý
hơn hay hiệu quả hơn để có thể thay thế được cho nó. Cho nên mọi ý nghĩa phân
biệt giai cấp trong quá khứ, mọi ý nghĩa mang tính bất bình đẳng trong quá khứ
của xã hội loài người thực chất đều hoàn toàn lạc hậu, phải bị loại bỏ và đào
thải. Chẳng hạn sự ưu tiên cho một giai cấp nào đó, sự tôn xưng giả tạo một
giai cấp nào đó, sự cá biệt hóa một cá nhân hay nhóm người nào đó, đảng phái
nào đó, tất cả mọi sự tôn xưng vô lối đó thực chất đều trở nên hoàn toàn lạc
hậu, phi lý, ngờ nghệch, tai hại và cần phải loại trừ.
2/
Nguyên tắc tự do dân chủ và bình đẳng đích thực là nguyên tắc mỗi người một lá
phiếu để lựa chọn ra người cầm quyền mà không gì khác.
Bởi vì thực chất, quyền lực hay quyền
hành trong xã hội không phải là cái gì vốn đã sẳn có trước rồi được tiếp diễn
về sau, như trong các thời phong kiến quân chủ độc đoán cha truyền con nối xa
xưa, mà ngày nay nó chỉ thể hiện và hình thành qua từng nhiệm kỳ của người cầm
quyền do dân bầu cử cũng như ứng cử tự do thật sự. Do đó sự tôn xưng một nguyên
lý tiền chế nào đó có tính giả tạo, tôn xưng những cá nhân nào đó mang tính
được thần thánh hóa vô lối, tôn xưng một giai cấp một đảng phái nào đó chỉ mang
tính tưởng tượng hay dựng hình nên, ton xưng một học thuyết nào đó mang tính
chủ quan áp đặt và cũng không được toàn thể xã hội lựa chọn hay chấp nhận, đó
đều là những việc làm, những hành động, những tính chất, những mục đích phi đạo
đức, phản nhân văn, phản con người, trái văn minh văn hóa và phản phát triển,
phản xã hội vô lý, ngược ngạo, độc đoán, càn gở và tai hại nhất.
Do đó mọi sự bầu chọn mang tính hình
thức, giả dối, thủ đoạn, mưu chước, mọi sự thủ tiêu phổ thông đầu phiếu đúng
đắn công khai, thực chất, đều trở thành những tính cách gian giảo, phản dân
chủ, phản tự do, phản nhân văn, phản văn minh văn hóa và phản con người nên
ngày nay đều không thể chấp nhận được cho dầu có viện dẫn hay nại ra trăm nghìn
lý do hoặc biện minh sai trái nào. Có nghĩa trong xã hội ngày nay chỉ có thể
hoặc trung thực hay không trung thực, hoặc ngay thẳng hay mưu mô, hoặc thực
chất hay không thực chất, hoặc có mục đích tốt hay không có mục đích tốt, hoặc
mang ý nghĩa xã hội hay lợi ích cá nhân, hoặc có nhận thức đúng đắn hay không
nhận thức đúng đắn, hoặc tồi bại, thấp kém hay cao cả và rộng rãi, hoặc đạo đức
hay phi đạo đức, thế thôi, trong mọi mặt, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị
xã hội mà không gì khác. Chính bản chất nơi số đông từng con người thể hiện ra
bản chất nói chung của đa số hoặc toàn thể cộng đồng hay xã hội chỉ là lẽ tự
nhiên. Điều này không che giấu ai được và cũng không bất kỳ ai có thể phủ nhận,
né tránh, làm ngược lại, hay thoái thác được.
Bởi quyền dân chủ tự do là quyền của
mọi người, đó là quyền khách quan, tự nhiên, tiên quyết, quan trọng và quyết
định nhất, không thể bị ai tướt đoạt hay phủ nhận đi trong bất kỳ trường hợp
nào, vì đó là quyền xã hội, quyền làm
chủ xã hội chung mà mọi người cần phải có và luôn bắt buộc phải có. Vì nếu
không như thế thì xã hội sẽ bị lợi dụng ngay, tức sẽ có những cá nhân nào đó,
nhóm người nào đó gian dối, thủ đoạn tướt đoạt quyền chung của xã hội làm quyền
riêng sai trái của mình, đó chính là mọi trường hợp độc tài độc đoán phi lý mà
lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay đều xảy ra thường xuyên mà ai cũng
biết. Chẳng hạn như ngày xưa, bất kỳ cá nhân có lực lượng nào đó thắng mọi đối
thủ khác thì lên làm vua rồi cha truyền con nối, đó là thời kỳ quân chủ phong
kiến xuất hiện từ rất lâu trong xã hội loài người. Hay như mọi hình thức độc
tài đảng trị thời cận đại hoặc hiên đại cũng thế. Nếu có cá nhân nào đó hay
nhóm người nào đó, nhân danh điều gì đó, mục đích gì đó, quy tụ hay phỉnh gạt
được quần chung, cuối cùng lên cầm quyền được thì chỉ độc tài độc đoán, thủ
tiêu hết mọi quyền tự do dân chủ bình đẳng chính đáng nhất của mọi người khác,
của toàn xã hội, bắt mọi người thành nô lệ, xã hội thành nô lệ cho các tham
vọng cá nhân hay tập thể sai trái, tai hại và vô lý nhất nhất của mình. Hay nói
khác, mọi hình thức độc tài độc đoán, dù được che giấu dưới mục đích nào, lý do
gì, nguyên tắc ra sao đều cũng chỉ là phi nhân văn, phản nhân quyền, không thể
nào biện minh hay bào chữa cách nào được. Mọi sự nhân con người, nhân danh xã
hội để thực chất phản lại con người, phản lại xã hội, cho dù là trên học thuyết
hay trong thực tế đều chỉ là giả nhân giả nghĩa, gian dối. phản tiến bộ và tiến
hóa, tức phản động, và mọi người cần hiểu ra điều đó.
3/
Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức nhà nước là nguyên tắc nền tảng nhất.
Quyền lực xã hội nói chung không hề cụ
thể và cũng không sẳn có ở nơi nào đó mà nằm trong toàn dân, toàn xã hội, nằm
trong ở mỗi ý chí và nguyện vọng từng cá nhân. Nhưng không một cá nhân nào có
thể hành xử quyền hành đó một cách riêng lẻ theo ý mình, nên phải thể hiện ra
phiếu bầu khách quan, tự do dân chủ đúng nghĩa để lựa chọn ra người đại diện
chung, ùy quyền cho người cầm quyền chung thống nhất và cao nhất, đó là nền
tảng của mọi quyền bầu cử ứng cử tự do trong xã hội dân sự hay xã hội công dân.
Bởi vậy nguyên tắc thống nhất và nguyên tăc phân quyền là hai nguyên tắc cơ bản
nhất của mọi nền dân chủ đích thực. Nguyên tắc thống nhất là sự ủy quyền duy
nhất của toàn dân. Nguyên tắc phân quyền là nguyên tắc phân công quyền hành một
cách khoa học, hợp lý để giữ gìn cho quyền đó luôn luôn khách quan, trong sáng,
hiệu quả, không bị lợi dụng, không bị lạm dụng, không bị bôi đen hay không bị
phản bội. Đó chính là lý do của việc phân ra ba quyền độc lập, riêng rẻ nhau,
không lệ thuộc nhau, gọi là tam quyền phân lập, hay là quyền lập pháp, quyền
hành pháp, quyền tư pháp. Ba quyền đó là quyền thống nhất chung của một đất
nước, quốc gia, nhưng được giao cho ba loại cơ quan nắm giữ riêng biệt, độc lập
nhau nhằm để không nhập nhằng, không lũng đoạn nhau, mà gia tăng hiệu quả và
hữu ích cho nhau. Đó là cơ quan Quốc hội, cơ quan đại biểu chung và cơ quan làm
luật, gọi là cơ quan lập pháp. Vì không có luật thì không có tất cả, đó là ý
nghĩa của Hiến pháp như đạo luật cao nhất, và mọi luật pháp phát sinh ra khác.
Nhưng luật pháp cũng phải có người chịu trách nhiệm thi hành đúng đắn, hiệu
quả, đó là cơ quan hành chánh hay cơ quan hành pháp, mà nói chung là mọi cấp
chính quyền mang tính cách thừa kế và liên tục mọi thời trong cả nước về nền
tảng và hệ thống thống nhất trước sau cơ bản. Tuy vậy trong xã hội chắc chắn
cũng phát sinh ra mọi tranh chấp không thể tránh được, đó chính là ý nghĩa của
cơ quan xét xử hay là quyền tài phán, quyền tư pháp. Có nghĩa sự thống nhất
quyền hành không thể không có sự phân công quyền hành như đã thấy, vì ba lãnh
vực quyền hành đó đều cơ bản nhất, quan trọng nhất, thực tế nhất, không thể nào
phủ nhận, lẫn lộn hay không phân biệt rành rẽ ra được. Việc tránh dẫm chân lên
nhau, tránh ngáng ngại lẫn nhau, nhằm giúp cho quyền lực thống nhất được luôn
hiệu quả và minh bạch, đó chính là sự phân quyền đã mang tính chất kinh điển,
cổ điển và truyền thống dân chủ lâu đời trên thế giới cho tới nay trong thời
hiện đại, đó là điều hoàn toàn tất yếu, khoa học, thông minh và hoàn toàn cần thiết.
Bởi không có phân quyền thực chất cũng không có dân chủ, vì mọi sự thâu tóm
quyền hành vào một mối cho một tập thể hay một cá nhân nào đó đều độc tài độc
đoán và phản dân chủ một cách lố bịch, ngang ngược và trơ trẽn nhất, vì kết quả
của nó luôn luôn là sự lạm dụng hay sự cưỡng chế một chiều mà không có sức mạnh
nào khác làm trung hòa hay điều hòa lại được.
Cho nên học thuyết Mác coi nên dân chủ
như đã nói là nền dân chủ tư sản, từ đó chủ trương chuyên chính vô sản của giai
cấp, của đảng duy nhất và độc đoán làm nền tảng, tập trung quyền hành một cách
duy nhất để gọi là làm cách mạng, giải phóng xã hội, thực chất chỉ là sự ngông
cuồng, phi thực tế, phản khoa học, phản dân chủ, phản xã hội, phản lịch sử, hay
nói chung thực sự chỉ là một lý thuyết hết sức phản động, nên thực tế nó đã
hoàn toàn thất bại trên toàn thế giới trong suốt thế kỷ qua mà mọi người đều
thấy. Nói chung lý thuyết Mác chỉ là ngụy biện và giả tạo, giả dối, nên sự thủ
tiêu quyền dân chủ tự do đích thực của con người và xã hội, sự thủ tiêu phân
quyền cần thiết mà lịch sử đã mang lại, rõ ràng là phản tiến hóa, phản lịch sử,
phản khoa học, phản tự nhiên mà mọi người đều có thể nhận thức ra cả với mọi lý
trí phán đoán bình thường, chỉ trừ ra những ai quá mê muội hay quá bảo thủ, chủ
quan và ngoan cố. Nói chung quyền lực xã hội hay quyền lực chính trị của một
nước nhất thiết phải và chỉ là sự ủy quyền của toàn dân cho những người cầm
quyền qua những nhiệm kỳ cụ thể nhất định, để quyền luôn luôn được cách tân,
mới mẽ hơn qua mọi sự phát triển đi lên không ngừng của xã hội và lịch sử, đó
mới chính là nền dân chủ khách quan đích thực nhất. Có nghĩa không có cá nhân
nào cầm quyền vĩnh viễn, không có đảng phái nào cầm quyền vĩnh viễn, vì thực
chất đó chỉ là sự đoạt quyền không hơn không kém. Cho nên Mác tự phong cái được
gọi là giai cấp công nhân một cách giả tạo và giả dối, tự phong cái gọi là đảng
tiên phong của nó, để nhằm lý giải cho nền chuyên chính vô sản mà ông ta tưởng
tượng ra để áp dụng vào thực tế, chỉ đều vô lối, phản phát triển, phản tiến hóa
tiến bộ, vì thực chất nói chung đều là phản khoa học, phản lý trí và phản mọi
nhận thức và ý muốn tự do tự nhiên của mọi con người. Tinh cách phi lý của độc
tài độc đảng, của chuyên chính vô sản do ý thức điên loạn của Các Mác sáng nghĩ
ra rồi tự mệnh danh là đúng đắn, là khách quan, là khoa học, là chính đáng,
thực chất vốn chỉ là những điều phi lý mà trên kia đã được phân tích.
4/ Vậy ai là người lãnh đạo đất nước và việc lãnh đạo đất nước phải ra sao
?
Rõ ràng qua mọi ý nghĩa như trên thì
nếu không có quyền tự do dân chủ ứng cử và bầu cử đúng đắn thật sự, thì không
ai có thể tự phong mình ra để lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước, lãnh đạo mọi
người khác, nếu không phải đó là sự đoạt quyền, sự cướp quyền, sự cưỡng quyền
sai trái. Bởi không bất kỳ cá nhân nào, giai cấp nào, tập thể nào, hay đảng
phái nào được ưu tiên có quyền này do mình tự phong mà không do toàn dân, toàn
xã hội hay mọi người ủy quyền hoăc bầu lên. Cho rằng giai cấp nào đó là tiên
phong, đảng nào đó là tiên phong đều chỉ là sự tưởng tượng, sự phịa đặt vô lối,
mang tính mê tín siêu hình hoặc chỉ là sự lừa mị gian dối và giả dối. Điều đó
cũng chứng tỏ Mác chẳng hề là con người xã hội, con người cách mạng hay con
người nhân bản, cũng chẳng thể là con người khách quan, con người khoa học, con
người sáng suốt hoặc con người có đầu óc thực tế khi đưa ra một học thuyết theo
kiểu mê muội, kiểu mị dân, kiểu ngạo mạn, và kiểu ảo tưởng cũng gần như mê sảng
hay đại loại như thế. Cho nên cái gọi là dân chủ gấp triệu lần, tiên tiến gấp
vạn lần, đều là sự xuyên tạc sự thật, đi ngược lại mọi ý nghĩa và giá trị khách
quan. Cho nên con người lãnh đạo đất nước đúng nghĩa nhất trước hết phải do dân
bầu theo trực tiếp phổ thông đầu phiếu công khai minh bạch, dân chủ tự do thật
sự, để đại diện chung cho toàn dân, toàn xã hội lên cầm quyền theo những nhiệm
kỳ nhất định do Hiến pháp chỉ định. Họ không đại diện cho nhóm xã hội nào riêng
cả, cho đảng phái nào cả, cho giai cấp nào cả, cho khuynh hướng chính trị hay
tôn giáo hoặc xã hội riêng biệt nào cả mà đại diện cho toàn dân, toàn xã hội,
cho hết thảy mọi công đân, cho tất cả mọi người. Mục đích làm việc của họ là vì
toàn xã hội, vì lợi ích chung nhất, vì toàn thể đất nước mà không vì bản thân
hay không vì một đối tượng riêng biệt hoặc giai cấp hoặc khuynh hướng đặc thù
nào.
Quan trọng nhất, người đứng đầu đất
nước được bầu lên phải thể hiện được nhân cách, tài năng, hiệu quả thật sự
riêng của mình. Nhân cách là phẩm chất đạo đức riêng tư cũng như công cộng. Tài
năng tất nhiên phải có học, có hiểu, có nhận thức, có trình độ văn hóa tri thức
nào đó phải có, tổng quát cũng như chuyên môn về chính trị xã hội, nói chung
phải thuộc thành phần trí thức, không phải chỉ thành phần hoàn toàn bình dân
như phần lớn các xã hội trong quá khứ. Và tài năng không ngoài là óc thông
minh, kinh nghiệm mọi loại đã tích lũy được, khả năng sáng kiến cao và hiệu lực
để giải quyết quyết được mọi việc hay những vấn đề gai góc nhất mà xã hội, thực
tế, hay lịch sử đặt ra. Tài năng đó người xưa gọi là đầu óc kinh bang tế thế,
đó có thể là khả năng, năng lực bẩm sinh và được kết hợp với rèn luyện, với cọ
xát thực tiển mà không ai trao cho hay được nhét vào từ bên ngoài từ đâu đó hay
do ai cho họ.
Do đó kiểu lãnh đạo theo cách tập thể,
lấy thịt đè người, lấy số đông khống loát, ai cũng giống nhau, đều cùng bài bản
tiền chế, theo kiểu sách vở, giáo điều đã có, chẳng cần gì tài sức hay sáng
kiến, chẳng có gì sáng tạo, cũng chẳng do ai bầu lên mà chi là loại quyền hành
tự phong, tự tạo, thì dó thực chất không phải lãnh đạo ai mà chỉ là sự choán quyền,
sự giành quyền, sự lạm quyền, hay sự tự quyền. Nó chỉ do sự chuyên quyền mà ra,
sự chuyên quyền của tập thể nào đó rồi có sự thừa hành, sự phân công cắt đặt,
sự bố trí chia chác, sai bảo lại, giữa nhau thế thôi. Từ đó cũng nhân danh đủ
thứ, đặt ra khẩu hiệu thực hiện đủ thứ, mà thật ra không có thực chất, vì không
chính đáng, không có thực tài nhưng chỉ có sắm vai, diễn tuồng, đóng kịch trong
những vai trò được phân công từ trước hay từ trên cho những kịch bản nào đó đã
có người sáng tác sẳn, người dàn dựng sẳn hay người điều khiển sẳn thế thôi.
Đấy mọi sự lãnh đạo không độc lập, không năng lực, đều cũng chỉ là sự thừa
hành, sự nhân danh, sự ngụy tạo, sự tự phong, sự giả đò mà không gì khác. Mà
mọi cái gì không thực chất thì cũng không hiệu quả và không kết quả hay giá trị
chung, đó cũng chỉ là thực tế khách quan thế thôi. Cho nên bất kỳ đất nước xã
hội nào thiếu tự do dân chủ đích thực thì cũng đều trì trệ, không phát triển,
đều thụt lùi, hoặc phát triển kiểu giả tạo, hình thức, không thực chất, nên thực
tế không thể nào bì kịp hay đuổi kịp được các nước khác có nguyên tắc, có thực
chất trong lãnh đạo, quản lý điều hành và phát triển.
Cho nên ý nghĩa của người lãnh đạo
đúng đắn một đất nước, dầu ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, ai cũng vậy, nhất
là trong thời hiện đại, luôn cần có phẩm chất hay tuân thủ bốn nguyên tắc cơ
bản là : sự độc lập tự chủ, sự bình đẳng thân dân, chỉ vì quyền lợi chung của
xã hội, luôn luôn cầu tiến trong nhận thức. Bởi có độc lập tự chủ riêng mình
thì mới xứng lãnh đạo. Nếu không mình cũng chỉ là thứ lệ thuộc, là công cụ sai
bảo của người khác, bình diện quốc tế hay quốc nội cũng thế. Và như vậy thì còn
ý nghĩa hay vai trò, nhiệm vụ lãnh đạo được ai. Sự bình đẳng thân là sự bình
dị, không trịch thượng, không chủ quan, không phân biệt hay kỳ thị, không tự
thành thánh hóa hay độc tôn mình, có vậy mới bình dẳng, mới dân chủ được với
tất cả mọi người, có vậy mới không làm dáng, không đóng kịch, không trình diễn
giả tạo và vô lối. Còn không đặt quyền lợi chung toàn dân và đất nước lên trên
thì dễ bè phái, dễ nhũng lạm, dễ mù quáng, dễ phản dân hại nước. Cuối cùng nếu
không cầu tiến trong nhận thức thì sẽ sinh ra bảo thủ, trì trệ, mờ tối, thụt
lùi, ấu trĩ, dốt nát, phản hiệu quả, phản tác dụng, phản tiến hóa, và cuối cùng
là phản động. Đó chính là nguyên lý tự do dân chủ cho xã hội tối đa nhất, bởi
nếu không sẽ dễ sa vào chỗ độc tài độc đoán cố chấp, phi văn hóa, phi phẩm
chất, trái đạo đức và phản xã hội.
Cuối cùng còn điều quan trọng hơn tât
cả, người lãnh đạo luôn phải biết nổ lực bằng mọi mặt nâng cao trình độ dân
trí, trình độ hiểu biết chung trong toàn xã hội lên một cách rộng khắp và hiệu
quả. Đồng thời lãnh đạo là phải biết tìm kiếm, đào tạo, chuẩn bị mọi người tài
năng khác để nối tiếp hoặc thay thế mình nhằm phát triển đất nước xã hội tốt
đẹp hơn. Cho nên mọi toan tính ngu dân, mị dân, láo gạt chỉ để nhằm ru ngủ, bất
động hóa mọi người, hay tuyên truyền giả tạo, giả dối để đánh lừa người khác,
nhằm bảo thủ địa vị quyền lợi riêng của bản thân hay phe nhóm mình, thì dó chỉ
là tội lỗi hay thậm chí tội ác. Đó không chỉ phản bội lại ý nghĩa và giá trị
của vai trò lãnh đạo, còn là phản bội lại quyền lợi toàn dân và đất nước, xã
hội nói chung. Đấy ý nghĩa lãnh đạo là cao cả và khó khăn là như thế. Nó cần
phải được giao vào tay những cá nhân tinh hoa, tài cán nhất trong nước, những
thành phần chọn lọc nhất trong nước, không phải bất kỳ ai có cơ hội đột xuất là
cũng có thể lên cầm quyền lãnh đạo đất nước được. Bởi vì chỉ có những phần tử
tinh hoa, thực tài mới biết và lựa chọn ra được những cá nhân tinh hoa, thực
tài để hợp tác và cùng kết hợp vì lợi ích toàn dân, mới tạo được niềm tin và
hiệu quả toàn dân, đó chính tinh thần xã hội là vậy và đích thực mọi tinh thần
ý thức hay ý nghĩa và mục đích thật sự yêu nước thương dân, tôn trọng toàn dân
cũng chỉ là như vậy.
Cũng chính vì lý do đó, người ra tranh
cử vào vị trí cao nhất trong đất nước phải trình bày rõ ràng ra được mọi chủ
trương, đường lối quyết định hay cốt lõi nhất của mình về mặt chính trị xã hội,
phục vụ đất nước, quốc gia cho mọi người cùng thấu hiểu và lựa chọn giữa bao
người khác. Không làm như thế rõ ràng là thiếu hợp lý và không dân chủ. Bởi
cách bầu cử chỉ định do một đảng phái nào đó và lá phiếu của dân chỉ nhằm hợp
thức hóa hình thức điều đó, thì đó cũng không phải vị trí của người lãnh đạo mà
chỉ là người thừa hành, người cán bộ thực hiện hay kẻ tay sai về sau. Cho nên
người đứng đầu một đất nước thực sự phải là người lãnh đạo mà không phải người
công chức như mọi loại khác trong chính phủ hoặc chính quyền các cấp. Đó là nguyên
tắc để phân biệt sự khác nhau giữa hành chánh và chính trị. Đó cũng là điều cho
thấy mọi sự hành chánh hóa chính trị hay chính trị hóa hành chánh đều là dốt
nát, phi khoa học và phản phát triển. Dó cũng lý do tại sao mọi cơ chế đảng cử
dân bầu đều phản cách mạng, phản tự do, phản nhân quyền, phản xã hội, phản lịch
sử, phản thực tế, phản dân chủ tự do đích thực, hay nói chung chỉ là sự lạm
quyền, đoạt quyền và đích thực cũng là sự phản động.
5/ Vai trò và ý nghĩa của chính đảng trong lựa chọn, vận động, để bầu cử
hay tấn phong người lãnh đạo.
Trong thời phong kiến xa xưa, xã hội
chưa có chính đảng hay đảng phái chính trị, trái lại chỉ có những bè nhóm nào
đó hình thành tự phát qua thực tế do điều kiện hoàn cảnh thực tế tạo nên, và
khi có thời cơ hay bằng bạo lực hoặc sự khôn khéo mà lên nắm quyền được thì làm
vua và thống trị toàn xã hội. Bởi lúc đó công nghệ thông tin, báo chí, truyền
thông xã hội chưa có, nên chính trị thực chất chỉ là kiểu chính trị thủ công,
đặt trên ý nghĩa mánh lới, thủ đoạn riêng, lực lượng quân sự riêng, hay kể cả
một mục đích chính nghĩa riêng nào đó. Do đó thành phần lên cầm quyền trước sau
chủ yếu đều là thành phần võ biền. Chỉ sau khi nắm quyền ổn định rồi, mở mang
đất nước rồi, mới sử dụng đến thành phần hiểu biết, trí thức, các thành phần
tinh hoa khác nói chung trong xã hội. Đó là tiến trình từ xã hội quân sự sang
xã hội chính trị và hành chánh dân sự mà suốt thời kỳ phong kiến quân chủ ở đâu
cũng có. Các trường hợp như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi, Quang Trung, Gia Long của
nước ta đều như thế. Đó là phương pháp chuyển giao quyền hành dần dần cho hiền
tài, cho các thành phần tinh hoa của đất nước, bằng các biện pháp thi cử chọn
nhân tài, cách thức giáo dục đào tạo hiền tài, đều là những mục đích trong
sáng, hữu ích mà những triều đại anh minh trong xã hội thời xưa của dân tộc đất
nước ta đều luôn đã thực hiện tích cực và hiệu quả nhất. Chính ý nghĩa tự do
dân chủ trong chính trị đã phôi thai, tiềm ẩn, và được nuôi dưỡng ngay cả trong
các thời kỳ quân chủ phong kiến xa xưa chỉ là như thế.
Ngày nay, khác với mọi xã hội xưa, dân
cư phát triển cao hơn về mọi mặt, lượng cũng như chất, xã hội nói chung luôn đi
lên và phát triển các mặt, như vậy không bất kỳ cá nhân nào dù tài giỏi ra sao,
mà có thể tự thân vận động một cách thành quả được, mà phải dựa vào các lực
lượng chung của xã hội. Cho nên việc hình thành nên những đảng phái chính trị
hay những chính đảng là điều hoàn toàn cần thiết, khách quan và hoàn toàn chính
yếu mà trên toàn thế giới không ai phủ nhận nhưng đều áp dụng theo. Mục đích
các chính đảng, tối thiểu là hai, nhưng không nên tạp nhạp quá để thành vô
nghĩa và phi tác dụng, không ngoài ý nghĩa là giúp cho việc lựa chọn, vận động,
ủng hộ người ra tranh cử độc lập hay do mình đưa ra để cuối cùng toàn dân lựa
chọn thế thôi. Đảng chính trị về nguyên tắc không bao giờ là đảng cầm quyền,
bởi vì quyền là quyền chung của toàn dân, không ai vì danh nghĩa gì mà nắm
riêng được, vì chỉ là sai trái, xấu xa. Nên chính đảng chỉ có thể cùng tham gia
và quyền hành chung với các đảng phái khác một cách bình đẳng, thiện chí, hiệu
quả, bằng đưa người ra ứng cử một cách tự do dân chủ, bằng vận động dư luận để
ủng hộ người này hay người khác một cách chính đáng, công khai, minh bạch, đó
là những việc làm luôn luôn cần thiết và ý nghĩa nhất. Bởi vậy người nắm quyền
lãnh đạo đất nước là người được toàn dân lựa chọn tối hậu nhất, có thể do một
đảng nào đó giới thiệu hoặc đưa ra, nhưng khi đã trúng cử rồi, đó là người của
toàn dân, của toàn đất nước mà không phải của riêng đảng phái, giai cấp, hay
của bè phái hoặc nhóm người riêng biệt nào. Đó mới chính là ý nghĩa, giá trị và
mục đích sau cùng của lãnh đạo. Đó chính là nguyên lý tự do dân chủ đích thực
nhất trong mọi xã hội và quốc gia đất nước tiên tiến hiện đại nhất ngày nay và
chắc chắn trong tương lai cũng như vậy, vì đó chính là chân lý khách quan, khoa
học mà phải qua đấu tranh hàng ngàn năm toàn thể loài người và mỗi quốc gia mới
đạt tới một cách mỹ mãn và hiệu lực được.
Thế nhưng Các Mác là người duy nhất
trong lịch sử nhân loại đã phản bác điều đó. Ông ta coi đó chỉ là dân chủ tư
sản, phải dân chủ kiểu vô sản tức độc tài vô sản duy nhất do đảng cộng sản mà
ông chủ trương và từng vận động thực hiện. Chính Lênin đã lần đầu tiên làm điều
này ở Nga năm 1917, nhưng cũng chỉ 70 năm sau đó thì Liên Xô và mọi kết quả kéo
theo trong khối Đông Âu cũ được mệnh danh là khối Xã hội chủ nghĩa trước đây
đều sụp đổ và tan ra mây khói. Chính người xưa cũng nói bất cận nhân tình phi
trường cửu là ý nghĩa đó, tức điều gì không hợp lòng người một cách chính đáng
và tự nhiên thì trước sau cũng phải bị đào thải là đúng như vậy. Ngay như ông
Hồ Chí Minh cũng từng nói “Đảng ta là đảng cầm quyền”. Nếu ai sáng suốt cũng
thấy rằng mọi sự cầm quyền vô điều kiện và duy nhất, chỉ là sự thụt lùi lại
thời kỳ quân chủ phong kiến. Do đó mọi sự thần thánh hóa, mọi sự phong thánh
ông Hồ về sau cho mãi tới ngày nay cũng không ngoài mục đích và ý nghĩa đó. Bởi
như vậy nó trái với nguyên tắc nhân văn, cách mạng và xã hội nói chung, nên chỉ
có những người nào theo chủ nghĩa tôn sùng cá nhân, tức chủ nghĩa phong kiến
mới, mới ủng hộ và kiên trì về điều đó, còn mọi người sáng suốt tiến, bộ, cho
dù đó là đảng viên cộng sản cấp nào cũng đều thấy ngay là không thể chấp nhận
được.
Bởi chính trị xã hội cũng như kinh tế
xã hội, thậm chí văn hóa xã hội đều luôn luôn biến chuyển, phát triển không
ngừng trong lịch sử loài người nói chung. Ông Hồ là người của thế kỷ trước, là
người của quá khứ, của lịch sử, vậy mà trong xã hội ngày nay người ta vẫn cứ
lấy ông làm bung xung, cái gì cũng nhân danh học tập Bác Hồ, làm theo lời dạy
của Bác Hồ, quả thật sự chất là làm trì trệ lịch sử, kéo lùi lịch sử về hướng
quá khứ. Kết quả đó rõ ràng ngày nay nước ta tụt hậu so với những nước trong
khu vực chung quanh có đến từ vài ba chục năm đến nửa thế kỷ, và so với các
nước tiên tiến khác trên thế giới như Nhật Bản, Đức Quốc hay Hoa Kỳ có khi đến
hàng trăm năm hay hơn nữa. Điều đó bất cứ người nào có ý thức yêu nước thật
tình đều thật sự đau xót, ngỡ ngàng và thất vọng. Đó là điều mà người viết bài
phân tích và nhận xét công tâm, khách quan, nhưng vắn tắt, cô đọng và ngẫu hứng
này để mọi người cùng phản biện và trao đổi. Từ đó ai cũng có thể nhận thấy
rằng yêu cầu thoát Mác, thoát Hồ Chí Minh ngày nay là nhu cầu thực tiển bức
thiết mà bất kỳ đảng viên cộng sản tiến bộ dù ở cấp nào miễn là có nhận thức
tốt và có lòng yêu nước chân thực đều có thể thừa nhận và nhất trí được. Bởi vì
chỉ có thế mới có thể đưa được đất nước trong tình trạng hổn độn hiện nay ở
nhiều mặt, tình trạng tụt hậu và suy thoái nhiều mặt so với rất nhiều nước khác
mà cả thế giới đều thấy rõ cách thực tế dựa trên nhiều tiêu chuẩn khách quan
được thừa nhận mà ai khách quan cũng có thể thấy được. Chỉ có thế thì từ đó mới
có thể củng cố tốt đẹp được mọi mặt của xã hội, vựt dậy và đưa được đất nước đi
lên xứng tầm và hòa nhập cùng với toàn thế giới tiên tiến hiện tại, mà không
phải chỉ những lời nói suông, những khẩu hiệu suông, hay những ảo tưởng và mơ
ước suông mà trong quá khứ và hiện tại lâu nay mọi người ai cũng có thể nhìn
thấy hết được.
VÕ HƯNG THANH
(18/10/15)
**
LÝ DO TẠI SAO CHỈ 3,8 TRIỆU ĐẢNG
VIÊN CỘNG SẢN
LẠI CAI QUẢN ĐƯỢC ĐẾN 95 TRIỆU NGƯỜI VIỆT NGÀY
NAY ?
Đây là vấn đề hơi lạ, hơi ngạc nhiên,
gần như chuyện vui, có thể nhiều người vẫn thắc mắc mà không tiện nói ra, nên
đó càng phải điều nên đề cập và ở đây tác giả bài viết ngắn này xin khách quan
thử mổ xẻ và phân tích. Mọi người đồng ý hay không, có lẽ sẽ mong được góp ý
kiến sau.
1/ Nói về sự tổ chức và nguyên tắc tồn tại của đảng Cộng sản.
Đảng cộng sản VN cũng như mọi đảng CS
khác trên thế giới ngày xưa cũng như ngày nay là đảng xuất phát từ chủ nghĩa
Mác Lênin, do Lênin xây dựng nên từ đầu ở Nga sau cuộc cách mạng CS thành công
năm 1917, mà nội dung, mục đích hay nguyên lý của nó là của học thuyết Các Mác
ra đời vào giữa thế kỷ 19 tại châu Âu mà cụ thể là tại Đức. Nguyên tắc chính
yếu của đảng CS được tự mệnh danh là đảng tiên phong của giai cấp công nhân, do
giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm thực hiện sứ mạng lịch sử của giai cấp công
nhân là làm cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới để giải phóng loài người xây
dựng thiên đường cộng sản tức là chủ nghĩa xã hội cộng sản khoa học do Mác đề
ra. Nhưng ở những nước không phải công nghiệp như Nga thuở đó hay các nước Á
châu khác, Lênin thay vào đó giai cấp nông dân, là điều mà Mao Trạch Đông từng
áp dụng ở Trung Hoa cũng như đảng CS đã áp dụng ưu tiên ở VN. Ở các nơi này
thực chất theo nguyên tắc là giai cấp nông dân làm nòng cốt.
Và nguyên tắc cốt lõi của đảng CS là
dân chủ tập thể hay dân chủ tập trung, tức lấy đa số làm nguyên tắc, lấy sự
thống nhất, sự chuyên chính làm nền tảng. Tất cả phải tuân thủ một ý thức hệ
duy nhất, đó là chủ nghĩa Mác Lê, một giềng mối duy nhất là đảng lãnh đạo, có
nghĩa Trung ương quyết định, hướng dẫn, lèo lái tất cả. Ai vào đảng cũng phải
tuân thủ nguyên tắc nghiêm ngặt ấy, bất kỳ ai, đó là điều mà ông Hồ Chí Minh
từng bảo các đảng viên là phải giữ gìn sự đoàn kết trong đảng như giữ gìn con
ngươi của mắt. Như vậy cho dù thời thế hay hoàn cảnh thay đổi thế nào, nguyên
tắc từ đầu đến cuối của đảng vẫn là duy nhất và vẫn luôn luôn do Trung ương
quyết định duy nhất. Như do thời thế hoàn cảnh trước kia, ông Hồ đã từng một
lần công khai giải tán đảng CS để rút vào hoạt động bí mật, biến đổi tên thành
đảng Lao động, rồi sau một thời gian thuận lợi, lại ra công khai hoạt động trở
lại mãi cho tới ngày nay.
Nguyên tắc cốt lõi đó lại được tổ chức
thành một hệ thống hạt nhân trong toàn xã hội được gọi là các cấp ủy địa
phương, các chi bộ ở cấp thấp nhất như phường xã, các doàn thể xã hội, các
ngành nghề, các khu vực hành chánh và chuyên môn mọi cấp. Chính mọi hạt nhân đó
chi phối, nắm quyền, điều động toàn xã hội, và chịu sự chỉ đạo từ trung tâm cao
nhất là Ban chấp hành Trung ương hay Bộ chính trị nói chung. Chính các ủy viên
ở đây, thường là 11 hay 15 người, là đầu não cao nhất, do từ các cấp dưới bầu
lên theo các nhiệm kỳ đại hội, và họ thành ban lãnh đạo tập thể, nhưng đời nào
cũng chỉ Tổng bí thư của Đảng là quan trọng nhất, vì là người điều phối, điều
khiển chung tất cả. Toàn bộ máy này của Đảng lãnh đạo chung toàn thể cơ cấu hay
bộ máy Nhà nước, trong đó có Quốc hội, các địa phương và các ban ngành trong
toàn quốc nói chung. Đấy là tính cách độc đảng và độc tổ chức là như thế. Tức
sự tập trung quyền hành tối đa, chỉ duy một nhất đầu chế chi phối mà không phải
kiểu phân quyền rạch ròi ra tam quyền độc lập là hành pháp, lập pháp, tư pháp
riêng rẽ như mọi nước không cộng sản. Dĩ nhiên trong một bọ máy toàn diện, tổ
chức toàn diện, lãnh đạo toàn diện và theo dõi kiểm tra toàn diện như vậy, thì
không bất kỳ ai ngo ngoe hó hé điều gì ngoài các nghị quyết của đảng, toàn dân
cho đến mọi đảng viên, kể cả mọi ủy viên trung ương cũng chỉ đều có thế. Dân đi
ra ngoài thì sẽ bị cưỡng chế, các đảng viên đi ra ngoài phải bị quở trách hay
kỷ luật, mất uy quyền, các ủy viên trung ương nào đi ra ngoài phải bị kiểm điểm
hay mất ghế. Như vậy mọi sự tổ chức lãnh đạo đó lâu ngày vô hình chung đã trở
thành quán tính, như một guồng máy răm rắp tự động, nó hoạt động như theo
nguyên tắc trừu tượng, vô hình nào đó, vượt lên trên hay ra ngoài mọi ý chí
riêng lẻ của mọi cá nhân. Cho nên dân chủ tập trung thực chất cũng chỉ là hình
thức, vì ai cũng phải dõi theo người khác để phát ngôn và hành động, không ai
được quyền phát biểu riêng tư hay có quan điểm riêng tư của mình. Mọi nghị
quyết vẫn là nghị quyết trong vòng khuôn khổ đã có, không phải kết quả của kết
luận tự do và quyết định của mỗi đảng viên. Số đông hay nguyên tắc tuân thủ
theo đa số, thực chất cũng là trong khuôn khổ, nền nếp đã có, không phải đa số
hoàn toàn tự quyết theo cách tự do của riêng nhận thức hay lý trí phán đoán của
mình.
Tất cả mọi điều đó thực chất là kết
quả của quá trình xây dựng lâu dài trong thực tế bắt đầu từ đảng CS Liên Xô
trước kia, qua các nước CS đã có và cho mãi đến ngày nay cũng không hề thay đổi
mấy. Nó như cái hòn tuyết cứ càng lăn thì càng to ra, nặng thêm, hay như lạch
nước cứ càng chảy càng mở rộng và tràn đầy hơn cho tới khi nào kết thúc. Không
bất kỳ cái gì chống lại được nó, bên ngoài cũng như bên trong đều thế nếu chỉ
yếu hơn nó tức quán tính đó, và toàn thể mọi đảng viên cũng như toàn xã hội
cũng đều phải tuân phục như vậy. Dó là kết quả hay kim chỉ nam của cái được gọi
là nguyên tắc chuyên chính vô sản của Mác và Lênin là người đầu tiên thực hiện
và cụ thể hóa ra thành bài bản, ngay cả Stalin hay Mao Trạch Đông cũng là những
người gia cố kỳ cựu và thành công nhất. Đó là điều mà các cán bộ tuyên huấn của
đảng từng xiển dương đảng cộng sản là người tổ chức mọi thắng lợi, chủ nghĩa
Mác Lê là vô địch bách chiến bách thắng, là đỉnh cao của trí tuệ loài người.
Chỉ có điều là gần một thế kỷ thực hiện trên toàn thế giới, từ số lượng trên cả
trăm đảng CS, bây giờ thực tế chỉ còn có 4 nước có đảng CS lãnh đạo còn lại, và
hầu như mọi nước còn lại đó ngày nay đã hoàn toàn từ bỏ nền kinh tế bao cấp ban
đầu, đều chuyền sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hội nhập quốc tế, nhưng
chỉ còn khẩu hiệu bề ngoài để hi vọng mơ hổ hoặc mang ý vớt vất là kinh tế thị
trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa.
2/
Thực sự mục đích cốt lõi của nguyên tắc chủ nghĩa cộng sản hay của đảng CS là
gì ?
Khởi sự đó không ngoài là nhằm triệt
để xóa bỏ mọi quyền tư hữu. Tức chỉ còn kinh tế tập thể, xã hội tập thể về mọi
mặt. Đó cũng là để nhằm xóa bỏ xã hội tư sản, tư bản, chỉ còn lại xã hội vô sản
hoàn toàn sản xuất theo tập thể, trực tiếp phân phối sản phẩm lao động không
thông qua cơ chế thị trường, không sử dụng tiền tệ, dần dần loại bỏ hết mọi bộ
máy nhà nươc, chỉ còn có kinh tế kế hoạch hóa chặt chẽ, đó là cái được Mác gọi
là san bằng giai cấp, san bằng bóc lột, đi đến xã hội phi giai cấp sau này. Cái
đó còn được gọi là thời kỳ quá độ, chuyên chính chỉ là thời kỳ quá độ để đi đến
xóa bỏ chuyên chính và giải phóng xã hội hoàn toàn. Mác cho mọi quan điểm chính
trị pháp lý hay đạo đức truyền thống trước Mác đều là sản phẩm của bọn tư sản,
của đấu tranh giai cấp, và chỉ có Mác mới là đạo đức cách mạng, nên phải xóa bỏ
đến tận cùng mọi sản phẩm của xã hội tư sản để xây dựng xã hội vô sản bằng thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa cộng sản.
Duy có điều không biết đến bao giờ thì
thời kỳ quá độ đó mới chấm dứt. Có người đoán liều có thể cả trăm năm, thậm chí
cả ngàn năm nhưng cũng phải cố theo như thế, cố thắt lưng buộc bụng và tuân thủ
chuyên chính để đi lên như thế. Nhưng Mác lại quên rằng bản chất tự nhiên của
con người là đầy bản năng riêng tư và ích kỷ, từ đó cũng đầy tâm lý cơ hội và
thích nghi. Cho nên không ai ngạc nhiên hiện nay ở các nước cộng sản còn lại
đều đầy tư bản đỏ, tức các tầng lớp có đặc quyền đặc lợi mới, vươn lên làm giàu
và trở thành tư sản giấu mặt mà đảng sẽ không bao giờ biết hay không bao giờ
khui ra được. Bởi vì tất cả bọn họ đều chỉ lợi dụng được nguyên lý chuyên đoán
sẳn có, tức có quyền thì có tiền, có tiền thì thành tư bản chỉ là điều hết sức
tự nhiên vì khách quan. Đây chính là điều éo le của chủ thuyết Mác và khiến
cuối cùng toàn bộ hệ thống chuyên chính của Liên Xô và khối Đông Âu cũ đều phải
sụp đổ sau khi bức tường Berlin bị sụp đổ và bị xóa sổ hoàn toàn trong cuối thế
kỷ trước.
3/
Nguyên tắc tự do dân chủ trong chế độ cộng sản.
Nguyên tắc tự do tự nhiên là nguyên
tắc chung của mọi loài sinh vật. Đó là quy luật khách quan hầu để phát triển.
Bởi nếu bị bó buộc hay bị khống chế mặt nào đó, mọi hoạt động sinh học dần dần
bị khống chế, thoái hóa, suy biến và hủy diệt. Nhưng trong xã hội con người là
xã hội luôn phải có tổ chức, có nguyên lý hoạt động hiệu quả, bởi đó khái niệm
tự do ban đầu được gắn kết thêm với ý niệm dân chủ. Tức dân chủ là nền tảng, là
nền móng của tự do cũng như ngược lại. Nhưng phát triển xã hội như thế là phát
triển theo cách tư bản, đó là điều Mác không đồng ý, phủ nhận và chống lại. Bởi
nếu để tự do thì không bất kỳ cá nhân nào lại thích cộng sản hay thực hiện cộng
sản cả. Má biết thế nên đề ra chủ trương độc tài chuyên chính. Tức muốn làm
cộng sản thì phải xóa bỏ tự do, phải đúc khuôn và khuôn đức càng chắc càng bền
thì các cái bánh cộng sản đúc ra mới ổn định và như nhau được. Mác phải dựng
nên giai cấp công nhân để làm nòng cốt, cũng như Mao không có giai cấp công
nhân thì phải dựng lên giai câp nông dân để làm nóng cốt thế vào. Chuyên chính
công nhân ở các nước phát triển trở thành chuyên chế nông dân ở các nước nông
nghiệp lạc hậu. Nhưng Mác quên một điều khi người công nhân hay nông dân đi vào
chính quyền, vào nhà nước, họ cũng không còn là công nhân hay nông dân như
trước nữa, họ trở thành giai cấp quan liêu mới vì phần đông họ ít học, ít nhận
thức. Đó là chưa nói những người không phải xuất xứ từ các giai cấp này, nhưng
lau lách giỏi, thủ đoạn giỏi, sẽ thích ứng theo đó mà vào đảng, mà ngoi lên để
nắm quyền hành, cuối cùng họ chỉ nhân danh, lợi dụng ý niệm giai cấp mà tính
cách giai cấp chẳng còn ý nghĩa thực tế nào cả. Thật là bé cái lầm của học
thuyết Mác, cuối cùng gậy ông đập lưng ông, công nhân cũng hoàn công nhân, nông
dân vẫn hoàn nông dân trong đa số, cũng bị bóc lột bởi thiểu số, lợi dụng bởi
thiểu số, và mèo vẫn hoàn mèo trong xã hội. Đó là niềm đau xót nhất mà mọi
người phải chịu vì bị dẫn đi theo một con đường vong gai góc, gian nan bao mặt,
cuối cùng lại chỉ quay về khởi điểm cũ. Ngày nay các nước cộng sản còn lại đều
quay trở lại kinh tế thị trường nhưng trong thời kỳ sơ khai trong khi đó các
nước tư bản đã vượt qua điều này từ cả trăm năm trước.
Cho nên nguyên lý tự do dân chủ trong
các nước cộng sản thực chất chỉ là hình thức, không ra ngoài được nguyên tắc
chuyên chính. Bởi vì đó là thứ dân chủ tập trung, tức chỉ một đầu duy nhất điều
khiển tất cả, và dầu có được hô lên là dân chủ gấp cả triệu lần thì cũng chỉ
nói chơi, nói cường điệu và hoàn toàn rỗng tuếch. Bởi tự do dân chủ thực chất
hay thực sự thì phải có nhận thức độc lập, tư duy độc lập, năng quyền độc lập,
ý chí độc lập. Đàng này tất cả thần dân dù loại nào cũng đều phải bị điều khiển
và tuân theo một ông vua duy nhất, vua tập thể tự nội bộ tuyển chọn hay tấn
phong lên, không ai được nói ngược, suy nghĩ ngược lại hay làm ngược lại. Như
vậy Mác đã đưa xã hội phát triển quay trở lại với giai đoạn quân chủ phong kiến
dưới hình thức mới, công lao giải phóng nhân loại của Mác ở đâu không thấy, chỉ
thấy tội lỗi của việc kéo xã hội và lịch sử đi thụt lùi mà Mác gọi là cách mạng
vô sản. Thực chất ý niệm vô sản là ý niệm nghịch lý, mâu thuẫn lại khuynh hướng
tự nhiên của cá nhân và xã hội. Mác nhầm lẫn giữa ý nghĩa phương tiện của sở
hữu thành ra mục đích tối hậu của nó, do đó phiên diễn lệch lạc sai trái cả
khách quan lịch sử, khiến cho không thấy Mác cách mạng xã hội ở đâu mà chỉ thấy
phản động vì phản tiến hóa, phản phát triển và làm nô lệ hóa, phi nhân hóa con
người và xã hội. Cho nên khoa học là phải theo khách quan, theo nguyên lý đúng
đắn, học thuyết của Mác chỉ là lệch lạc, là chủ quan, là nhận thức yếu kém và
sai trái về mọi vấn đề, trong lý thuyết lý luận cũng như trong thực hành thực
tế, nên cho dù Mác tự mệnh danh học thuyết của mình là “khoa học” khiến nhiều người mê lầm và bị thu hút,
thì thực chất nó là phi khoa học, phản khoa học một cách rõ ràng nhất, nên mọi
sự thất bại đương nhiên của nó cho tới nay chỉ đơn giản là vì thế.
4/
Nguyên tắc và ý nghĩa của tự do dân chủ truyền thống là thế nào ?
Nói cho cùng đó là ý nghĩa của khách
quan và nhân văn. Ai sinh ra đời cũng bình đẳng và tự do, đó là ý nghĩa khách
quan. Ai cũng có quyền sống độc lập không phải bị cưỡng chế phi lý bởi ai, vì
có thế họ mới tự do phát triển và hạnh phúc tối đa, vì thế xã hội cần phải dân
chủ, đó là ý nghĩa nhân văn. Mặt khác đó cũng là ý nghĩa khoa học vì nó đúng
đắn, chính xác, hiệu quả, cần thiết mà không thể nào khác. Như vậy cũng có
nghĩa nền tảng của cá nhân và xã hội là tư hữu như điều kiện đầu tiên tự nhiên
mà không phải ngược lại như Mác quan niệm. Bởi vậy khái niệm xã hội vô sản là
phi lý và chủ nghĩa vô sản là trái khoa học, phi khách quan, ngược lịch sử. Do
đó mọi lý luận độc đoán của Mác chỉ là ngụy biện và phi giá trị vì đó chỉ là sự
cưỡng từ đoạt lý, ép người ta phải nghe, buộc người ta phải chấp nhận giả tạo
mà không ai thấy nó là hợp lý, thích thú hay kết quả cả. Cho nên Mác vơ đũa mọi
quan điểm phi Mác xít là phản động, là tư sản, đó là một đầu óc càn dở, bệnh
hoạn, điên loạn, vì chủ quan và do sự nhận thức sai khách quan, sai sự thật. Mà
đi ngược lại tính khách quan chung, đi ngược lại mọi hạnh phúc chung, thế là
phản động, phản nhân văn chớ còn gì nữa. Cho nên quả thật Mác là người cố chấp,
không đúng đắn, ngoa ngôn cũng như bất chấp đạo lý và sự thật khi mình sai mọi
điểm mà cho chính người khác mới sai. Cho nên chủ nghĩa Mác chẳng khác chủ
nghĩa về một xã hội bôn sai, tức uốn cành, cắt lá một cách giả tạo, tưởng làm
cho đẹp mà thật ra chỉ phục vụ thị hiếu giả tạo hay thành tích, công đức giả
tạo của một số ít người. Sự hi sinh toàn lịch sử, toàn xã hội chân thực để phục
vụ các ý đồ hay cảm quan riêng nào đó thật là tội lỗi của Mác. Quả thật Mác bé
cái lầm hay đầu óc có vấn đề là hoàn toàn như thế. Mà ai cũng biết bon sai là
để làm cảnh còn không có lợi ích gì thiết thực, nó chỉ để phục vụ các ông chủ
do chính bàn tay các thợ làm vườn tạo ra. Nó hoàn toàn trái với quy luật và
nguyên tắc của tự nhiên cũng như của xã hội. Tính cách ngạo mạn đối với con
người, với xã hội và kể cả với lịch sử của Mác là như thế.
5/ Vậy tại sao một thiểu số người lại có thể nắm chóp được toàn xã hội ?
Điều này dễ hiểu là do sức mạnh của tổ
chức và bạo lực. Nguyên tắc bạo lực là nguyên tắc đã do Ăngghen và Mác đưa ra
ngay từ đầu. Nguyên tắc tổ chức là Nguyên tắc đã do Lênin dày công thực hiện.
Mác cũng nói sức mạnh vật chất là vũ khí của sức mạnh tinh thần. Ta chỉ cần
tưởng tượng một người chiếm giữ được ngọn đèo, có khi cả vạn người không qua
được. Nhất phu đoạt ải vạn phu bất khai là điều người xưa từng nói. Nếu có một
bể chứa kín lớn vững chắc, thì toàn bộ số nước chảy vào hay chảy ra phải đều
nhất thiết đi qua cái lổ lù bé xíu duy nhất mà cái bề ấy có. Đó là do nguyên lý
vật lý khách quan của tự nhiên. Cho nên do sự tổ chức của xã hội cộng sản quá
toàn diện và chặt chẽ trong những thời buổi hoàng kim nhất của nó từ A đến Z ở
khắp mọi nơi, giống như một tấm lưới nhặc khít rịt thì có cái gì ra ngoài được.
Bởi vậy trong chế độ quân chủ chuyên chính nhất cũng chỉ một vì vua là độc tài,
còn trong xã hội mác xít, toàn xã hội đều độc tài do từ sự độc tài của một chóp
bu duy nhất, chỉ có ai mê ngủ mới không biết điều đó. Đó là điều chưa hề có
trong lịch sử nhân loại, nên như bắc Triều Tiên hiện nay là trường hợp điển
hình rõ nhất như thế. Nên thông thường, trong xã hội cộng sản, kể cả những
người cầm quyền cao nhất cũng không có tự do, bởi nếu họ loạng quạng thì cũng
bị hất ra ngay do qui luật quán tính.
Ngoài nguyên tắc tổ chức còn nguyên
tắc tuyên truyền và huấn luyện. Cứ nói hoài con người sẽ nhập tâm. Giống chuyện
trong núi đó không có cọp, nhưng nhiều người đồn thổi, vậy là mọi người đều tin
có cọp. Hay đứa bé được cho mang mắt kính màu nào, nó cũng rất khó phân biệt
được những màu khác. Nguyên lý phản xạ tự nhiên về óc não cũng là điều mà nhà
tâm lý Pavlov cũng đã thí nghiệm phản xạ của loài chó. Cho nên nếu toàn xã hội
nào đó đã được trang bị ngay từ nhỏ những niềm tin nào đó thì suốt đời phần lớn
đều tin đó là thật, là chân lý khách quan, không ai có thể nói ngược hay làm
ngược lại được. Chính đây là điều phi nhân và phi xã hội nhân văn nhất mà học
thuyết Mác trong thực tế đã mang lại cho lịch sử loài người. Và như vậy thì với
một số lượng nhỏ người nhưng có các phương tiện đó trong tay có khó gì không
cai quản được toàn bộ xã hội nhiều gấp trăm hay gấp ngàn lần hơn. Chỉ cần một
nhóm nhỏ trong Ban chấp hành đảng CS Trung Quốc hay chỉ mình cá nhân Mao Trạch
Đông trong suốt thời gian dài vẫn cai quản được cả hơn một tỉ dân Tàu đâu khó.
Nước Nga thời Stalin hay bất kỳ nước CS nào khác cũng đều như thế. Đó cũng là
nguyên tắc mà nhà độc tài Đức quốc xã Hitler đã từng sử dụng rất khét
tiếng.
Bởi tại sao ? Vì cá nhân con người là động vật
có xương sống, nhưng trên bình diện toàn xã hội đó chỉ là một thực thể thần
mềm. Nó phải mềm thì chui qua đâu cũng lọt và bất kỳ sức mạnh phi lý nào cũng
đều định hình và giam hãm nó được. Nên cái khác của xã hội con người là tính
nhân văn, tính khoa học, hay tính vật chất và tính cưỡng chế một chiều áp dụng
cho nó mà thôi. Chẳng khác gì giữa nước chảy và nước tù đọng, cũng bản chất
nước mà tính cách và công năng khác nhau. Tính chất của ao tù và đầm lầy khác
với sông ngòi và biển khơi như thế nào thì ai cũng biết. Tất nhiên mọi cái gì
sinh động tự nhiên thì luôn luôn hiệu quả tốt đẹp hơn mọi cái gì ngưng trệ hay
tù đọng. Và sự khác nhau giữa nền “dân chủ nhân dân” với cả triệu lần, và nền
dân chủ tự do kinh điển hay cổ điển truyền thống, thì không có mấy ai lại ngu
dại gì mà không phân biệt được.
Chỉ có điều có nhân con người luôn
luôn thụ động và ích kỷ. Mất một sợi lông mà có lợi cho người khác chưa chắc đã
làm huống hồ mất hết quyền lợi và kể cả mạng sống. Thà đợi người nào làm mà
mình hưởng còn hơn mình tự làm tự hi sinh để người khác hưởng. Đấy chủ nghĩa xã
hội trong các hệ thống xã hội mác xít thông thường nó là như thế. Nó thường
mang lại sự liệt kháng cho tất cả mọi người không loại trừ ai. Do đó bên ngoài
danh từ là chủ nghĩa xã hội mà thực chất bên trong lại là chủ nghĩa cá nhân ích
kỷ tận mạng hơn ai hết. Bởi mọi người dân không có phương tiện nào khác hơn chỉ
nghe và nhìn. Cho nên nó cũng đồng nghĩa với sự thụ động, sự dững dưng, sự ích
kỷ, sự cam chịu, sự chịu đựng, sự bàng quan, sự vô cảm nhiều mặt mà nhiều người
đã ngây thơ lên tiếng ca thán. Con người thực chất phần đông chỉ sống ở mức
sống tối thiểu nhất mà xã hội mang tới được, chỉ có số nhỏ là giàu có lớn, tức
nhờ ở gần những van tích tụ quyền lực, hay chính nó lại là những van mở khép quyền
lực. Mà cũng chỉ đời sống sinh học là chính, tức tiếp nạp và tiêu thụ vật chất,
còn ý nghĩa tinh thần cũng chỉ là trình độ hiểu biết thấp nhất, một chiều nhất,
công thức nhất, nghèo nàn nhất, và thậm chí cũng nhạt nhẽo nhất. Trong xã hội
đó chỉ có tâng bốc, ngưỡng mộ, thần thánh hóa kẻ quyền lực là chính, người lãnh
tụ là chính, có khi tâng bốc suốt đời một cách vô điều kiện mà không có yếu tố
nào để so sánh với cái gì khác. Đó chính là một xã hội vong thân toàn diện, mọi
cá nhân đều đánh mất bản thân toàn diện, điều mà chính ban đầu bản than Mác đã
kêu gào và phản đối trước nhất trong thời đại của ông ta. Đấy quả là ngựa về
ngược là như thế. Nên mọi cái gì Mác mơ hão làm tốt đẹp cho xã hội thì ngược
lại do hậu quả của học thuyết ông ta nó trở thành thậm tệ nhất cho xã hội,
thành tệ trạng nhất mà từ ngàn xưa chưa đâu từng có.
Nói chung trong xã hội triệu lần tự do
đó thì không ai tự do cả nên người nào ở vị trí nào cứ ở nguyên vị trí đó. Nó
là một xã hội phân tầng chặt chẽ, phân giai cấp chặt chẽ. Giai cấp “quý tộc”
hay “dân tây” đời mới chính là các đảng viên, đó là điều hấp dẫn mọi người vào
đảng lớp mới sau này. Vào để có quyền lợi hơn mọi người khác. Nhưng khi vào rồi
thì khó mà ra được, vì đã trên lưng cọp rồi, hoặc chỉ vào đường ống một chiều
mà không có lối ra ngược lại. Điều này hoàn toàn khác với những lớp đảng viên
đầu tiên. Lúc đó là lớp người ban đầu chỉ gia nhập để hăng hái đánh Tây, nhưng
dần dần cũng bị thuần hóa dần, khiến trở thành sức mạnh chung cho cả tập thể,
đó là nguyên tắc của hòn tuyết rơi hay khe nước chảy mà từ đầu đã nói. Cho nên
chẳng có điều gì là lạ lẫm hay đáng ngạc nhiên trên đời này, đó chẳng qua là do
điều kiện, do tình huống, do thói quen, do tập tính xã hội thế thôi. Như người
say thì chẳng bao giờ biết mình say. Vì khi biết là lúc họ đã tỉnh rồi. Những
người nghiện mọi thứ khác cũng thế, người ta luôn tự mắc bẫy trong đó mà không
phân biệt. Đó là cái hố của quán tính, giống như trong thế giới vật lý, thế thì
ý thức tinh thần con người cũng gần giống như thế. Nó chẳng qua là cái bẫy năng
lượng, vì với cái bẫy này thì một năng lượng nhỏ cũng đủ chi phối toàn bộ năng
lượng rất nhiều lần lớn hơn. Một cái chốt cửa cũng đủ giữ chặt được đôi cánh
cửa to đùng nhất. Hay cũng giống như cánh cửa to đùng vẫn phải quay quanh cái
bản lề nhỏ xíu thì có lấy chi mà lạ. Đó chẳng qua là cái thế ghìm nhau mà thôi.
Gặp thời thế thế thời phải thế, không phải chỉ 95 triệu dân mà kể cả 3,8 triệu
đảng viên ngày nay cũng vậy, cũng đều đã bị cài vào thế cả, không loại trừ bất
kỳ ai, kể cả những người được cho là nắm quyền hay lãnh đạo đảng cao nhất, thế
thôi. Nhưng tất cả mọi thực tế này cũng sẽ phải đi đến một lối ra khi bổng
nhiên có một điểm bất ngờ nào đó đột phá sớm nhất cũng như trở nên hiệu lực
nhất. Và khi đó thì mọi sự quy chụp mang tính tiêu cực, phi lý và sai trái cũng
sẽ không còn hiệu quả gì nữa cả.
VÕ HƯNG THANH
(17/10/2015)
**
NÓI VỀ SỰ ĐỐI LẬP VÀ SỰ ĐỐI NGHỊCH
Đối lập hay đối nghịch là hai ý nghĩa
chính trị quan trọng mà mọi người không thể không biết đến. Hiểu nhầm lẫn hai
điều này hay nhập nhằng hai điều này là một nguy hiểm với xã hội và đối với mọi
người trong sáng hay có thiện chí vì ích lợi chung không ai có thể chấp nhận
được. Bởi vì trong hai ý niệm trên đều chứa đựng ý nghĩa đối, tức là ngược lại.
Nhưng trong ý nghĩa trước, chữ đối chỉ mang tính cách xác lập, bổ sung, trợ
lực, vì nó đi theo với bổ nghĩa “lập”. Còn trong ý nghĩa sau, chữ đối mang tính
cách bài trừ, loại bỏ, triệt tiêu, chống đối theo cách bài trừ, tiêu diệt, vì
đi theo với bổ từ “nghịch”. Như vậy đối lập và đối nghịch rõ ràng là hai khái
niệm, từ ngữ hoàn toàn khác biệt, thậm chí trái ngược nhau. Đối lập có thể chỉ
mang tính xây dựng, tích cực. Trong khi đó đối nghịch chi mang tính cách tiêu
cực thuần túy, theo kiểu một còn một mất. Bởi từ sự khác biệt rạch ròi, rõ rệt
đó, không nên đánh đồng hai ý niệm này với nhau, không nên nhầm lẫn chúng để
gây ra mọi sự hiểu lầm và ngộ nhận không cần thiết hoặc chỉ vô ích. Đó là điều
cần nên được phân tích, nhận định và kết luận một cách đúng đắn và hữu ích như
sau.
1/ Tại sao xã hội cộng sản thường không chấp nhận đối lập ?
Đối nghịch thì không bất kỳ xã hội nào
chấp nhận, bởi có thể nó hay mang tính cách tiêu cực, thậm chí phá hoại. Nhưng
đối lập thì mọi xã hội tự do đúng nghĩa đều luôn chấp nhận hay phải chấp nhận,
bởi tính chất tích cực cần thiết, cân bằng và hỗ trợ, bổ sung của nó. Sự khác
biệt trên là do quan điểm ngay từ đầu của lý thuyết cộng sản do Mác đưa ra. Tức
xây dựng trên niềm tin đối với chuyên chính vô sản, cho đó là biện pháp duy
nhất, tốt nhất để đạt đến mục tiêu cuối cùng không thể nào khác. Chính sự mê
tín về nguyên lý lịch sử trên ý niệm biện chứng mù mờ mà Mác đã trở nên quá
khích, độc đoán và thiển cận như vậy. Điều này còn được Lênin, nhất là Stalin
bổ sung, tăng cường thêm, đưa đến sự độc tài sắt máu khét tiếng thời Stalin hay
Mao Trạch Đông hay Khmer đỏ mà ai cũng rõ. Đó thật sự là quan điểm hết sức chủ
quan, mang tính ức chế toàn diện và thật sự cũng phi lý toàn diện.
Bởi nếu học thuyết Mác là hoàn toàn
tốt đẹp, hoàn toàn lý tưởng, hoàn toàn đúng đắn, tại sao lại phải chuyên chính
? Đó là điều chắc Mác cũng không thể tự giải thích được. Cho nên điều đó chỉ
nói lên khía cạnh ngụy biện, tính chất chủ quan hẹp hòi hay tính cách lệch lạc
không trong sáng nào đó mà ai cũng có thể kết luận được. Bởi vì như thế là Mác
không hoàn toàn tin tưởng vào sự phục thiện, tính trong sáng và cả thiện chí
của con người, của xã hội, thế làm sao còn mơ tưởng hay quyết chắc được một xã
hội thiên đường lý tưởng trong tương lai ? Đó quả là điều mâu thuẫn, nghịch lý
ngay từ đầu, trong cả bản thân cốt lõi của học thuyết Mác mà chỉ có những người
hoàn toàn hời hợt, nông cạn mới không thể nhận thức ra.
Thật ra thì không bất kỳ sự vật nào
trong thực tế có thể đứng hoàn toàn riêng lẻ, độc vị mà có thể hoàn hảo hay tốt
đẹp được. Đó cũng có nghĩa loại bỏ mọi tính cách khách quan mà chỉ còn giữ lại
duy tính chủ quan. Bởi bất cứ sự vật nào trên đời cũng có hai mặt cùng bổ sung
cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Từ tấm gương soi cũng phải có mặt trái mặt phải,
đồng tiền cũng vậy, mọi vật khác cũng vậy, phải có cái gì đó khác để so sánh
với nó, đối chiếu với nó, làm nền tảng để so sánh nó, điểm tựa cần thiết để nó
dựa vào mà không phải là nó để phù trợ thêm cho nó. Có nghĩa nếu không có tính
khác biệt nào của cái khác cũng không còn sự đối chiếu, so sánh, cũng không cỏn
cơ sở để kết luận điều gì là hợp lý hay không hợp lý, là tốt hay xấu, là cần
thiết hay không cần thiết, là hữu ích hay không hữu ích, là lợi hay hại.
Đối lập như vậy cũng như một cơ sở để
giúp biện luận và tự biện luận. Bởi nếu không thể thì cũng không thể có phán
đoán hay kết luận đúng đắn nào hết, không có sự tiến bộ hay phát triển nào hết,
chỉ có sự ngăn trở, trì trệ, u muội và thụt lùi. Đối lập cũng còn là yếu tố
giúp cho sự xoay vần luân phiên thiết yếu, giúp cho sự đổi mới hay hoàn thiện
của cái tổng thể chung, giống như người ta đi bằng hai chân, cái này trụ thì
cái khác tiến và cứ thế. Dó là yếu tố có khi cũng gọi là tính biện chứng, tính
đắp đổi, tính luân phiên của phát triển và đình đốn. Có người còn gọi đó là sự
thống nhất của hai mặt đối lập. Cho nên phủ nhận đối lập cũng là phủ nhận biện
chứng trong khi người ta cứ bô bô nói về biện chứng một cách giả dối và giả
tạo. Cho nên trong cuộc sống chỉ có lòng chân thực, tinh thần khách quan, ý
thức nhân văn, óc công bằng, tính chính đáng mới khiến con người sống hài hòa,
hạnh phúc vì tin tưởng với nhau được. Nếu thiếu những thứ ấy, xã hội chỉ giả
tạo, cượng ép, và đánh mất cả tình người chân chính nhất.
Thực chất ngay trong bản thân một
người có khi cũng nhận thức hay suy nghĩ điều mà trước đó họ đã có. Cho nên có
khi nghe được ý kiến ngược chiều, trái ngược lại của người khác, hay trái chiều
của dư luận xã hội, của truyền thông nói chung, còn hoàn toàn ích lợi mà không
tai hại gì cả. Có nghĩa nếu không có tự do báo chí một cách đúng đắn, không có
tự do truyền thông các mặt một cách nghiêm túc, chỉ làm nghèo nàn, cứng nhắc, u
muội, trì trệ, chủ quan, nông nỗi xã hội và tất cả mọi người trong đó. Một nền
chính trị không có đối lập do vậy cũng chỉ là một nền chính trị một chiều, độc
đạo, giả tạo, bó buộc, cưỡng chế ngây ngô, và thực chất cũng chẳng mang lại
điều gì có lợi cho ai cả, mà còn hoàn toàn ngược lại, tạo bao hệ lụy gây ra tai
hại nhiều mặt cho toàn xã hội. Đó là lý do tại sao không bất cứ nước tiên tiên
nào lại phủ nhận đối lập, ngăn cản đối lập, vì họ hoàn toàn trung thực, khách
quan và sáng suốt, thấy được đối lập không những là cái quyền tự nhiên của mọi
người mà còn là lợi ích không thể thiếu trống trong bản thân xã hội. Đây là
điều mà mọi nước cộng sản từ trước đến nay không hề có kinh nghiệm và cũng
không muốn có kinh nghiệm. Chính kết quả vô lý trong thực tế của học thuyết Mác
là như thế, nó cũng phơi bày mặt trái của nó ra như thế, hay nói khác nó thực
chất bản thân nó là sai trái, không có ý nghĩa khoa học gì cả hay thậm chí cũng
không mang lại ý nghĩa hay giá trị tích cực nào cho con người, lịch sử cũng như
cộng đồng và xã hội.
2/ Tình trạng ở Việt Nam từ sau 1975 đến nay thế nào ?
Trong tình thế chiến tranh trước và
sau năm 1954 thì không nói, người ta có thể nại lý do vì thời cuộc để tập trung
tất cả cho cuộc chiến. Thế nhưng sau 75, khi hòa bình đã có trong cả nước, tình
trạng chuyên chế một chiều càng mạnh mẽ hơn mặc dầu trên các phương tiện truyền
thông chính thức đều luôn luôn không ngớt khẳng định chính quyền là của dân, do
dân và vì dân cùng với nền dân chủ gấp cả triệu lần. Và hoàn toàn báo chí chỉ
tập trung trong tay Nhà nước nên cũng không thể nào có thứ ánh sáng xây dựng
hay đối lập tích cực nào từ phía người dân và xã hội dân sự cả. Chỉ có cùng một
luận điệu thống nhất của Nhà nước từ trước ra sao, giai đoạn nào cũng vậy, ai
lên nắm quyền cũng vậy, tức lúc nào cũng sáng suốt ưu việt cả, ngay khi đổi mới
rồi thì sự đổi mới đó cũng lại hoàn toàn sáng suốt ưu việt giống y như trước.
Ngoài ra chỉ có cách nói một chiều theo như thế của mọi kẻ nịnh bợ, vô ý thức
khách quan hay độc lập, điều đó thật sự chỉ khiến có một số ít nào đó xu mị hay
kém nhận thức hưởng ứng, còn hầu toàn phần lớn xã hội đều lãnh cảm, dững dưng
mọi mặt mà không ai dám lên tiếng hay dám tỏ ra phản ứng cả. Nhà nước trở thành
kiểu một mình một chợ là chủ yếu, người dân chỉ hụ hượi cho có, vì thụ động và
sợ sết, ai ai cũng vậy. Nên mặc dầu thành quả chung mọi mặt luôn được tuyên
truyền rầm rộ, nhưng qua mỗi thời kỳ những mặt yếu kém cứ lộ ra, từ kinh tế đến
giáo dục và xã hội nói chung, đến cuối cùng lại nhiều thống kê và kết luận
riêng cho thấy nước ta tụt hậu thật sự so với nhiều nước chung quanh trong khu
vực, có khi từ 30 đến 50 năm, còn so với các nước tiên tiên thì thậm chí đến cả
trăm năm hay vài trăm năm. Đây quả là một éo le nhưng thông báo chính thức
không bao giờ nói lên điều đó cho dân biết. Có nghĩa là luôn tránh né, che
khuất với người dân thì có làm sao và bao giờ xã hội có thực chất để phát triển
đi lên ngang tầm với giá trị và triển vọng vốn có được.
Khuyết điểm đó do đâu ? Tất nhiên
trước tiên hết do nguyên tắc chuyên chính do thuyết Mác đã đưa ra, Thực chất nó
như thế cho dù nó được báo biến hay ngụy tạo dưới bất kỳ cách nào cũng vậy. Như
vậy chủ nghĩa xã hội thực chất như kiểu truyền thống đã hoàn toàn bị tráo ngược
lại, thay vào cái được gọi là chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ hoàn toàn hình thức,
tức là một hình thức chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn mới, nhưng thưc tế được ngụy
danh là chủ nghĩa xã hội bởi vì nó chỉ đứng vững trên sự sợ hãi, nghi ngờ,
không tin tưởng lẫn nhau giữa hai bên Nhà nước và người dân hay xã hội. Bởi sự
sợ sệt cả hai phía, nên dân không bao giờ muốn nêu lên hay được phép nêu lên ý
nghĩ chính đáng thật bụng của mình, còn mọi cán bộ Nhà nước, mọi đảng viên phần
lớn cũng chỉ nói theo, suy nghĩ theo người khác ngang cơ với mình, không dám tỏ
ra có ý tưởng gì ngược lại hay bất kể mọi sự phê phán hay nhận xét khác quan
nào. Một xã hội như thế thì còn làm sao có đối lập cho dù là nghĩa tích cực
nhất, đó là lẽ tự nhiên. Như vậy mọi người chỉ có thương cá nhân mình là chính,
lo quyền lợi riêng của mình là chính, có tìm ra đâu là người yêu nước, yêu dân,
hay yêu xã hội thật sự.
Nhưng ý nghĩa thật của sự không thích
đối lập hay sợ hãi đối lập là gì ? Đó không ngoài là tâm lý tiêu cực, tức không
ưa cái mới, không ưa cái lạ, không ưa cái phát triển. Đó thật ra chỉ là tâm lý
bảo thủ và ích kỷ. Mặc cảm tự cho mình là đúng, hay cả mặc cảm cho mình là yếu
kém nên tìm cách tự vệ, tìm cách an toàn trước tiên là tốt nhất. Điều này cũng
là do cách đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng. Tức chỉ tuyên truyền một chiều,
nông cạn nên lâu ngày thành quán tính, thành thói quen, mặc cảm trước người
khác hay tâm lý lấn lướt, trấn át người khác, thế còn gì mà mở lòng ra một cách
rộng rãi để tiếp thu người khác, để tin cậy người khác, để thân thiện hay mong
đời gì ở người khác. Nó cũng trở thành ý thức tự mãn và tâm lý ngu dân. Không
muốn mở mang dân trí một cách đích thực, mà chỉ muốn hạ thấp trình độ nhận thức
của xã hội xuống ngang tầm với mình để dễ điều khiển và lèo lái. Ý nghĩa của
mọi hình thức tuyên truyền theo cách nghèo nàn, lặp đi lặp lại cùng giáo điều,
cùng suy nghĩ hạn hẹp chính là như thế. Điều này kéo dài cả non thế kỷ đến nay
chưa biết bao giờ hay cũng sẽ chẳng bao giờ châm dứt. Đây có thể là trách nhiệm
đầu tiên của ông Hồ Chí Minh, bởi vì không ai dám phê phán hay nói ngược lại
ông ta bất cứ điều gì, nên riết rồi chỉ tập trung thần thánh hóa ông ta, đó là
thói quen suy tôn cá nhân lãnh đạo một cách thấp kém và phi lý mà chẳng ai tự
nhận ra hay muốn tự thoát ra cả. Nếu ông Hồ ngay từ đầu không đi theo nền nếp
đó thì làm gì ngày nay lại chỉ bị mịt mùng và luẩn quẩn trong thực tế tồi tệ
đó. Như vậy tâm lý thụ động, tâm lý sợ hãi, tâm lý tự vệ, tâm lý ích kỷ, tâm lý
giả dối như những khía cạnh lôi kéo nhau, bị điều kiện hóa cho tất cả mọi người
cũng như cho toàn xã hội quả thật là những cái gì lố bịch, sai trái cũng như
tai hại chung cho xã hội nhất. Từ đó mọi hệ lụy chung phát sinh ra từ đó trở
thành thực tế tự nhiên dầu người ta có muốn hay không muốn. Và với quán tính đó
không ai thoát ra được, hay có khi cũng còn hết nhận thức ra được mà an phận
trong nó, thậm chí hài lòng trong nó, như thế thì mọi ý nghĩa đối lập còn mong
làm sao có được, còn mang tác dụng gì, và chính điều đó làm thui chột mọi con
người hay thui chột toàn xã hội cũng thế, những không ai được quyền nhận xét
hay nói lên điều đó. Chính cái éo le chung là như thế.
3/ Vậy giải pháp và con đường ra là thế nào ?
Không có giải pháp hay con đường ra
nào có được nếu thật sự mọi người, người cầm quyền cũng như người bị cầm quyền
đều không ý thức được điều đó cũng như không muốn điều đó. Bởi vi nếu không ý
thức được thì cũng không lấy gì mà muốn được. Ý thức có nghĩa là sự nhận thức,
là trình độ dân trí nói chung, người cầm quyền cũng như phía người dân và xã
hội. Kế đó là tình cảm trong sáng, biết lo cho cái chung, lòng thương yêu người
khác, lòng tôn kính xã hội thì mới là động cơ, mong muốn giải quyết được điều
đó. Có nghĩa khi nào mọi người đều có lòng yêu nước thật, yêu xã hội thật mới
có thể có lối ra, mới có thể tìm được lối ra, có ý chí và ý thức nhằm thực hiện
lối ra mà không phải gì khác. Thiếu các yếu tố hay những điều kiện như trên,
chẳng khác gì hòn đá cứ lăn hoài trong bóng tối chẳng có ai cảm nhận được hay cũng
chẳng ai có nhu cầu gì tác động lên đó. Tức chỉ khi nào mọi người đều đặt quyền
lợi chung lên trước hết, tự xây dựng được ý thức tự chủ, tự tạo ra được ý chí
độc lập, trở thành có can trường, can đảm, có tình cảm cao cả riêng của mình,
có các phẩm chất và tri thức có giá trị riêng của mình, thì khi ấy mới tha
thiết muốn nêu lên các suy nghĩ độc lập của mình, mới mong muốn và cho phép mọi
người khác đều có quyền nếu lên mọi ý kiến riêng tư chính đáng của họ, tất
nhiên khi đó mới có thói quen chấp nhận mọi ý nghĩa đối lập tích cực trong cuộc
sống và xã hội. Đó mới là ý nghĩa dân chủ tự do thật sự mà không bất kỳ một cá
nhân nào có thể đơn thương độc mã xây dựng lên được mà phải sự quyết tâm và nổ
lực của tất cả mọi người.
Nhưng người đi tiên phong trong thế trận
đó hiện nay thực chất và thực tế trước tiên không ai ngoài đảng Cộng sản hiện
tại hay nói chung tất cả mọi đảng viên cộng sản hiện tại. Bởi vì thực chất toàn
dân hiện nay đều không có vai vế gì, không có phương tiện hay điều kiện gì. Vì
tất cả mọi cái gì thuận lợi nhất đều nằm trong tay đảng CS và nơi từng đảng
viên so với dân chúng. Cho nên chỉ có thiện chí của đảng CS, sự sáng suốt của
đảng CS, sự quyết tâm hay sự đột phá của đảng CS mới khả dĩ thực hiện được điều
này. Mặt khác, chủ nghĩa Mác Lê ngày nay thực chất cũng không còn hấp dẫn ai
như xưa được nữa. Nghị quyết đã có của Nghị viện châu Âu, cũng như sự sụp đổ và
tan rã của Liên Xô cũng như khối XHCN trước đây đều cho thấy điều đó. Còn ngược
lại, nếu như chỉ vẫn tiếp tục nói theo một chiều, làm theo một chiều từ trước
đến sau, như từ xưa đến nay, thì trước mắt mọi chuyện vẫn cứ tạm thời bình chân
như vại, nhưng không chắc bảo đảm tương lai lâu dài vẫn chỉ có thế. Đấy cũng
chính là một sự thử thách hiện có của đảng CS, cũng như mọi đảng viên CS, vì
thực ra mục đích tối hậu của lý thuyết từ thời xa xưa đến nay đã hoàn toàn biến
đổi mất rồi, không bao giờ còn có thể thực hiện hay theo đuổi gì được nữa. Bởi
vậy, nếu thấy đúng như thế, hay biết điều đúng mà không chịu làm, thì cũng
không bao giờ là sự hay ho hay sáng suốt cả. Vậy nên tính dân chủ thật sự trong
Đảng có hay không cũng ở điều này, hay kể cả sự dân chủ trong xã hội có hay
không, cũng do từ điều này. Bởi đảng CS hiện nay là đảng đang cầm quyền trong
nước, thế thì nếu dân chủ trong Đảng mà thực chất lại không có, còn làm gì nói
tới được sự dân chủ trong toàn xã hội ? Nếu Đảng cũng chỉ do thiểu số Ủy viên
cầm quyền trung ương quyết định, còn mọi đảng viên cũng chỉ là dạng quần chúng
thuần túy, thì cũng chỉ như kiểu người dân loại một còn có gì đáng để nói.
Cho nên nếu toàn thể đảng viên đều
thấy và đều cho đối lập là cần thiết, muốn bỏ hết mọi hủ tục ngăn sông cấm chợ,
một mình một chợ như xưa này vẫn có, và nếu có dân chủ trong Đảng thật sự,
nguyên tắc của số đông thật sự làm nền tảng và phát huy tác dụng, làm sao thiểu
số Ủy viên trung ương không thuận theo hay cản lại được. Cho nên một cuộc cách
mạng hòa bình trong Đảng hiện nay là khởi đầu hay điều kiện hoặc tiền đề cho
một cuộc cách mạng thực chất và hòa bình trong toàn xã hội là như thế. Điều này
nếu làm được dĩ nhiên mọi ý nghĩa và giá trị đối lập là hoàn toàn chính đáng,
hữu ích, cần thiết. Còn nếu không thì sao ? Nếu chỉ duy luận điều của thiểu số
thiển cận và lạc hậu nào đó cho rằng đó là diễn tiến hòa bình, là phản động, là
đi ngược lại quyền lợi của Đảng, hay của chính quyền lợi riêng của họ thì thế
nào ? Thì bế tắt vẫn chỉ hoàn toàn bế tắt, và trước hết, chính mọi người đảng
viên CS khác, cũng như toàn thể đảng CS nói chung, tất nhiên phải chịu trách
nhiệm trước lịch sử dân tộc và dất nước sau này cũng như lịch sử sau này sẽ
không bao giờ quên ghi lại mọi việc của hôm nay. Và kể cả sự mất uy tín, sự mất
mỹ cảm của nhân dân và của mọi người thiện chí và sáng suốt khắp nơi, thì trước
hết chính bản thân ông Hồ Chí Minh phải chịu thiệt thòi trước nhất rồi mới tới
đảng CS, vì chính ông Hồ là người đã tổ chức, rèn luyện, và là người đầu tiên
đã thành lập nên đảng CS mà không ai khác. Nhưng có điều quan trọng khác phải
nói, đó là lâu ngày cũng phải tức nước vỡ bờ, vì khi trình độ dân trí của toàn
dân càng ngày càng lên cao, không bất kỳ sự xuyên tạc hay sự che giấu nào có
thể còn được mãi mãi, tất nhiên phải xảy ra cuộc cách mạng tự phát hoàn toàn
chủ động trong toàn dân và chắc chắn đó hoàn toàn là điều không thể tránh được,
vì đó chỉ là quy luật khách quan tất yếu thế thôi.
VÕ HƯNG THANH
(18/10/2015)
**
NÓI VỀ LÝ TRÍ VÀ XÃ HỘI
Con người là sinh vật có lý trí. Chính
đặc điểm này làm con người vượt lên loài vật và tạo nên xã hội loài người. Điều
này đã phát triển cả triệu năm qua cho mãi đến ngày nay tạo nên văn minh nhân
loại về mọi mặt. Nói như vậy không phải loài vật không có lý trí, nhưng đó là
lý trí tối thiểu, lý trí bậc thấp nhất, nên không thể nào tiến hóa, vươn lên
được như thế giới loài người. Ngay như loài thảo mộc, tức sự sống không phải là
động vật, loại sinh vật này cũng chỉ có khuynh hướng tự nhiên như các phản xạ
đối với môi trường (ánh sáng, nguồn nước, nhu cầu tiếp cận …), tức còn thấp hơn
cả tính cảm giác và tính hành động thích nghi của loài vật. Có nghĩa loài người
là sinh vật cao nhất trên thế gian, và đặc điểm đó không ngoài hay không gì
khác hơn là lý trí.
1/ Vậy lý trí nói chung là gì ?
Lý trí là khả năng tức năng lực phán
đoán hợp lý, hữu ích tự nhiên. Đây là năng lực phát triển qua tiến hóa, qua
lịch sử, qua xã hội, qua giáo dục. Cá nhân nếu chỉ sống một mình ngoài hoang
đảo ngay từ khi sinh ra, tất nhiên cũng chỉ là sinh vật thuần túy như mọi sinh
vật khác, nhiều lắm là có bộ gien con người tiềm ẩn trong đó thôi. Nhưng trong
xã hội, lý trí con người luôn luôn phát triển thêm hơn, đó là do kết quả tương
tác các lý trí cá nhân lẫn nhau. Nhất là do hệ thống giáo dục của từng nước, cả
trên toàn thế giới, bởi vậy lý trí con người luôn phát triển qua thời gian và
lịch sử chung của nhân loại là như thế.
2/ Bản thân hay bản chất của lý trí là gì ?
Lý trí con người nằm trong não bộ con
người, tức trong cái đầu hay trong đầu óc con người mà không phải đâu khác. Đó
là năng lực trừu tượng, có từ đầu ngay khi cá nhân được sinh ra, do thụ hưởng
bởi di truyền chủng loại, về sau càng trưởng thành, phát huy ra nhờ kinh nghiệm
sống, nhờ giáo dục, học tập, làm việc. Đó là kết quả xã hội và kết quả đào tạo,
luyện tập của lý trí. Tất nhiên cũng có sự khác nhau tự nhiên phần nào nhờ bẩm
sinh ở các phương diện nào đó tuy giáo dục, kinh nghiệm, đào tạo có thể không
khác nhau. Đó là óc thông minh riêng của mỗi người, tài năng riêng trong từng
lãnh vực của mỗi cá nhân mà không phải các cá nhân khác có được. Các điều đó
cũng thể hiện ra một tầng lớp gọi là tinh hoa của xã hội, và người Việt trước
kia còn nhận rõ nhân tài là nguyên khí của quốc gia cũng theo ý nghĩa đó. Đây
là điều mà mọi nước văn minh phát triển ngày nay trên thế giới đều chú tâm phát
triển giáo dục cùng phát hiện và đào tạo người tài để xã hội cùng có lợi chung
chính là như thế.
3/ Năng lực hay đặc điểm của lý trí.
Năng lực hay đặc điểm quyết định của
lý trí là sự phân biệt đúng sai, hữu lý hay không hữu lý, do đó đi đến kết quả
là tính hiệu quả trong hiểu biết và trong hành động của mỗi con người. Đó là ý
nghĩa hay áp dụng trong khoa học và trong đạo đức mà mọi người đều có. Lý trí
là nền tảng của khoa học và kỹ thuật, bởi không có nó thì khoa học kỹ thuật
cũng không thể nào có, đó là lý do tại sao loài vật không thể phát triển về
khoa học mà chỉ có loài người mới làm được. Nhưng lý trí cũng là nền tảng của
đạo đức, vì là năng lực phân biệt ý nghĩa, giá trị tốt xấu, hay dở, thích hợp
hay không thích hợp, nhân văn hay phi nhân văn. Điều này cũng chỉ thế giới loài
người mới có, thế giới loài vật không bao giờ có. Đấy ý nghĩa của lý trí làm
nên con người về mọi mặt là như thế. Bởi vậy một xã hội văn minh phát triển
luôn luôn là một xã hội có lý trí cao và có đạo đức cao trong tầm vĩ mô hay kể
cả trong tầm vi mô của nó. Ngay giá trị hay ý nghĩa của mỗi cá nhân trong xã
hội cũng không ra ngoài năng lực của lý trí và phẩm chất về đạo đức tức là về
đức hạnh. Đức hạnh không ngoài là lý trí thực hành, tức sự phân biệt được điều
hay lẽ đúng, giá trị tốt xấu về đạo đức, đức tính trong đời sống xã hội và thực
hiện ưu tiên hoặc hết lòng cho nó về mọi phương diện, xã hội cũng như cá nhân,
người khác cũng như bản thân riêng.
4/ Đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội.
Từ đó cũng thấy rằng đạo đức cá nhân
là phẩm tính tốt của cá nhân, còn đạo đức xã hội là phẩm tính tốt của toàn xã
hội. Tất nhiên toàn bộ xã hội là do mọi cá nhân hợp thành, do đó chính chất
lượng của đạo đức cá nhân làm thành chất lượng của đạo đức xã hội là điều tự
nhiên. Có nghĩa phẩm chất chung cũng là phẩm chất của đa phần, của số đông, nơi
cá nhân cũng thế mà nơi toàn xã hội cũng thế. Đó là lý do trong cuộc đời không
ai là toàn bích, là thần thánh cả, nhưng các đặc tính nổi trội nhất, đa phần
bản chất của cá nhân đó là tốt, đó chính là người tốt, người có đạo đức mà
không cần cầu toàn trách bị, xét nét hết mọi việc làm gì. Như thế cũng có nghĩa
đạo đức cá nhân luôn có hai phương diện chính, là đạo đức bản thân riêng và đạo
đức đối với xã hội hay gọi tắt là đạo đức xã hội của chính cá nhân đó. Nhưng
trong hai ý nghĩa đó thì đạo đức xã hội là quan trọng nhất, vì đạo đức bản thân
chỉ mang lại giá trị, ý nghĩa, kết quả riêng. Trái lại đạo đức xã hội mang lại
giá trị, ý nghĩa, kết quả cho tất cả mọi người hay cho toàn xã hội. Chính đạo
đức xã hội nơi mỗi cá nhân không những nuôi dưỡng ý nghĩa, tinh thần xã hội của
cá nhân đó mà còn nuôi dưỡng, phát triển ý nghĩa, tinh thần, kết quả, triển
vọng chung cho toàn xã hội.
5/ Nói cụ thể đạo đức xã hội có nội hàm là gì ?
Đạo đức là có phẩm chất đời sống tốt,
có sự hành động tốt. Cá nhân và xã hội cũng vậy. Như vậy ý nghĩa đầu tiên của
đạo đức là ý nghĩa đức hạnh, mà yếu tố trước tiên là không ích kỷ, không hẹp
hòi, mà biết sống vì người khác, thương yêu, giúp đỡ người khác, biết nâng mình
lên, biết nâng người khác lên, biết nâng toàn thể xã hội chung quanh lên. Đó là
lòng quãng đại, ý nghĩa bác ái, tinh thần xã hội, ý thức vị tha, nói chung là ý
nghĩa và mục đích nhân văn. Do đó ý nghĩa và tính chất đầu tiên nhất của tinh
thần xã hội hay ý thức xã hội, tức đạo đức xã hội, không gì quan trọng bằng ý
thức yêu nước, tức lòng yêu nước, tình cảm yêu nước, hay tinh thần yêu nước.
Bởi vì môi trường chung quanh cá nhân chỉ mới là cộng đồng, môi trường vĩ mô
bao quát nhất là thế giới, là nhân loại, nhưng môi trường cơ bản quyết định
quan trọng nhất vẫn chính là dân tộc và đất nước hay quốc gia mà người đó được
sinh ra, lớn lên, và được sống. Người ta cũng hay dùng một khái niệm trừu tượng
hơn, đó là tổ quốc, hay tình yêu nước là tình yêu tổ quốc. Điều này thực chất
chỉ mang tính cách lịch sử và thực tế đời sống mà không hề mang tính chất chính
trị bề ngoài hay nhất thời nào đó mà từng có rất nhiều người hiểu lầm. Bởi chỉ
đất nước là đơn vị pháp lý, đơn vị quốc tịch của mỗi cá nhân. Đầu tiên yêu bản
thân mình, yêu gia đình mình, yêu người khác, tức yêu tha nhân, yêu cộng đồng
chung quanh, kể cả yêu chung nhân loại, nhưng căn bản và thực tế nhất vẫn là
tình yêu nước. Bởi vì không có đất nước, không có dân tộc, không có tổ quốc,
thực chất cũng không có tất cả theo ý nghĩa chung nhất. Cho nên nhân cách lớn
nhất của mỗi cá nhân không gì hơn là lòng ái quốc, tức tinh thần yêu nước. Đó
chính là đạo đức xã hội căn bản nhất mà không phải gì khác. Một thứ đạo đức xã
hội thực tế, tự nhiên và cũng hiệu lực nhất. Bởi có đất nước, có dân tộc thì
mới quyết định tất cả hay là có tất cả. Nhân loại, xã hội, hay thế giới, thực
chất không phát sinh từ đâu khác ngoài từ mỗi đất nước của chính mỗi người. Cái
được gọi là chủ nghĩa quốc tế mà trong suốt thế kỷ qua được nhiều người nói
tới, thật ra chỉ là sự ngốc nghếch, khờ dại, dễ bị đánh lừa, chỉ vì bị tuyên
truyền gian dối do vì thiếu nhận thức, kém lý trí hiểu biết. Đó là một thứ quan
điểm chỉ gắn liền với một lý thuyết chủ nghĩa thiếu nền tảng khách quan khoa
học chân xác và hoàn toàn không thực tế, không hiệu quả và không kết quả.
6/
Ý nghĩa và mục đích cuối cùng của lòng yêu nước là gì ?
Đều không ngoài là muốn và làm cho đất
nước mình ổn định lâu dài, phát triển, đi lên mọi mặt và tốt đẹp như mọi nước
tiên tiến khác. Chính sự ổn định lâu dài mới là điều quyết định nhất mà không
phải chỉ là sự ổn định tạm thời trước mắt. Bởi mọi cái tạm thời thực chất đều
là bất ổn định, vì chỉ có cái ổn định lâu dài mới cơ bản, mới nền tảng, mới
trường cửu, và mới quyết định sâu xa nhất. Bởi ai cũng biết việc sống qua ngày,
sống tạm bợ, kiểu giật gấu vá vai, sống đối phó, đều không phải sự khôn ngoan,
sự thông minh hay sự hữu lý. Chẳng hạn dân chủ tự do đích thực mới là nguyên lý
trường cửu, lâu dài của xã hội, và mọi sự độc tài chuyên đoán dù bất cứ lý do
nào đều không thể tự biện minh hay tự chống chế. Điều đó cũng có nghĩa yêu nước
là phải yêu có thực chất, có kết quả, có nội dung, không phải chỉ ngôn ngữ bề
ngoài, giả bộ, đóng kịch, tuyên truyền suông, hay nói chung là không có thực
chất và thực lòng, thực bụng. Trái lại yêu nước cũng không phải chỉ cảm tính mà
quyết định nhất phải chính là lý tính. Cảm tính chỉ là thị hiếu, tình cảm
suông, chỉ là xúc cảm nhất thời không cơ sở, hay sự mong muốn không có nền
tảng, do đó thực chất cũng chỉ vô bổ hay không có kết quả đích thực, cụ thể. Đó
là do sự hạn chế về mặt nhận thức, hiểu biết, nó dễ bị tác dụng bởi việc tuyên
truyền hời hợt, lệch lạc, ý đồ hay lợi dụng. Lòng yêu nước đó có thể không
trong sáng, không ngay thẳng, vì thiếu bản chất đích thực hay thiếu tri thức và
lý trí thực chất. Đó là tính cách yêu nước theo kiểu truyền miệng, theo kiểu niềm
tin bề ngoài, hình thức, đôi khi chỉ ngây thơ, thậm chí nông cạn hay nông nỗi.
Như vậy ý thức yêu nước phải là ý thức khoa học cũng đồng thời là ý thức đạo
đức, cả ý thức nhận thức đúng đắn, khách quan thì mới thật sự mang ý nghĩa,
hiệu lực, giá trị và kết quả thực sự.
7/ Phẩm chất đích thực và ý nghĩa cụ thể của lòng yêu nước là gì ?
Tất cả mọi điều gì không phải chỉ nói
suông mà phải có thước đo cụ thể, đúng đắn của nó. Do đó phẩm chất trước tiên
và bắt buộc của lòng yêu nước đích thực là tính khách quan và tính tự chủ.
Khách quan là biết phân biệt các ý nghĩa và giá trị đúng sai vốn có, không để
cảm tính, thị hiếu, thiên kiến, áp lực, tư lợi chi phối, mà chỉ đặt nền tảng
trên sự hiểu biết và trên lý trí phán đoán tự chủ, đích thực mà mình có. Có nghĩa
nếu yêu nước chỉ vì nghe theo người khác, làm theo người khác, bị dụ hoặc bởi
người khác, bị tuyên truyền hay áp lực các mặt bởi người khác, đó không phải
lòng yêu nước trong sáng hay tự chủ, tự giác thật sự, mà đó chỉ là sự ngụy tín,
ngụy tạo, hay thậm chí đôi khi chỉ là một thứ giả dối, một thứ chiêu bài.
Có nghĩa không có ý thức tự chủ độc lập,
không có tư duy khách quan riêng biệt, không có sự tự giác, tự quyết, cũng
không bao giờ là lòng yêu nước đúng nghĩa hay hiệu quả mà chỉ là sự tự ru ngủ,
tự lường gạt, hay tự ảo tưởng. Bởi vậy lòng yêu nước trước tiên phải có sự
trung thực và tính can đảm. Không trung thực thì sẽ ngụy tạo, không can đảm thì
không tự chủ và tự quyết định. Đó trở nên không phải thực chất mà chỉ là sự giả
dối hay sự đóng kịch về lòng yêu nước. Cho nên không thể có yêu nước theo cách
tập thể, kiểu nghe theo làm theo người khác, mà lòng yêu nước chung phải là
lòng yêu nước riêng của từng cá nhân hợp lại. Tức không có dân chủ tự do đích
thực cũng không hề có lòng yêu nước đích thực. Quan điểm tập thể kiểu bầy đàn
đó không hề là lòng yêu nước trong sáng, thậm chí cũng chẳng có lòng yêu nước,
mà chỉ là sự yêu bản thân, sự phục tùng và sợ hãi đám đông, nó chỉ đưa đến sự
phản nhân cách, phi nhân cách, mà không bao giờ là tính nhân văn thật sự hay
lòng yêu nước thật sự.
Bởi đó chỉ có tính nhân văn thật sự
mới tạo nên lòng yêu nước thật sự cũng như ngược lại. Quan điểm xã hội đúng
nghĩa không phải quan điểm bầy đàn, mà quan điểm nhân văn đúng nghĩa, tức tôn
trọng từng con người giá trị đúng nghĩa và tôn trọng chung toàn xã hội đúng
nghĩa. Mọi sự độc lập tự do tự chủ thật sự trong ý thức mỗi cá nhân, đó mới là
ý nghĩa xã hội đích thực, hay là “chủ nghĩa” xã hội đích thực. Trái lại quan
điểm xã hội kiểu nô lệ đàn bầy, kiểu tập thể một chiều, kiểu cào bằng phi nhân
cách, đều không phải là chủ nghĩa xã hội hay cách mạng gì cả mà thực chất chỉ
là phản xã hội, phi nhân, và thực chất là hoàn toàn phản động.
Cho nên nói chung lại, có nhiều người
tưởng rằng nghe theo Bác Hồ, làm theo Bác Hồ là yêu nước, đi theo chủ nghĩa xã
hội kiểu “nhay nháy” là yêu nước. Thậm chí có những tên trí thức ngu muội, đốt
nát, lừa gạt hay ngụy tạo còn từng hồ yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Mà thực
chất không hề định nghĩa đích thực khách quan và có giá trị “chủ nghĩa xã hội”
đó là gì. Đó chẳng qua là sự lừa gạt dân chủ, sự ngu dân, sự hạ thấp dân trí mà
chính giới trí thức điếu đóm, hạ cấp đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
lịch sử, trước quốc dân nói chung. Ngày nay người ta thấy nhan nhãn các khẩu
hiệu làm theo Bác Hồ dạy như đó là tiêu chuẩn yêu nước. Thực chất đó chỉ là
phản yêu nước. Bởi ông Hồ Chí Minh dầu sao cũng là nhân vật lịch sử đã qua từ
lâu, là người của quá khứ không phải người của hiện tại, đã qua đời cách đây
trên nửa thế kỷ, làm sao mà còn cập nhật hóa được với thực tế, với thời cuộc
hiện tại, vậy mà cứ làm theo lời Bác Hồ dạy chỉ là sự lạc hậu, sự mị dân, sự
ngu dân. Như đó đó hoàn toàn không phải lòng yêu nước, mà chỉ ý thức nô lệ, ý
thức nệ cổ sai trái không đúng đắn, hay nói chung và thực chất là phản yêu nước
thật sự.
Cũng có người do bị tuyên truyền lâu
năm quá mà thành hiểu yêu Đảng là yêu nước. Thật ra đảng Cộng sản cũng chỉ là
những cá nhân hợp lại, có người chết đi, có người mới tham gia vào, và chất
lượng Đảng cũng phụ thuộc chất lượng của số đông người trong Đảng, mà kể cả
Đảng thật sự cũng chỉ cụ thể là các Ủy viên trung ương nắm quyền lãnh đạo Đảng,
và cũng chỉ theo quy luật về chất lượng số đông đó thì cũng chỉ là những con
người thường, lấy tiêu chuẩn thống nhất nào để bảo đó là thần thánh hay là tinh
hoa chung nhất, trí tuệ chung nhất của cả một đất nước, một dân tộc. Điều rõ
ràng như thế mà trong cả nước trên 90 triệu dân ngày nay trong nước cũng chẳng
mấy ai lên tiếng, thậm chí không có ai lên tiếng, kể cả non 4 triệu đảng viên
cũng không ai lên tiếng, hay từng người trong ban chấp hành trung ương cũng
không ai lên tiếng. Thế thì thử hỏi trình độ dân trí của toàn đất nước ta, lòng
can đảm của toàn thể dân tộc Việt Nam ngày nay thực chất nó còn ra gì nữa.
Đó là chưa nói những tên điếu đóm mị
dân, thậm chí phản dân, ngu dân còn nói luôn câu thiệu “yêu nước là yêu chủ
nghĩa xã hội” mà thực chất không hiểu sâu xa ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội phổ
quát và chân chính là gì. Chỉ lấy tiêu chí ý thức hệ Mác Lênin làm ý nghĩa duy
nhất chung cho chủ nghĩa xã hội, mà thật sự có mấy ai hiểu ra căn cơ, ý nghĩa
tận cùng của nó là gì đâu, đâu có ai chịu đọc và phán đán ý nghĩa thật, giá trị
thật của nó hay đối với đất nước ta là gì đâu. Đó chỉ là kiểu yêu nước theo
tuyên truyền, theo phong trào, theo sự cưỡng chế, theo đám đông, riết rồi chỉ
trở thành rỗng tuếch, hình thức, về hùa, giả tạo, giả dối mà nhiều người mắc
phải. Mà trong một đất nước mà mọi công dân đều không có lòng yêu nước thật sự
nhưng chỉ có lòng yêu nước ảo, lòng yêu nước giả tạo, giả dối, lòng yêu nước
đóng kịch theo kịch bản đã sẳn có, thì thử hỏi tương lai của toàn thể dân tộc
đó, đât nước đó, hay kể cả xã hội đó sẽ đi về đâu ? Vả chăng học thuyết chủ
nghĩa Mác ngày nay trên thế giới đã bị đặt thành vấn đề, cái nôi phát sinh nó
là Liên Xô và Đông Đức cũng đã không còn, khối các nươc theo nó trước kia trên
cả trăm bây giờ rút xuống chỉ còn 4 nước, riêng đất nước ta đang chậm phát
triển hơn các nươc từ vài mươi năm đến cả vài trăm năm, trong khu vực cũng như
trên toàn thế giới, thế thì thử hỏi có phải vì lòng yêu nước thương dân mà đem
lại các kết quả như thế không ? Đây là câu hỏi để tất cả mọi người dân không
phân biệt bây giờ thử suy nghĩ, trong đó kể cả những đảng viên hay những người
đang cầm quyền tức là những Ủy viên trung ương Đảng hiện nay nói chung cho dù
cấp địa vị hay được phân công chức vụ như thế nào. Tất nhiên câu hỏi này về mặt
khách quan, khoa học, thực tế, luôn luôn để mở và mọi người có thể hoặc cần nên
phản biện. Bởi nếu chỉ hoàn toàn im lặng trong toàn cả nước tức là mặc nhiên
đồng ý, còn phản biện lại ngặt trên toàn đất nước ta ngày nay không có cơ quan
truyền thông công khai hay công chúng của xã hội nào để phản biện cả mà chỉ có
duy chỉ có quan truyền thông do Đảng, Nhà nước nắm giữ cả. Như vậy chắc mọi
người muốn phản biện ngay thật, khách quan cũng không thể được, nếu không phải
chỉ phản biện theo cách một chiều và nói thụi theo quan điểm chính thống như
lâu nay hay từ xa xưa đã vốn có. Quả thật toàn chuyện khôi hài thay. Và nếu thế
thì thử hỏi thêm lòng yêu nước chân chính, khách quan, đúng đắn hay hiệu quả
nhất nó chính là ở đâu. Rất cám ơn bất cứ người nào đã chịu khó hoặc có chút
hứng khởi để đọc bài viết ngắn và hoàn toàn ngẫu hứng trong chốc lát này. Xin
trân trọng lắm thay.
VÕ HƯNG THANH
(17/10/15)
**
HỌC THUYẾT CÁC MÁC : MỘT HỌC THUYẾT ĐẠI CÁCH MẠNG,
ĐẠI NHÂN BẢN, HOẶC HOÀN TOÀN NGÂY THƠ, HAY CHỈ LÀ ĐẠI NGU DỐT, ĐẠI
BỊP BỢM, VÀ ĐẠI PHẢN ĐỘNG ?
Để trả lời tất cả các điều này một
cách chính xác, trước tiên phải tóm tắt điều gì là cốt lõi hay quyết định nhất
trong học thuyết Các Mác. Và cũng chính điều cốt lõi này tạo thành mọi sự hiểu
lầm, mọi sự nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác từ cả hơn thế kỷ nay trên
toàn thế giới.
Đại thể Mác cho rằng giai cấp công
nhân công nghiệp mang sứ mạng giải phóng nhân loại, đó là giai cấp tiên phong,
là giai cấp lãnh đạo cách mạng thế giới để tiến tới xã hội không giai cấp. Mác
cho đây là ý nghĩa khoa học khách quan và nhiều người theo chủ nghĩa cộng sản
do vì bị hấp dẫn bởi ma lực này. Đến nỗi ở những nước lạc hậu hơn phương Tây
khi ấy, giai cấp công nhân công nghiệp chưa có mấy, Lênin cũng như Mao Trạch
Đông sau này đưa giai cấp nông dân vào thay thế cho giai cấp công nhân để nhằm
phù hợp theo luận điểm như thế.
1/ Thật ra giai cấp công nhân là gì ?
Những người công nhân là những người
đầu tiên vào làm trong các xưởng máy mới được thành lập khi nền công kỹ nghệ
phương tây bắt đầu xuất hiện. Dần dần số lượng họ tăng lên, định hình thành một
giai cấp trong xã hội cũng như mọi giai cấp khác đã có trước kia. Họ cũng từ
những giai cấp khác hay những người nghèo khổ trong xã hội phong kiến trước đó
đi vào trong khu vực này. Tất nhiên không có sự phát triển của công kỹ nghệ
cũng không thể có giai cấp công nhân công nghiệp mà chỉ có những thợ thủ công
nhỏ lẻ.
Thật ra giai cấp cũng chỉ là tầng lớp
xã hội do nhiều cá nhân cùng nghề nghiệp, cùng mức sống hay cách sống tạo
thành. Chính phát triển kinh tế làm nên giai cấp mà không gì khác. Có nghĩa
giai cấp không phải luôn cố định, nó có thể thay đổi, biến chuyển theo thời
gian, tức có thể xuất hiện mới và có thể mất đi tùy theo những giai đoạn phát
triển theo tuần tự của lịch sử con người. Cho rằng giai cấp công nhân mang sứ
mệnh lịch sử nào đó là sự mê tín, sự phịa đặt, sự tưởng tượng vô lối của Các
Mác. Bởi điều duy nhất là ông ta tin vào quy luật “biện chứng” xã hội trong
thuyết triết học của Hegel. Nhưng khái niệm biện chứng của Hegel là trên cơ sở
duy tâm, đó cũng mới chỉ là sự tư biện hay sự biện luận thuần túy trong tư duy
trừu tượng triết học riêng của Hegel, không phải ai cũng đồng ý và cũng chưa
chứng minh đúng đắn được là một nền tảng khoa học khách quan thật sự.
Đã vậy từ một nội dung và ý nghĩa duy
tâm, Mác lại phiên biện chứng đó thành quy luật, thành nguyên lý của thế giới
vật chất trong quan điểm hoàn toàn duy vật của ông, thành nguyên lý lịch sử,
cho rằng vì tính cách phủ định của phủ định, nên cộng sản phải phủ định tư bản,
vô sản phải phủ định tư sản, công nhân trở thành hạt nhân của cách mạng cộng
sản. Quan niệm đấu tranh giai cấp của Mác căn bản là như thế. Đó chỉ là sự suy
luận hàm hồ không có cơ sở khoa học khách quan nào cả, chuyện đem râu ông nọ
cắm cằm bà kia, mà Mác lại cho học thuyết của mình là học thuyết “khoa học”,
điều này đã từng khiến nhiều người tin sái cổ và hết lòng chết sống với lý
thuyết ông ta đưa ra. Đó chẳng qua vì Mác ngụy biện hay quỷ biện và nhiều người
không đủ nhận thức hoặc lý luận mới tôn thuyết ông ta là đỉnh cao của trí tuệ
loài người. Nguồn gốc học thuyết Mác chỉ là sự mê tín hay mê muội vào một ý
niệm mù mờ trong quan điểm triết học của Hegel mà không là gì khác.
Thực chất, giai cấp công nhân cũng như
giai cấp nông dân là hai giai cấp cơ bản vẫn luôn luôn phải có trong đời sống
xã hội giống như mọi giai cấp khác. Giai cấp thực sự chỉ là sự phân công nghề
nghiệp tự nhiên, khách quan mà xã hội loài người bao giờ cũng có. Mặt khác sự
chuyển đổi giai cấp hay sự chuyển biến của giai cấp là điều tự nhiên do các
tiến trình phát triển của lịch sử nói chung. Căn bản là ý thức đối xử giữa con
người lẫn nhau có kỳ thị hay phân biệt giai cấp hay không, là do ý nghĩa đạo
đức và nhận thức, không phải do giai cấp quyết định. Phịa đặt một xã hội không
giai cấp trong tương lai chỉ là sự ngu dốt hay sự mê muội, phản khoa học, bởi
vì như vậy cũng chỉ có nghĩa là một xã hội phi cấu trúc, mà thật ra không bất kỳ
một sự vật không có cấu trúc trong bản thân nào trên thế giới này có thể tồn
tại được. Ngay cả cơ chế sự sống tự nó cũng phải là một cấu trúc, và chính nhờ
cấu trúc mà mọi sự vật cũng như xã hội mọi loại mới có thể duy trì, tồn tại và
phát triển được. Nhưng ý niệm ngu dôt này của Mác lại phỉnh gạt được những
người ngu dốt, đó chính là sự hấp dẫn ban đầu của lý thuyết Mác mà ai cũng
biết.
2/ Nền tảng của phát triển kinh tế xã hội và lịch sử là gì ?
Phát triển lịch sử của loài người là
do một nguyên nhân bí ẩn nào đó mà đến nay hay không bao giờ có thể phát hiện
ra được. Nhưng trong thực tế cụ thể, đó chính là nhờ trí năng của con người tạo
ra được khoa học kỹ thuật. Loài người khác với loài vật, vượt lên được loài vật
là do ở đây. Có thể do tình cờ con người phát hiện ra lửa, phát hiện ra kim
loại mà từ đó bắt đầu có nền văn minh kỹ thuật, nhưng chính là đầu óc suy lý
biết vận dụng mọi thứ đó mà dần dần đã có nền khoa học kỹ thuật nói chung của
con người. Đó cũng là cội nguồn của văn minh văn hóa mọi mặt sau này. Đó cũng
là nguồn gốc căn bản của mọi phát triển kinh tế xã hội về sau mà không gì khác.
Trong tuyên ngôn Cộng sản đảng Mác nói nguồn gốc phát triển của lịch sử loài
người từ xưa nay chỉ là do đấu tranh giai cấp. Nhưng đấu tranh giai cấp chỉ là
sự giành giật nhau về quyền lợi thực tế, thì chỉ là sự phân hóa, sự chia rẽ,
còn làm sao cộng tác, hiệp đồng mà phát triển ? Đây thật là sự ngạo mạn và sự
ngu dốt thái thậm hay sự càn gở tận cùng của Mác. Nhưng đó lại làm cho bao
người nghèo khổ tin vào Mác, thực chất chỉ là sự phản văn hóa, phản khoa học,
phản thực tế, phản xã hội, phản phát triển, hay nói chung là phản động trong
chính tư duy của Mác cho dù ông ta có tự ý thức hay không.
3/ Nói về sự công bình trong xã
hội.
Công bằng trong xã hội là điều ai cũng
muốn, nhưng thực chất sự công bằng là gì thì ít người nhận thức được. Công bằng
trong xã hội không bao giờ là sự bình quân, hay kiểu sự phân chia máy móc vô
hồn của toán học. Con người sinh ra đời không bất kỳ ai tuyệt đối giống nhau
mọi mặt chỉ như một số đếm toán học tức một đơn vị trừu tượng ngang nhau. Đó
chỉ là sự ngang bằng pháp lý như một ý nghĩa hay nguyên tắc tinh thần, không
phải ý nghĩa thực tế nơi mỗi cá nhân trong xã hội. Như vậy sự công bằng trong
nhân cách cũng như trong kinh tế trong đời sống xã hội luôn luôn chỉ là tương
đối. Không phải mọi người tài năng, phẩm chất, hiệu quả mọi mặt đều giống nhau,
do đó sự công bằng bình quân, đếm đầu chia xôi đều chỉ là sự ngu xuẩn, và công
bằng máy móc kiểu đó thực chất chỉ gây ra sự bất công, tức chỉ là sự bất công.
Chủ nghĩa cào bằng trong quan điểm cộng sản trước kia chỉ là sự ấu trĩ và nó đã
hoàn toàn thất bại là như thế. Co nên nguồn gốc của giai cấp trong xã hội không
chỉ là điều kiện ban đầu của sự xuất phát, mà còn do bản chất tự nhiên tức bản
chất riêng trời sinh tự nhiên của mỗi người, do điều kiện phát triển hay do kết
quả từ hiệu quả về sau trong đời sống của mỗi cá nhân. Hô hào và mong muốn một
xã hội mà mọi cá nhân phải hoàn toàn giống y hệt nhau vừa là sự ngu ngốc, vừa
là sự phi nhân, phi xã hội mà trong thực tế chính học thuyết Mác đã đưa lại. Có
nghĩa từ khái niệm cách mạng ảo, học thuyết Mác đã trở thành một học thuyết
phản động, phản tiến hóa thật, nên Mác không hề và không bao giờ là một vị cứu
tinh của nhân loại mà thực sự trong quá khứ đã gây nên biết bao lầm lỗi cho xã
hội, khiến cả một trăm triệu người chết trên toàn thế giới từ khi Lênin thực
hành chủ nghĩa Mác, chưa nói sự mất mát, hi sinh mọi mặt của bao nhiêu người,
nên Mác vô hình chung đã trở thành kẻ tội ác nhất mà trong lịch sử tư tưởng
nhân loại chưa hề từng bao giờ có.
4/ Nói về cơ cấu kinh tế trong xã hội.
Trên đây đã nói nguồn gốc của phát
triển kinh tế xã hội trước tiên là do khoa học kỹ thuật. Nhưng đó cũng là nguồn
gốc đầu tiên của chính nền văn minh nhân loại. Nên mọi sự phát triển kinh tế về
sau cũng đều do khoa học kỹ thuật và văn minh văn hóa quyết định. Chính nhờ con
người có văn minh văn hóa mà kinh tế mới thành quả và tốt đẹp. Chính nhờ có
khoa học kỹ thuật mà kinh tế mới tiến bộ và phát triển. Như vậy ý nghĩa của đấu
tranh giai cấp chỉ là một chuyện phịa dã man và vô lối. Bởi vì chính trí tuệ
khoa học của con người mang lại những tiến bộ kỹ thuật. Những tiến bộ kỹ thuật
được mang vào nhà máy xí nghiệp để làm ra các sản phẩm tiêu dùng. Đó là ý nghĩa
và nguồn gốc của kinh tế. Nhưng giai cấp doanh nhân là những người thiết thân
tạo nên yếu tố hoạt động của cơ chế kinh tế xã hội nói chung. Không có họ kỹ
thuật cũng đành nằm co, chỉ hạn chế trong mặt nhận thức mà không đưa vào kết
quả cụ thể được. Giai cấp công nhân như vậy chẳng qua là người thực hiện những
nhiệm vụ đó, tức người sản xuất trực tiếp, mà không bao giờ là người đầu tư,
tái đầu tư, phân phối sản phẩm đến thị trường tiêu thụ cần thiết và rộng khắp
trên toàn xã hội. Mác không hiểu biết gì nhiều về kinh tế học, không biết ý
nghĩa của tư bản, của tài chánh, của tiền tệ, của đầu tư, của lợi nhuận, của
phân phối, của tái đầu tư và mở rộng đầu tư, của quay vòng kinh tế, của cơ chế
tự động và tự điều chỉnh, của giá cả, của thị trường, của phân phối và tiêu thụ,
của an sinh xã hội, của sự can thiệp điều chỉnh của nhà nước, của những yếu tố
bất ngờ tự nhiên và lịch sử khách quan, của yếu tố chất lượng lao động, của yếu
tố mục tiêu lao động, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tồn tại và phát triển nói
chung của mọi thành phần trong kinh tế, ý nghĩa của liên kết kinh tế, liên kết
thị trường, tính cách tiêu cực trong lũng đoạn giá cả, lũng đoạn thị trường cần
giải quyết ra sao, chính sách thuế khóa và tính cách đầu tư công về các cơ sở
hạ tầng, tính cách thị trường quốc nội và quốc tế, tính cách những phát minh
mới, đột xuất, tính cách chiết cựu và khấu hao của máy móc, tính cách hạn chế
của nguồn tài nguyên, tính cách phát triển trí năng do di truyền, do đột biến,
tính cách hạn chế của thể lý nơi cá nhân con người, tính cách phẩm chất của
giáo dục đào tạo, tính cách của phong tục tập quá, tính cách của truyền thống
và sự tiếp nối liên tục của văn minh văn hóa, tính cách kế thừa của lịch sử,
tính cách không thể có cái gì có thể xóa bài làm lại từ đầu một cách hoàn toàn tuyệt
đối v.v… và v.v… Nói chung lại tính cách cá nhân phát triển và xã hội phát
triển, đó là sự tương quan mọi mặt, từ tinh thần đến vật chất, từ ý thức đến ý
chí, từ truyền thống đến thực tế, từ lịch sử đến khoc học, từ phúc lợi đến phát
triển mọi mặt, không thể nào chỉ đơn điệu hay chỉ tách rời riêng ra những mặt
nào đó. Chính những hạn chế về nhận thức trong thời đại của mình, chính sự dốt
nát trong suy lý hay trí tuệ của bản than Mác mà kéo lùi cả toàn xã hội trong
cả một thế kỷ ở nhiều nơi cũng chịu bao hệ lụy và hậu quả do học thuyết Mác gây
ra mà phần lớn đều không tự ý thức, không có quyền ý thức mà chỉ luôn biết suy
tôn đó là một học thuyết phi thường và thần thánh.
5/ Nói về kinh tế tập thể.
Chính từ những hiểu biết lỏng lẻo hết
sức về kinh tế xã hội và về lịch sử khách quan của mình, Mác mới phịa ra một
nền kinh tế tập thể hoàn toàn chủ quan, o ép, tưởng tượng duy ý chí mà Mác mơ
ước, xiển dương và Lênin đã áp dụng nhưng vẫn luôn thất bại. Đó là một thời của
cái gọi là kinh tế bao cấp mà bất cứ nước cộng sản theo Mác nào cũng đã trải
qua và cũng từng đau đớn mọi mặt mà người dân phải chịu. Tức một nền kinh tế
theo kế hoạch ngu ngốc, một nền kinh tế phân công lao động giả tạo, máy móc,
phi hiệu quả, phản kết quả. Một nền kinh tế kiểu hợp tác xã cưỡng bách nghèo
nàn, kham khổ, không phát triển, trần trụi, chai lỳ, làm hư chột cá nhân và cả
toàn xã hội. Tự nhiên một thành phần thiểu số nào đó hạn chế mọi mặt về năng
lực, tài năng trở thành nắm quyền, chi phối và điều khiển toàn xã hội, toàn bộ
nền kinh tế theo chủ quan, duy ý chí và cả sự dốt nát của họ. Khiến mọi người
đều bị nô lệ, bị ràng buộc vào đó mà hoàn toàn không có tự do phát triển, tự do
đóng góp hay tự do hưởng thụ nào nữa. Tất cả đều trở thành những con ốc, những
bánh răng rỉ sét trong một guồng máy khổng lồ, chai ý, bề bộn, phản tác dụng,
phản hiệu quả, phi kết quả. Đó chính là hậu quả của sự chính trị hóa kinh tế,
hành chánh hóa kinh tế, phe đảng hóa kinh tế, quan liêu hóa kinh tế, phi thị
trường hóa kinh tế. mệnh lệnh hóa kinh tế, cuối cùng trở thành lũng đoạn kinh
tế, làm bế tắt làm phản tiến hóa nói chung của nền kinh tế xã hội. Đây thật là
một kết quả hết sức phản động chưa từng hề có trong lịch sử loài người qua mọi
thời kỳ tiến hóa và phát triển khách quan của nó.
Bởi kinh tế tập thể đó thì kiểu làm
tập thể theo giờ, ăn cơm theo kẽng, theo kế hoạch chủ quan, cạn hẹp của số cá
nhân có quyền nhất định, năng suất và kết quả chỉ bình quân, không ai còn hay
có quyền sáng kiến đích thực, không ai còn động cơ kích thích tự nhiên đích
thực, tất cả chỉ làm qua loa, làm giả dối, làm tiêu hao và lãng phí, vì cha
chung không ai khóc, không ai dại gì làm cho người khác hưởng một cách vô lối
theo tâm lý tự nhiên. Đó thật ra chỉ là một nền kinh tế nô lệ mà Mác đã nghĩ ra
giống như trở về tình trạng xã hội nô lệ thời xa xưa của loài người. Sự kéo lùi
lịch sử như thế, sự chận đứng mọi phát triển như thế mà học thuyết Mác được
mệnh danh học thuyết cách mạng là thế nào, đúng ra là một học thuyết phản động
nhất mà trong lịch sử nhân loại chưa hề bao giờ từng có. Mác cho đó mới là tổ
chức khoa học, một xã hội khoa học, trong khi không hiểu khoa học bao giờ cũng
phải khách quan, phải theo đúng thực tế và quy luật khách qua. Nên kinh tế trái
với tâm lý tự nhiên của con người, trái với quy luật tương tác và thích nghi
của xã hội, như vậy là sự dốt nát, sự u mê, phản khoa học mà đâu phải là khoa
học. Chính sự dốt nát của Mác vô hình chung đã trở thành sự bịp bợm trắng trợn
và hoàn toàn cưỡng chế, chính là như thế. Bởi tâm lý tư hữu luôn luôn có trong
thế giới sinh vật, từ vật thể nhỏ nhất đến vật thể lớn nhất, từ con vật nhỏ
nhất, đến con vật lớn nhất. Kể cả cơ chế sự sống trong tự nhiên cũng phải có
những yếu tố mang tính cách dự phòng, mang tính cách riêng tư nhằm cụ bị cho
mọi thay đổi bất ngờ. Như thế tư hữu chỉ là phương tiện cốt yếu, cần thiết mà
đâu phải mục đích tối hậu của con người. Không phân biệt được sự khác nhau giữa
cứu cánh và phương tiện, đó quả là sự dốt nát quỷ khốc thần sầu mà chính Mác đã
mắc phải. Nên Mác u mê đến nỗi cho tư hữu là nguồn gốc của sự bóc lột, là
nguyên nhân của thặng dư gía trị trong kinh tế, là nguồn gốc của giai cấp và
đấu tranh giai cấp trong lịch sử xã hội, nên Mác chủ trương phải dẹp bỏ tư hữu
để đi đến vô sản hóa toàn xã hội, chỉ còn xã hội công hữu mọi mặt, xã hội cộng
sản mọi mặt không những trong kinh tế, đời sống, mà cả trong ý thức riêng của
mỗi cá nhân. Tức xã hội không còn những con người cụ thể nữa mà chỉ còn là
những con ốc vít vô hồn như nhau, những hình bóng như nhau, những bóng mờ như
nhau, chỉ còn loại cầm quyền, loại lãnh tụ là chiếu sáng lóng lánh nhất, thần
thánh vô điều kiện nhất. Đây quả là xã hội phi nhân bản, xã hội phi con người,
cá nhân chỉ còn là những đơn vị được sử dụng tùy tiện tất cả mọi mặt nhằm phục
vụ cho thiểu số có quyền, chỉ còn sống bằng những khẩu hiệu giả tạo và những ý
niệm mơ hồ không có thật, đó quả là tính cách phi nhân bản, tính cách phản
động, tính cách phi xã hội lớn nhất của học thuyết Mác. Nó là lý thuyết nhân
văn ảo mà là phản nhân văn thật, lý thuyết lý tưởng ảo mà là lý thuyết trần
trụi thật, lý thuyết xã hội lành mạnh ảo mà là lý thuyết ích kỷ cá thấp kém
nhân thật, bởi vì thực tế ai cũng chỉ biết sống vì mình, vì các ích lợi nhỏ
nhoi riêng của mình để được tồn tại theo kiểu các sinh vật tự nhiên thuần túy.
Bởi mọi ý nghĩa tinh thần và con tim chân thực chân chính nhất của mọi con
người tự nhiên đều bị Mác phủ nhận. Vì Mác quan niệm đó là tinh thần, là ý
thức, là nhận thức kiểu tư sản, kiểu phản động, chỉ có làm như Mác muốn thì mới
tiến bộ, mới cách mạng, ai làm ngược lại, suy nghĩ ngược lại đều phản động, đều
tư sản tút tuột. Cho nên quan điểm chủ quan độc đoán đã có ngay từ trọng tiềm
thức của Mác, đó thật là một ý thức bệnh hoạn, một lý thuyết bệnh hoạn, thậm
chí có người còn cho đó chỉ là tà thuyết.
Từ ý nghĩa ảo tưởng, bệnh hoạn đó về
xã hội mà Mác chủ trương một xã hội “lý tưởng” trong tương lai của loài người
là xã hội hoàn toàn sản xuất trực tiếp và tiêu dùng trực tiếp, trao đổi trực
tiếp với nhau. Tức không còn thị trường, không còn hàng hóa, không còn tiền tệ,
không dùng đến tài chánh, cũng không còn cần đến pháp luật, xóa bỏ mọi nhà
nước, vì theo Mác nhà nước và pháp luật luôn luôn chỉ là công cụ của giai cấp
thống trị, và đấu tranh giai cấp của Mác cuối cùng là đi tới đó, đó là cái mà
Mác gọi là chủ nghĩa cộng sản “khoa học”. Thật là một sự điên loạn bệnh hoạn
không thể nào nói hết, không thể nào tưởng tượng ra được. Ôi cái éo le của mọi
người từng đi theo chủ nghĩa Mác trên toàn thế giới này trong suốt gần cả một
thế kỷ qua với bao nhiêu hi sinh xương máu tột cùng, bao nhiêu niềm hi vọng và
tột cùng đều là như thế, và toàn họ cũng chỉ là nạn nhân và tạo ra bao nạn nhân
từ họ cũng chỉ vì bao nội dung lếu láo mà hấp dẫn một cách ngu muội mà chính
học thuyết Mác đã tạo ra như thế đó.
Mác không ý thức được rằng lịch sử xã
hội luôn luôn phát triển không ngừng, không lấy đâu là giới hạn tột cùng mang
tính tiền chế sẳn của nó. Bởi vì trí tuệ con người không ngừng phát triển, tâm
lý hay tâm ý cá nhân không ngừng phát triển, khoa học ký thuật không ngừng phát
triển. Đó là chưa nói đến những đột biến tự nhiên trong cá nhân cũng như trong
lịch sử xã hội, cả những yếu tố bất ngờ nhất đến từ vũ trụ tự nhiên chung quanh
trái đất hay ngoài trái đất, tức không thể nào có mọi ý nghĩa tất định hoặc
tiền chế nào có sẳn từ đầu cả. Vì quan niệm như vậy là thụ động, là bế tắt, là
phi khách quan, là vô nghĩa lý. Cái ngu ngốc của Mác là tin vào quy luật tất
yếu tiền định hay thậm chí chỉ tiền chế một cách ngu xuẩn do Mác tự nghĩ ra.
Bởi kinh tế của con người là do tài nguyên được sự dụng quyết định, tài nguyên
này luôn luôn hạn chế, cũng như do trí tuệ phát triển của con người quyết định,
sự phát triển này là bất tận và không ngừng. Cho nên cái gọi là xã hội cộng sản
khoa học của Mác đưa ra chỉ là sự điên loạn, sự mê ngủ, sự khờ khạo vì không
tính đến mọi tâm lý ích kỷ tự nhiên của con người, không tính đến mọi bản năng
quyền lực tự nhiên của con người, không tính đến mọi bất ngờ khác nhau có thể
xảy ra trong lịch sử nói chung, nên chẳng khác gì đưa cả loài người vào chỗ
vòng xoay không đáy một cách hoàn toàn phi lý mà không bao giờ có thể thoát ra
được. Vả chăng nhu cầu của cá nhân là vô hạn, mọi sản phẩm làm ra chỉ là hữu
hạn tùy theo từng bước phát triển. Vậy thì câu khẩu hiệu làm theo năng lực
hưởng theo nhu cầu thực chất chỉ là sự ảo tưởng, hư ảo, hay chỉ hoàn toàn bịp
bợm, và chỉ những ai kém tri thức, yếu nhận thức thì mới tin càn một cách hoàn
toàn dốt nát và mê tín như thế. Mác còn nói trong xã hội đó vật chất tiêu dùng
chảy ra như suối, mọi người hoàn toàn tự giác lao động, không cần phân công lao
động gì nữa, người công nhận buổi sáng có thể đi câu cá còn buổi chiều khi
thích thì vào nhà máy làm cũng chẳng sao, vì xã hội đó đã hoàn toàn giải phóng,
hoàn toàn giàu có, hoàn toàn phong phú, hoàn toàn tự do rồi. Thật là một ý
nghĩa điên loạn bệnh hoạn bởi vì không hiểu biết bản năng sinh tồn hay tham
vọng của con người là nguồn gốc tự nhiên, tức từ thiên nhiên, con người không
bao giờ trở nên thánh mà hoàn toàn cao cả hay tự giác, sản phẩm làm ra cũng
phải tiêu hao, mất đi, sản phẩm mới cũng luôn hạn chế, vậy làm sao tự nguyện
làm theo lao động và hưởng theo nhu cầu trong xã hội gọi là hoàn toàn “lý
tưởng” đó, nếu không phải là sự ngu dốt thái thậm hay là sự bịp bợm hoàn toàn
phi lý và trơ trẽn. Bởi vì khi con người còn chưa hoàn toàn biết nguồn gốc thực
chất của mình là từ đâu, khi chết sẽ đi về đâu, thì xã hội chỉ luôn sống như
một thực tại phát triển tự nhiên thế thôi, không có gì gọi là tiền chế do con
người đặt ra để làm cơ sở tối hậu tột cùng cho nó cả. Vậy mà Mác bảo tôn giáo
chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, chỉ có học thuyết của ông là giải phóng
nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng loài người. Nhưng
sự thực trong thực chế, do tính cách điên loạn nhiều mặt của nó, nó chỉ làm nô
lệ hóa con người, nô lệ hóa loài người, bởi vì chính nó thay một thế giới ảo,
thế giới hoàn toàn tưởng tượng, thế giới bằng ngôn ngữ và khẩu hiệu suông vào
cho thế giới thực tại, thức tế, cụ thể và luôn luôn hiệu quả của con người. Cho
nên thay vì luật pháp là điều bắt buộc luôn luôn phải có do nhu cầu tự nhiên,
khách quan, thiết yếu, nhà nước là yếu tố điều hòa xã hội, điều hòa giai cấp,
điều hòa phúc lợi chung, yếu tố bảo đảm an toàn, an ninh chung, yếu tố quản lý
xã hội phát triển chung, Mác lại xuyên tạc bản chất tự nhiên khách quan của nhà
nước, coi nhà nước trước Mác chỉ là nhà nước của tư sản, tư bản, để tìm cách
xây dựng nhà nước mới kiểu độc tài giai cấp, độc tài vô sản một cách hoàn toàn
tưởng tượng và giả tạo. Nó phá hủy tất cả mọi tự do dân chủ từ truyền thống của
lịch sử phát triển xã hội, cái được Mác do là dân chủ tự do kiểu tư sản, để đi
đến cách độc tài mới chưa từng có trong lịch sử, được Mác gọi là thời kỳ quá độ
để giai đến xã hội tự do dân chủ hoàn toàn khi không còn giai cấp. Quả là một
sự thả mồi bắt bóng một cách ngu đần nhất mà Mác đã xướng xuất ra. Cái đang có
không được phát huy lên, củng cố lên, mở mang và nâng cấp hoài hoài thêm lên,
trái lại bị triệt hạ hoàn toàn kiểu xóa bài làm lại tất cả. Nhưng Mác quên rằng
trong xã hội mỗi con người cá nhân luôn luôn sinh ra và chết đi, giống như cây
cối trong rừng, làm sao mà quy hoạch xã hội cách tất yếu, máy móc hay cố định
một lần cho tất cả mọi lần, một thời cho tất cả mọi thời. Quả thật là một đầu
óc ngu ngốc chưa từng thấy trên lịch sử thế gian.
6/ Nói về dân chủ tự do trong xã hội loài người.
Mỗi cá nhân con người sinh ra đều độc
lập, do cha mẹ sinh mà không ai có thể sinh ra mình được cả. Như vậy nên mỗi
người đều bình đẳng, không bất kỳ người nào có thể dùng ý chí chuyên đoán để
cưỡng chế, bó buộc được ai trái với ý nguyện chính đáng của họ. Đó là nền tảng
hay nguyên lý đầu tiên của tự do dân chủ. Bởi tuy mỗi người có thể khác nhau về
những mặt nào đó, nhưng về pháp lý chung, về đơn vị đếm số thì đều hoàn toàn
như nhau, tính cách bình đẳng bó buộc giữa nhau cũng là như thế.
Hơn thế, giữa dân chủ và tự do cũng
ràng buộc liên quan lẫn nhau. Có cái này mới có cái kia và ngược lại. Dân chủ
là tự mình làm chủ chính mình, đó tức là tự do cá nhân. Tự do là không phải
phục tòng người khác nếu mình không tự nguyện. Đó chính là tự do trong xã hội.
Từ đó dân chủ nếu mọi người đều cùng làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, làm chủ
một tập thể nào đó, hoàn toàn do ý chí hợp lý của mình, hoàn toàn do phiếu bầu
hay ủy quyền cho người khác thay mặt mình, không ai lấn lướt ai, không ai khuất
phục sai trái ai, không ai làm chủ người khác và bắt người khác phải lệ thuộc
mình trong bất kỳ tính cách nào. Nền tảng của dân chủ như vậy cũng chính là yếu
tố tự do, và cả hai chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề, một ý nghĩa, một nội
dung không thể khác đi hay trái ngược lại được.
Như vậy học thuyết chuyên chính vô sản
của Mác là hoàn toàn trái trớt, phản nhân văn, bởi vì lấy nguồn gốc nào, lấy
nền tảng nào, lấy cơ sở hay nguyên lý nào để cho giai cấp vô sản là giai cấp
độc quyền lãnh đạo vô điều kiện, có quyền chuyên chính các giai cấp khác cùng
toàn thể xã hội một cách vô điều kiện. Đây thật là một quan điểm dã man, phi
nhân, ngu dốt của Mác. Nó chẳng khác gì quay lại với thiên nhiên, luật của kẻ
mạnh, luật của rừng rú, ai mạnh nấy được, do sức mạnh quyền lực, sức mạnh tưởng
tượng tự phong, không dựa trên cơ sở lý trí hay bất kỳ sự hữu lý nào cả. Mác
lấy quyền gì mà phong cho giai cấp công nhân, ông ta đâu phải là cha đẻ của
giai cấp công nhân, cha đẻ của thế giới loài người. Thật là quan điểm bạt mạng,
lếu láo, phi thực chất, giả dối mà Mác đã phạm phải. Chính vì tin vào ý nghĩa
mù mờ, giả tạo của biện chứng luận từ Hegel hoàn trái trái cựa mà ông ta đã
ngẫu hứng phịa đặt một cách ngu ngốc, ẩu tả như thế. Bởi vì muốn lãnh đạo người
khác, muốn bó buộc người khác, mình phải trội vượt hơn người khác mặt nào đó
trong thực tế về mặt giá trị hay ho mà người khác chịu phục và mình cũng mang
lại lợi ích thiết thực cho họ. Đằng này giai cấp công nhân lúc đầu chỉ là thiểu
số, với rất nhiều mặt thực sự hạn chế không bằng những giai cấp khác. Nhất là
mặt hiểu biết và năng lực tri thức. Vậy mà Mác phịa ra đó là giai cấp tiên
phong của lịch sử xã hội loài người, giai cấp có sứ mạng làm nền lịch sử sau
này. Điều đó hoàn toàn không có cơ sở thực tế khoa học và lịch sử khách quan,
hay chỉ là sự dối gạt vô lối và thậm chí ấu trĩ.
Bởi vì giai cấp tiên phong trong xã
hội từ xa xưa đến nay vẫn là giai cấp trí thức, giai cấp khoa học kỹ thuật.
Chính sự mày mò nghiên cứu, sự đầu tư trí óc, sự phát huy trí tuệ, sự vận dụng
óc thông minh mới làm người ta phát triển sớm nhất, đi trước tiên nhất, từ đó
mọi người mới đi theo mới thừa hưởng theo. Đó không ngoài là giai tầng trí
thức. Giai tầng trí thức cũng không phụ thuộc xuất xứ giai cấp của mình, nếu có
tiềm lực, có nội lực, có hoàn cảnh phát huy thì ai cũng có thể trở thành trí
thức được. Trong khi đó công nhân thực chất chỉ là những người thợ bằng lao
động phổ thông, lao động cơ bắp trong các nhà máy, tri thức tích lũy được là
qua rèn luyện, qua kinh nghiệm cụ thể, không qua đào tạo khoa học hay nghiên
cứu lý thuyết. Vả chính trị xã hội là sự nghiệp chung của toàn xã hội, nó phải
là kết tinh tinh hoa của mọi giai cấp được đưa vào đó như người làm công ăn
lương trong guồng máy hành chánh và quyền lực. Quyền lực thực chất chỉ là quy
ước về mặt hành chánh của xã hội. Nó không bao giờ thần thánh hay ưu việt tiên
thiên nào cả. Chỉ có chế độ phong kiến là giả dối, xuyên tạc, thần thánh hóa
quyền lực để lợi dụng, hù dọa, đe nẹt, cưỡng chế, khống chế xã hội và người
dân. Quan điểm thế thiên hành đạo, thừa thiên sử dân, đều là như thế đó. Mác tự
phong giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, đảng công nhân là đảng lãnh đạo,
thực chất chỉ là sự dối gạt mọi người, sự thụt lùi về thời phong kiến cổ hủ,
lạc hậu, một sự hù dọa giả dối, một sự bịp bợm dốt nát không thể nào quan niệm
được. Mác cũng quên một điều khi xướng xuất sai trái như thế, sẽ khối người lợi
dụng từ các giai cấp khác nhân danh, lợi dụng giai cấp công nhân đúng nghĩa chỉ
vì quyền lợi tham vọng riêng của họ, thế thì khi đó quyền hành có phải là giai
cấp công nhân đích thực hay không. Mác lại một lần nữa không phân biệt giữa
chính trị và xã hội, chính trị và quyền lực, chính trị và hành chánh, lý thuyết
và thực tế. Bởi vì chính trị chẳng qua là ý thức quản lý, hướng dẫn xã hội theo
hướng nào đó thế thôi. Hành chánh là định chế muôn đời của xã hội loài người,
nó là ý nghĩa hay nọi dung của pháp luật hay pháp lý. Hành chánh là cái dụng
của pháp luật còn pháp luật là cái lý của hành chánh vậy thôi. Còn quyền lực là
ý nghĩa an toàn chung của mọi người, mọi người tôn trọng vì thấy nó là cần
thiết, thế là có quyền lực vậy thôi. Quyền lực không phải cái gì từ ngoài xã
hội mà vào, từ ngoài con người cụ thể mả ra, không có cái gì thần thánh, ưu
việt hay biệt đãi trong quyền lực. Chẳng qua vì Mác quá mê muội và dốt nát nên
hiểu sai hay cố hiểu sai về quyền lực. Ý nghĩa chuyên chính của Mác do đó là ý
nghĩa thần thánh hóa quyền lực, thành thánh hóa giai cấp, cuối cùng nó chỉ
thành thần thánh hóa cá nhân, thần thánh hóa lãnh tụ mà bất kỳ nước cộng sản nào
người ta cũng đều thấy rõ. Quả là cái hợm hĩnh đi đôi với cái ngu đần, cái đốt
nát, cái vô ý thức, vô trách nhiệm, hay cái ẩu tả, cái bất chấp của Mác là thế
đó.
Nên nói cho cùng, quyền lực chỉ là cái
quy ước nhất thời nào đó của mọi người trong xã hội qua từng giai đoạn, hoàn
cảnh, tình huống lịch sử cụ thể. Quyền lực không hề vĩnh viễn, không thể vĩnh
viễn, không được vĩnh viễn mà luôn phải biến chuyển, thay đổi theo nhu cầu,
hoàn cảnh phát triển của xã hội. Đó cũng chính là ý nghĩa thực chất của dân chủ
tự do. Bởi không ai được phép tự đoạt quyền của xã hội cách tự chuyên, mà muốn
có quyền phải do mọi người khác đồng ý, phải được toàn thể xã hội đồng thuận
qua phiếu bầu một cách tự do dân chủ. Trái lại điều đó chỉ là sự ăn cắp, ăn
cướp, lợi dụng, lạm dụng quyền lực. Quan điểm tự phong của Mác như ông ta là
thánh ban ra quy luật của lịch sử, giai cấp công nhân như thực thể được ông ta
phóng thánh, đó chỉ là tính chất ngờ nghệch, ngây thơ, ngu đốt, hay thậm chí
chỉ là gian đối, bịp bợm.
Lịch sử con người là từ thiên nhiên
hoang dã đi lên. Khi xã hội thành hình cũng là khi quyền lực sơ khai xuất hiện,
đó là các tù trưởng bộ lạc, do kinh nghiệm sống của mọi thành viên trong cộng
động chọn lựa họ một cách khách quan, như là ý nghĩa của tự vệ và tồn tại giữa
tự nhiên. Nhưng quyền lực từ đó cũng luôn có hai mặt, đó là mặt tích cực đã
nói, nhưng cũng mặt tích cực của sự lạm quyền, đoạt quyền, tự quyền, vì quyền
luôn đi với lợi riêng mà mọi người đều thấy. Đó là ý nghĩa tại sao xã hội loài
người đã phát triển đi lên từ bộ lạc, qua nô lệ, phong kiến, quân chủ, và cuối
cùng là tự do dân chủ. Kết quả của tự do dân chủ ngày nay là thành công của đấu
tranh nhân loại để tự giải phóng mình qua hàng nhiều ngàn năm không phải một
sớm một chiều mà có ngay được. Đó là sự đấu tranh liên tục và quyết liệt chống
lại bản năng, chống lại sự ngu dốt, chống lại mọi sự giả dối trong xã hội loài
người. Công đầu tiên và cuối cùng chính là của phong trào Ánh Sáng ở châu Âu
vào thế kỷ 19, mà những tên tuổi nổi bật nhất của muôn đời cho tư tưởng dân chủ
tự do của loài người không ai hơn J. J. Rousseau, Montesquieu, Diderot v.v… Thế
nhưng Mác lại cho đó là quan niệm của bọn tư sản, phi cách mạng hay phản động,
chỉ có dân chủ tự do phi giai cấp trong xã hội cộng sản tương lai mới là bản
chất thật. Chính cái ngu của Mác là lấy cái tưởng tượng, cái viễn mơ để thay
thế vào cái thật. Mác cho rằng phải dẹp bỏ mọi tư tưởng tự do dân chủ truyền
thống, cổ điển, kinh điển cho mãi tới lúc đó mới có, thay bằng chuyên chính vô
sản để làm thời kỳ quá độ mà đi đến kết cục xã hội cộng sản như Mác hiểu trong
tương lai. Thật là ngu ngốc, đần độn và ảo tưởng không còn chỗ nói. Vì như tục
ngữ Pháp cũng nói, một con chim sẻ trong tay còn quý hơn hai con đang trong bụi
(“un moineau dans la main vaut mieux que deux dans le buisson”). Hay tục ngữ
Việt Nam có câu “Thả mồi bắt bóng” cũng cùng ý nghĩa như thế. Đúng học thuyết
Các Mác là kiểu cái gậy và củ cà rốt. Lấy bạo lực trong hành động, lấy sự
chuyên chính phi nhân và ngu xuẩn trong thực tế để đánh vào mông nhân loại y
như con ngựa để nhằm thúc giục tiến tới để ăn củ cà rốt treo ngay đàng trước
trong cổ xe gọi là cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Cho nên giả dụ cách
mạng vô sản đã thành công trên toàn thế giới, ngày nay hẳn Tổng bí thư của đảng
cộng sản Liên Xô sẽ là vị giáo hoàng, vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử
nhân loại và cứ vĩnh viến truyền nhau như thế là điều chẳng cần phải nói. Đấy
cái hay và cái ưu việt của thuyết Mác là như thế, cái đỉnh cao trí tuệ loài
người chính là như thế. Nên thuyết Mác thực chất chỉ phỉnh gạt được người ngu
mà khó thuyết phục được người sáng, và cuối cùng sự thất bại, đào thải trên
toàn cầu của nó ngay trong cuối thế kỷ trước cũng là như vậy.
Nói tóm lại, qua năm điều phân tích theo cách khoa học, khách quan như
trên, mọi người không phân biệt ai đều có cơ sở đánh giá đúng mức và đứng đắn ý
nghĩa hay giá trị của học thuyết chủ nghĩa Mác là như thế nào. Đây không phải
cố tình bóp méo, nói ngoa mà chỉ căn cứ trên nhận thức và lý luận hoàn toàn
nghiêm túc, lô-gích cũng như đồng thời chính xác. Ý nghĩa đó không phải ai chụp
vào cho học thuyết Mác hay bản thân ông ta, nhưng nó hoàn toàn là nội dung
không che giấu được trong lập luận và lý thuyết của ông ta. Tức học thuyết Mác
là học thuyết hoàn toàn sai trái và sai hỏng trong cả mặt lý thuyết lẫn trong
mặt thực tế. Mặt lý thuyết là người ta hoàn toàn thấy ra được những khía cạnh
phi lô-gích, phi khoa học, tức hoàn toàn nghịch lý, khiên cưỡng, giả tạo của
nó, vậy làm sao nó có giá trị áp dụng hay ý nghĩa chân lý cho được. Mặt thực hành
hay thực tế là nó bất chấp mọi ý nghĩa xã hội hay tâm lý ý thức cá nhân tự
nhiên của con người. Tính cách cưỡng chế thô bạo của nó hoàn toàn đi ngược lại
mọi nhân quyền chính đáng của con người, đi ngược lại mọi giá trị và ý nghĩa
của dân chủ tự do, nhân văn chân chính, đi ngược lại mọi thực tế vốn có tự
nhiên khách quan trong xã hội, nên thất bại của nó sau bao đau xót và hi sinh
mất mát cả một thế kỷ ở nhiều nơi trên thế giới khi cái nôi đầu tiên của nó là
Liên Xô và các nước Đông Âu hoàn toàn sụp đổ và tan ra mây khói là điều hoàn
toàn không thể phủ nhận và không thể tránh được.
Cho nên người ta chỉ có thể lấy tay
che được ngọn đèn, che được bất kỳ vật gì trong thế gian mà người ta muốn,
nhưng không ai lấy tay che được mặt trời. Vì che nơi này thì nơi khác cũng
thấy. Có nghĩa sự thật khách quan thì không che giấu ai mãi mãi được. Người ta
có thể nhất thời lừa dối được một người, một vài người, nhiều người, hay thậm
chí mọi người trong một nơi nào đó, ở thời nào đó, nhưng không ai lừa dối được
mọi người trong tất cả mọi thời, vì đó chỉ là ý nghĩa tự nhiên, khách quan, tất
yếu. Trí tuệ con người luôn luôn phát triển, lịch sử loài người luôn luôn tiếp
nối, nhưng mãi mãi chỉ có giá trị bất biến đó là chân lý, là sự thực khách quan
trong mọi sự nhận thức khoa học của nhân loại, cũng như nền dân chủ tự do đích
thực vẫn là ý nghĩa cao nhất của mõi bản thân con người cùng là giá trị toàn
thể của loài người. Bất cứ ai cố tình đi ngược lại các điều đó chỉ luôn hoàn
toàn dại khờ, ngây thơ, bị chê cười và thất bại. Bởi vì con đường phát triển và
chân lý của cả loài người chỉ có một mà không có hai, ai không nắm rõ được điều
đó, không hiểu điều đó, hay vô tình hoặc cố tình đi lại điều đó đều thực chất
chỉ làm những chuyện ruồi bu và cuối cùng cũng chỉ công dã tràng xe cắt thế
thôi.
VÕ HƯNG THANH
(16/10/2015)
MỤC
LỤC NHỮNG BÀI PHÓNG BÚT DÀI,
CHỚP
NHOÁNG - [1]
**
1.
NÓI VỀ GIAI CẤP XÃ HỘI VÀ PHÊ PHÁN HỌC THUYẾT
ĐẤU
TRANH GIAI CẤP CỦA MÁC (20/10/2015) ……………….…… Tr. 54
2.
NHẬN XÉT VÀ PHÊ PHÁN CÁI HẠT NHÂN CỐT LÕI
TRONG
HỌC THUYẾT CÁC MÁC (19/10/2015) ………………………..
Tr. 65
3.
NÓI VỀ NGUYÊN TẮC, TÍNH CHẤT, VÀ TÍNH CÁCH
CỦA
NHỮNG
NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỘT ĐẤT NƯỚC TRONG
XÃ HỘI HIỆN ĐẠI (18/10/15) …............………………….. Tr. 73
4.
LÝ DO TẠI SAO CHỈ 3,8 TRIỆU ĐẢNG VIÊN CỘNG
SẢN
LẠI CAI
QUẢN ĐƯỢC ĐẾN 95 TRIỆU NGƯỜI VIỆT
NGÀY NAY ? (18/10/15) …………………………………… Tr. 82
5.
NÓI VỀ SỰ ĐỐI LẬP VÀ SỰ ĐỐI NGHỊCH
(18/10/2015) …..…... Tr. 89
6.
NÓI VỀ LÝ TRÍ VÀ XÃ HỘI (17/10/15) ……………..........……..….
Tr. 85
7.
HỌC THUYẾT CÁC MÁC : MỘT HỌC THUYẾT ĐẠI CÁCH
MẠNG, ĐẠI NHÂN BẢN, HOẶC HOÀN TOÀN NGÂY
THƠ, HAY CHỈ LÀ ĐẠI NGU DỐT, ĐẠI BỊP BỢM,
VÀ ĐẠI PHẢN ĐỘNG ? (16/10/2015) ….…………..….………
Tr. 100
**
No comments :
Post a Comment