NÓI
VỀ CHỨC PHẬN CỦA NHỮNG
NGƯỜI
LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC
Loài người trên mặt
đất này đều chia ra thành những quốc gia và những vùng lãnh thổ, đó là sự thực
khách quan ngàn đời đã để lại và không thể nào chối bỏ được. Mặc dầu mọi hình
thức phân chia đó luôn luôn biến đổi, không bao giờ bất định, nhưng những yêu cầu
căn cơ vẫn buộc phải giữ gìn, bảo vệ để nhằm tồn tại và phát triển, đó chính là
chức phận của những người cầm đầu, lãnh đạo hoặc đương quyền nơi những quốc
gia, lãnh thổ, nhà nước đó. Điều này có nghĩa luôn luôn phải có một trật tự
pháp luật nào bắt buộc phải có trong xã hội, không thể có kiểu xã hội vô chính
phủ, nhưng tính cách của pháp luật đó tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực, phù hợp
sự phát triển xã hội hay không lại là điều khác.
Trong thời xã hội
nguyên thủy, hoàn cảnh sống còn thô sơ, số lượng cá thể còn ít, xã hội loài người
còn ăn lông ở lổ vào giai đoạn hái lượm, đây cũng gọi là giai đoạn cộng sản
nguyên thủy đầu tiên, đều vẫn phải có những quy tắc nội bộ tối thiểu nào đó bắt
buộc của nó. Nhưng khi số lượng con người trong xã hội tăng lên, mở rộng ra, mọi
điều kiện sinh hoạt dần dần phải khác đi, bắt đầu xuất hiện quyền tư hữu như một
sự thuận lợi cần thiết khách quan phải có, từ đây xã hội cũng đổi khác, tiến
lên thành tổ chức bộ lạc, với những nguyên tắc đời sống có tổ chức sơ khởi lần lần ló dạng. Những vị
tù trưởng đầu tiên xuất hiện, đó phải là những người có sức mạnh thể lực, trí
tuệ cùng nhiều phẩm hạnh thiết yếu khác. Họ chinh phục, thống nhất được bộ lạc,
và trở thành yếu tố lãnh đạo, người cầm đầu của toàn bộ lạc nhằm bảo đảm sự tồn
vong cùng những điều tốt đẹp cho bộ lạc.
Các thời đại phong
kiến, quân chủ trong xã hội loài người lần lượt xuất hiện trong lịch sử đã qua
cũng không ra ngoài các nguyên tắc tự nhiên bất di bất dịch đó. Luật pháp chẳng
qua là yêu cầu đáp ứng cho sự tồn tại có trật tự của xã hội qua những giai đoạn
lịch sử nhất định nào đó, không bao giờ có luật pháp vĩnh cửu cũng như không
bao giờ có xã hội không luật pháp. Luật pháp phát triển theo thời gian, như cái
khung sườn càng ngày phải càng nở nang thêm để thích nghi, phù hợp với mọi yêu
cầu đời sống xã hội cứ mãi đi lên và càng phong phú. Điều kiện kinh tế phát triển,
điều kiện văn hóa phát triển, luật pháp cũng phải phát triển theo mà không thể
ngược lại. Nhưng thời xã hội còn lạc hậu, sức mạnh luật pháp phần lớn hay chính
yếu là sức mạnh bạo lực mà không gì khác. Những cá nhân có điều kiện và tham vọng
bản thân hay cộng đồng cao có thể lập ra các vương quốc, các đế chế, các đế quốc
hùng mạnh trong lịch sử mà mọi người đều đã biết.
Nhưng các sức mạnh
đó là gì nếu không phải do sức mạnh quyền lực tạo thành. Quyền lực là sự ràng
buộc trong tổ chức mà khó có ai đi ngược lại. Từ những tập hợp người nhỏ nhất đến
các tập hợp người lớn nhất đều không ra ngoài chính các nguyên lý đó. Quyền lực
có thể do sự đồng thuận hay do sự áp đặt bó buộc con người không phản kháng được
nên đành phải cần tuân thủ. Bởi đương nhiên mọi con người cá nhân đều yếu ớt, sức
đề kháng và sức liên kết không cao, nên bất kỳ những tập đoàn nào đó nếu có sự
tổ chức vững mạnh và ý chí khuynh loát đều có thể đè bẹp họ được. Xã hội đám
đông thực chất đều luôn như một cục bột mà bất kỳ pháp luật nào dù chân chính
hay không đều có thể uốn nắn, đóng khung, và ngự trị đều được. Nhưng chính ở
đây mà bản chất xã hội tự do dân chủ và bản chất xã hội độc đoán độc tài toàn
trị được biểu thị ra hoàn toàn khác là như thế.
Những cá thể con
người cần phải theo nhu cầu đời sống riêng tư của mình là điều hoàn toàn chính
đáng và cần thiết. Quyền sống là quyền của mọi người, nhưng ý nghĩa sống đó ra
sao, có hạnh phúc và tự do hay chỉ nô lệ và bó buộc, đó lại tùy hoàn cảnh pháp
luật xã hội bên ngoài bản thân họ điều tiết và chi phối. Sức mạnh cá nhân khó
đi ngược lại sức mạnh tập thể lớn hơn, đó trở thành nguyên lý thực tế, nhưng sức
mạnh tập thể đó bản chất như thế nào mới là điều đáng nói nhất. Đứng trước một
đám bạo lực hay một xã hội bạo lực mọi cá nhân đều phải luôn thúc thủ hay buộc
phải tuân thủ, đó đều là một sự thực khách quan, hay sức mạnh nhỏ hơn phải chịu
ức chế trước sức mạnh lớn hơn, điều này cũng giống như một quy luật vật lý
trong xã hội mà ai cũng biết.
Nên mọi sức mạnh
cơ bắp hay vật chất, cũng như mọi sức mạnh pháp luật nào đó, tự nó không ý
nghĩa hoặc giá trị tự thân, nếu nó không phù hợp với ý thức nhân văn, sự công
chính, cũng như với quyền dân chủ, tự do khách quan của mọi con người chính
đáng trong xã hội. Bởi sức mạnh không chính đáng là sức mạnh bị lạm dụng, pháp
luật không chính đáng là pháp luật bị lạm dụng, nó không còn mang bộ mặt văn
hóa, nhân văn thiết yếu mà mọi con người lành mạnh cũng như xã hội lành mạnh đều
luôn đòi hỏi. Chính nghĩa hay không chính nghĩa, công tâm công lý có hay không
của xã hội con người đều nằm ở đây, một ý nghĩa và nguyên lý hoàn toàn đơn giản
mà không bất kỳ ai có lý trí hay có lòng lương hảo có thể suy nghĩ ngược lại được.
Bản thân mỗi cá
nhân con người và xã hội luôn luôn phát triển tùy theo những điều kiện và hoàn
cảnh nhất định, đó là nguyên lý tự nhiên khách quan không do ai tạo ra mà người
ta chỉ có thể làm cản ngại hay hạn chế nó thôi. Pháp luật tốt là pháp luật có
thể giúp đỡ, hỗ trợ cho sự phát triển cá nhân và xã hội nhưng không phải tạo ra
được điều đó, còn không thì hoàn toàn ngược lại. Một sự tin tưởng cá nhân nào
đó, tập thể nào đó, luật pháp nào đó có thể tạo ra sự phát triển cá nhân hay xã
hội nào đó thật ra đều chỉ là sự tăm tối, mù quáng, lệch lạc và thậm chí hoàn
toàn ngu xuẩn. Chỉ phát triển cá nhân hỗ tương lẫn nhau, hỗ tương chung cho xã
hội và ngược lại, đó chính là nguyên lý về bản thân, bản chất mà không thể lẫn
lộn với bất kỳ mọi cái ngoại vi nào khác.
Thật ra mọi sự
phát triển của cá nhân và xã hội chủ yếu là sự phát triển của ý thức và của trí
tuệ mà không gì khác. Thân xác chỉ là vật chất sinh học, nó luôn luôn đã được định
khung sẳn. Nhưng chỉ có ý thức là hướng thượng hay hướng hạ tùy theo điều kiện
và bản chất của trí tuệ phát huy mang lại. Bởi vậy mọi sự học tập và giáo dục
nhân văn luôn hoàn toàn cần thiết để làm trí tuệ con người mở mang tạo thành cả
xã hội phát triển hiệu quả và lành mạnh. Bất kỳ đường lối giáo dục nào sai đều
hoàn toàn phản con người và phản xã hội cho dù nó nhân danh bất cứ điều gì. Khách
quan chân lý là sự hiểu đúng sự thật vốn có. Mọi sự hiểu biết lệch lạc về mọi
điều khách quan tự thân của nó đều là những sự hiểu biết xuyên tạc, không đúng
sự thật, thực chất đều phản cá nhân và phản xã hội tức thực chất chỉ đều vô giá
trị hay phản giá trị. Ý nghĩa của chân lý là ý nghĩa của sự thật mà không gì
khác, giá trị khách quan của mọi hành động nơi bản thân cá nhân và xã hội con
người cũng phải dựa trên các tiêu chuẩn chân lý là điều hiển nhiên và hoàn toàn
rõ ràng như vậy.
Chính nhờ ý thức
hướng thượng, nhờ lý trí làm chuẩn mực, loài người đã đi đến khám phá khoa học
mọi lại trong đó có cà triết học lẫn kỹ thuật, đó là điều làm cho xã hội loài
người phát triển đi lên qua từng giai đoạn đó chính là ý nghĩa thiết yếu nhất
mà không phải do bất kỳ những nguyên lý mơ hồ, thêu dệt hay tưởng tượng ra nào
cả. Chỉ có lý trí khoa học khách quan soi sáng, tạo ra mọi nguồn kỹ thuật hiệu
lực trong lịch sử, điều đó dẫn dắt nhân loại đi lên từng bước và tiến tới vô hạn,
đó là điều chắc chắn nhất, mà không phải sự đấu tranh giai cấp nào huyền hoặc
mơ hồ hay ý thức hệ nào đặt trên nền tảng loại biện chứng nào đó mông lung, trừu
tượng và kể cả hão huyền nào đó hết. Mọi cái gì không cụ thể, thiếu cơ sở khoa
học chắc chắn và khách quan, nhưng toàn tin nhảm vào đó thực chất đều mê muội,
u mê, phản lý trí và đều bị toàn mê hoặc.
Vậy thì người lãnh đạo một đất nước phải cần
người sáng suốt, không thể kém năng lực suy xét hay mù quáng. Đó cũng phải là
người liêm chính, ngay thẳng. Bởi không liêm chính thì như chuột sa vào hũ gạo,
còn không ngay thẳng thì sẽ kéo bè kéo cánh người không ngay thẳng tụ hội lại
cùng với mình. Lẽ thường không một cá nhân nào lãnh đạo được đất nước, cầm đầu
được xã hội nếu không có một đội ngũ cận thần cùng điệu cùng cánh với mình, nên
thầy sao thì trò vậy, hoặc thành một đội ngũ, lực lượng tốt canh tân, phát triển
đất nước hay chỉ là đội ngũ xấu làm tệ hại, phá tán đất nước mọi mặt. Vậy thì bất
kỳ ai cũng vậy, trước tiên đều cần mặt tài năng và đạo đức, đây là yếu tố tích
cực nhất mà một con người phải có, nếu không đạt được điều đó thì chỉ là trạng
thái tiêu cực. Đặt biệt đối với người cầm quyền lãnh đạo đất nước đây lại là
tiêu chuẩn hàng đầu không khi nào khác được.
Thế nhưng nhu cầu
xã hội và đất nước luôn luôn thay đổi biến chuyển, không bao giờ trì trệ hay bất
biến mà luôn cần linh hoạt, thích ứng đi lên với từng hoàn cảnh. Bởi vậy cần người
có hiểu biết, lanh lợi, thông minh và sắc sảo, tức tự minh luôn có những sáng
kiến, những kế hoạch, những mục đích mới hiệu quả và tốt đẹp để nhằm phát triển,
thăng tiến lợi ích chung trong phát triển xã hội. Sự học vấn cao luôn luôn là
điều cần thiết, bởi học vấn cao là nền tảng nhằm phát huy trí tuệ cùng năng lực
hiểu biết mà người đó vốn có. Chính sự thông minh, khả năng hiệu quả hay lỗi lạc
chủ động giải quyết mọi vấn đề đưa đến trong thực tế đều nằm ở đây. Vấn đề đưa
đến có thể từ báo chí, dư luận xã hội, từ tình huống thực tế, từ đội ngũ nhân sự
mà người cầm đầu đất nước luôn luôn phải có. Hành động và ngôn ngữ ở đây của họ
cũng chẳng phải nhất thiết luôn đi đôi với nhau. Sự thống nhất hay nhất quán
luôn là yếu tố cần thiết, đó là đức tính, yêu cầu trung trung thực, lương hảo,
còn nếu không chỉ còn tuyên truyền mị dân và lừa dối bề ngoài.
Thế nên ba đức
tính hay yêu cầu hàng đầu của mọi người lãnh đạo phải là sự trung thực ngay thẳng,
khả năng hiểu biết cao, tự mình thể hiện tài năng riêng mà không phụ thuộc người
khác hay phụ thuộc vào cái gì đó có ngoài mình. Người lãnh đạo đất nước mà chỉ
phụ thuộc người khác dầu trong nước hay bên ngoài đều chỉ là hư vị hay con rối,
con cờ. Bởi vậy lãnh đạo đất nước mà phải phụ thuộc vào thế lực hay lực lượng
nào đó, vào giáo điều, lý thuyết nào đó, đó thực chất không phải lãnh đạo đất
nước mà chỉ dụng cụ sai khiến để đưa đất nước vào những tình huống phiêu lưu
hay bế tắt. Cuối cùng, mục đích của người cầm quyền hay cầm đầu đất nước thực
chất là gì còn là điều quan trọng đáng nói nhất. Bởi vì hoặc đó có thể là người
vì nước vì dân, vì công ích thật sự, hay chỉ là người núp bóng hoàn cảnh, đóng
kịch, cốt chỉ nhằm tham vọng mục đích bản thân cá nhân riêng mình. Tính hai mặt
của chính trị luôn là đây, người dân khó biết được cho tới khi kết cuộc cuối
cùng khi mọi điều đều đã ngã ngũ, đã ra ngoài thảy tầm hào quang giả tạo mà
chính người đó đã gây được trong lúc tại nhiệm.
Thành nên chức phận
của những người lãnh đạo đất nước, xã hội thường là rất trọng đại hay tuyệt đối
quan trọng. Mọi sự thành đạt hay thất bại của cả một dân tộc, quốc gia nào nhất
định trong những giai đoạn nào đó đều nói lên tất cả điều này. Đây cũng là điều
phân biệt sự lãnh đạo cầm quyền chân chính hay chỉ là sự tiếm quyền, đoạt quyền.
Ngày xưa trong thời đại phong kiến quân chủ, người đoạt quyền chỉ là người có sức
mạnh quân sự hơn những đối thủ khác. Nên kết quả họ có thể là bạo chúa hay các
minh quân đều tùy vào mục tiêu cùng phẩm hạnh tự có của họ. Dân hay xã hội thật
ra chỉ là môi trường, là sân khấu thụ động cho những người tranh quyền đoạt vị
luôn luôn hành xử trên đó. Hạnh phúc toàn dân chỉ tùy thuộc vào định mệnh, sự
may mắn mà mình không tự quyết định được, chỉ may nhờ rủi chịu đều phần lớn như
thế. Tuy vậy những người chiến thắng được mọi đối thủ khác cũng có khi họ có
chính nghĩa hay không. Có chính nghĩa khi họ nhờ vào lòng dân, không chính
nghĩa khi họ chỉ họ chỉ dựa vào các mưu mô quỷ quyệt hay sức mạnh bạo lực thuần
túy. Trường hợp Lưu Bang bên Tàu ngày xưa dựng nên triều đại Hán với nhiều kết
quả nhân bản hoàn toàn khác với Lưu Bị thời Ngô Ngụy Thục, thực chất chỉ là kẻ
mị dân và cuối cùng cũng chẳng đi đến kết quả nào lớn lao cho đất nước Tàu
ngoài sự phân tranh tam quốc.
Nhưng thời đại
ngày nay mọi sự đã hoàn toàn đổi khác. Xã hội đã phát triển, tiến bộ nhiều mặt,
do đó nhu cầu thông tin khách quan là điều đáng nói nhất. Bởi mỗi cá nhân đều
là đơn vị cấu thành hay cột trụ nhất cho toàn xã hội. Mà cá nhân do sự nhận thức
sai biệt, do tài năng sai biệt, do đức hạnh và ý chí sai biệt, sự đa thành phần
và số đông nào đó mới luôn quyết định sự phát triển cho cho toàn xã hội. Bởi vậy
nền tảng tự do dân chủ trở thành quy luật, nguyên lý cần thiết tạo nên mọi sự
phát triển, tiến hóa chung cho toàn xã hội. Chính dân trí nhìn chung và sự lành
mạnh trong toàn xã hội quyết định cho bản thân xã hội đó. Xã hội tiến lên mọi mặt,
ngưng trệ hay tụt hậu chính là nhờ vào sự vận động của bản chất này. Vậy nhưng
trong xã hội đều luôn có những mảng tối, đó là mảng bản năng riêng tư và ích kỷ,
nó luôn luôn làm phát sinh mọi chế độ độc tài nếu có thể khi điều kiện và hoàn
cảnh cho phép. Và khi đã xây dựng được cơ chế độc tài rồi, nó làm triệt tiêu đi
mọi sự tự do dân chủ, chỉ trở thành một quán tính độc đoán duy nhất, có khi kéo
dài bất tận nếu không tự nó tan rã hoặc bị một sức mạnh nào đó lớn hơn làm cho
sụp đổ. Chỉ điều đó mới đưa đến kết quả bầu cử dân chủ tự do người dân lựa chọn
người lãnh đạo, cầm quyền được.
Cũng kiểu như cây
bon sai khi đã trồng vào chậu, nó vĩnh viễn khác hơn cây tồn tại ngoài mặt đất,
bởi vì bầu rễ của nó chỉ được quy định như vậy trừ khi chậu bị đập bể và người
ta mang nó trả về trạng thái khách quan như cũ. Chính sự khác nhau giữa thực tế
tự do dân chủ và thực tế độc tài mọi loại là như thế. Đây là sự khác nhau về bản
chất thật, không do tính chất ngôn ngữ giả dối trá hình, ngụy tạo do đám dân
gian, đám quần chúng ngu xuẩn nào đó xuyên tạc, ngụy biện, hay tà ý uốn nắn làm
cho khác đi được. Bởi ý thức và nhận thức con người luôn luôn đi đôi với nhau
cũng như ngược lại. Chỉ ý thức tốt mới thường mong muốn hướng đến nhận thức tốt,
và cả hai thành phù trợ lẫn nhau. Trong khi đó ý thức xấu, tà vạy, luôn luôn có
khuynh hướng liên kết với nhận thức xấu, lệch lạc, hạn chế, xuyên tạc, như là bạn
đồng minh thiết yếu của nó, nên chỉ dẫn đến sự mị dân, gian dối và tất nhiên
làm phương hại đến mọi lợi ích chung của toàn xã hội. Mọi chính nghĩa luôn đi
đôi với đạo đức mà không thể nào khác, mọi ý tưởng cứu cánh biện minh cho
phương tiện đều chỉ là giả dối, ngụy biện, sai trái và không khi nào đích thực.
Bởi dân chủ và tự
do giúp liên kết mọi tinh hoa vốn có trong toàn xã hội, vì không có vật cản,
rào cản tiêu cực nào đó giữa các yếu tố, thành tố này với nhau. Chúng dễ dàng
hòa hợp, bổ sung và tạo sức mạnh hữu ích chung cho nhau. Trong khi đó mọi chế độ
độc tài đều tạo thành vật cản, rào cản mọi loại, vô hiệu hóa, tiêu diệt tất cả
mọi loại tinh hoa xã hội khác nhau, đó chẳng khác gì chống lại mọi cá nhân con
người, chống lại toàn xã hội, chống lại sự phát triển lịch sử nói chung một
cách tệ hại toàn diện nhất. Bởi nó trái lại với nguyên tắc bình đẳng xã hội
khách quan, trái với tính khiêm tốn, công bằng của một con người lương thiện
khách quan. Vì độc tài chỉ có thể do bản năng lòng tham, do sự mù quáng tin tưởng
vào một điều giả tạo nào đó, do sự lợi dụng tình thế sai trái nào đó, nên mới
đi ngược lại mọi quyền tự do khách quan, tâm thức lương hảo chính đáng chung của
toàn xã hội, chỉ còn nghĩ đến riêng mình, tự thổi phồng sai trái quyền hạn cùng
sự nhận thức lạm dụng nào đó của mình. Không có bất kỳ giá trị hay ý nghĩa nào
biện minh một người trội vượt hay hơn hẳn mọi người, đó đều là sự hoang tưởng,
sự gian xảo, hay sự lừa bịp có chủ ý rõ rệt.
Thường mọi chế độ
độc tài sai trái, nhất là loại chế độ độc tài toàn trị đều mang tính chất cùng
bản thân kiểu như vậy. Nó thường thần thánh thứ lãnh tụ riêng của nó để nhằm
câu view, để nhằm áp đảo và khuynh loát quần chúng loại kém hiểu biết, mù quáng
hoặc cuồng tín nào đó theo cách thức như thế. Bởi trong chính trị luôn có đám
quần thần vụ lợi bất chấp mọi điều, đó chính là tác nhân tai hại luôn luôn có
trong mọi tình huống, giai đoạn xã hội, đó là dạng tiêu cực tạo nên bởi bản
năng ích kỷ, thấp kém, xấu xa mà trong lòng mọi xã hội đều luôn luôn có. Nên bất
kỳ người lãnh đạo đất nước nào lương hảo cũng cần đều phải thấy ra điều đó để
thắng lướt nó, điều chỉnh nó còn nếu không chỉ là toa rập theo, lợi dụng nó để
vun quén, củng cố cùng đưa cao quyền lực thống trị độc tài độc đoán hoàn toàn
sai trái của bản thân mình. Chính nguyên lý tự do dân chủ của xã hội lành mạnh
là yếu tố trung hòa, vô hiệu hóa được điều tai hại này, còn nguyên lý độc tài độc
đoán vô nguyên tắc của mọi chế độ độc tài sai trái thường làm củng cố, tăng cường,
mở rộng tính chất sai trái này ra toàn xã hội cũng như ra toàn những giai đoạn
lịch sử nhất định nào đó.
Từ các nền tảng, ý
nghĩa, và những nguyên lý khách quan như trên, cho thấy quan điểm độc tài vô sản
là tính cách vô lối và tồi tệ nhất của học thuyết Các Mác. Đây là điều có thật
từ đầu và nó là cái yếu chất, là bản thân mục tiêu không thể thiếu khiến Mác từng
đề xuất. Bởi Mác tin tưởng mù quáng vào bản chất đấu tranh giai cấp, mà nguồn gốc
chính ở đây là sự mê tín vào cái được gọi là quy luật biện chứng đầy tính tư biện
của Hegel mà Mác đã lạm dụng. Đem một nguyên lý mơ hồ không có cơ sở thực tế
khoa học cụ thể xác thực để diễn đạt ra nguyên lý giả tạo đấu tranh giai cấp nhằm
đi đến một xã hội hoàn toàn hoang tưởng, không tưởng mà Mác nhằm áp đặt, chụp
phủ tưởng tượng, chủ quan, lệch lạc lên xã hội tương lai của nhân loại, của thế
giới loài người, gây bao hệ lụy mọi nơi suốt thời gian dài cả gần thế kỷ, thành
đó trở thành tội lỗi lẫn cả đều tội ác của chính bản thân huyền hoặc vu vơ của
chính Các Mác cũng như phần lớn tính chất ngụy biện, mị dân do học thuyết ông
ta đưa ra.
Thực chất học thuyết
Mác cuối cùng trở thành học thuyết kiểu hư vô chủ nghĩa vì quy tất cả đều tuyệt
đối là vật chất thành tinh thần không còn ý nghĩa nào tích cực hoặc nghiêm chỉnh
hay tích cực cả. Nó lại còn thực chất là học thuyết kiểu vô chính phủ vì chỉ lấy
giai cấp và con người giai cấp làm nòng cốt. Đấu tranh giai cấp là cái tưởng tượng,
kiểu phạm trù hóa điều gì không có thật, trong khi chỉ có đấu tranh cụ thể giữa
cá nhân con người theo mọi cách giữa cái đúng cái sai, cái tốt cái xấu do lý
trí lương hảo nhận thức, chỉ đạo. Đây là sự đấu tranh giữa điều thực tế đúng
sai, hay dở mà xã hội luôn luôn phải có và vẫn có. Bởi giai cấp chỉ là sự phân
loại hóa trừu tượng, nó không bao giờ là thực thể cố định mà chỉ là những khái
niệm được loại hình hóa, bản thân nó không có thật mà chỉ những cá thể nằm
trong đó mới là có thật. Đấu tranh luôn luôn là đấu tranh giữa cái gì cụ thể,
không thể có đấu tranh giữa cái phân loại hay phạm trù trừu tượng, đó hoàn toàn
là sự mê tín, hoang tưởng và sự mù mờ của Mác.
Đấu tranh giữa hai
thực thế không có thật bằng cách khái quát hóa các thực thể có thật là những cá
nhân con người trong những trường hợp cụ thể nào đó, chỉ là điều hoàn toàn tưởng
tượng không cụ thể và khách quan của Mác. Từ tiền đề hoang tưởng đi đến kết luận
hoang tưởng là điều tất yếu mà chính bản thân Mác phạm phải. Mác cho xã hội cộng
sản là xã hội không còn giai cấp, làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu như là
điều hấp dẫn của những kẻ hoang tưởng mà thực chất không bao giờ có trong thực
tế cả. Vì nhu cầu cá nhân là vô hạn, tài nguyên đầu vào mọi mặt đều luôn hữu hạn,
bản năng ích kỷ cá nhân đều khách quan luôn luôn có, vậy làm sao tạo nên bài
toán lý thuyết có thể giải quyết được. Trong khi đó Mác nhằm áp dụng biện pháp
đấu tranh giai cấp một cách khốc liệt, thực chất chỉ đi từ hư tưởng này đến hư
tưởng khác, và cuối cùng các kết quả cũng chỉ đều hư tưởng. Đây tính cách thả mồi
bắt bóng chỉ thực chất nó là như vậy. Xã hội Liên Xô đầy tính khốc liệt rồi cuối
cùng phải bị sụp đổ và tan rã chính là như vậy. Nó hoàn toàn trái khách quan kiểu
như nhét trái bầu vào miệng chai chính là như thế.
Đất nước ta sau thời
kỳ đô hộ của thực dân Pháp suốt gần trăm năm, thay vì nâng cao dân trí, ấp dụng
chế độ dân chủ tự do, nâng cao trí tuệ toàn dân, những người cộng sản lớp đầu
tiên chỉ có niềm tin mãnh liệt cuồng tín vào duy đất nước Nga sô viết, lý do
duy nhất là họ được đào tạo từ trường chính trị Phương Đông của Mạc Tư Khoa, là
trường đào tạo ý thức hệ chỉ biết một chiều mà không hề có chiều lẫn có quyền
phản biện. Chính quan điểm độc tài vô sản của lý thuyết Mác đã dẫn đến điều đó.
Trong khi giới vô sản hay giai cấp vô sản theo Mác quan niệm thực chất không phải
giới thuần túy tinh hoa mà còn biết bao thành phần thời cơ, cơ hội dễ dàng trà
trộn vào đó. Chính mọi thành phần này chỉ hiểu được thuyết Mác theo kiểu giáo
điều nông cạn còn không biết chiều sâu thực chất của học thuyết Mác là gì. Thành
biết bao nhiêu thêu dệt, cả tin, lạm dụng và lợi dụng cho các quan điểm, tính
toán bản thân được truyền bá ra khắp thế giới nhiều nơi sau này quả là như thế.
Tập thể đảng thật ra chỉ là công cụ của những người điều khiển nó mà không gì
khác. Bởi nguyên tác độc tài không cho phép bất cứ ai ra ngoài được thực thể đó
và chỉ biết sắp hàng một đi lên có thế thôi.
Đáng lẽ ra khi về
nước, ông Hồ Chí Minh nếu là người yêu nước thực tế và chí tình, ông phải trước
hết góp phần nâng cao dân trí như kiểu Tây Hồ Phan Chu Trinh đề xuất, nhưng ông
chỉ theo khuynh hướng chủ nghĩa cộng sản Mác Lêninít mà mình có sẳn, hoặc phải
phụ thuộc vào nơi đào tạo là nước Nga sô viết từ nguồn gốc, nên mọi việc làm
hay thực thi của ông đều không đi ra ngoài được quỹ đạo đó. Cả chủ nghĩa dân tộc
yêu nước của ông, bản chất cũng chỉ là dung mạo bề ngoài, mà thực chất của nó đều
không khác chỉ gì là chủ nghĩa Mác Lê thuần túy bề trong mà ai cũng thấy. Chính
bài thơ đề nơi Đền Kiếp Bạc lẫn cả Di chúc của ông khi chết đều không ra ngoài
tất cả điều đó. Quan trọng nhất là hai cuộc chiến tranh liên tiếp xảy ra suốt
30 năm từ 1945 sau khi lật đổ chính phủ Trần Trọng Kim mãi tới khi kết thúc
1975 cũng nói lên mục đích và mọi điều nhất quán trong đó không gì khác hơn là
thực hiện chủ thuyết Mác xít từ đầu đến cuối. Lý đúng ra ngay từ đầu nếu có
tinh thần độc lập tự do tự chủ cho đất nước và dân tộc, ông Hồ cần phải có cuộc
trưng cầu dân ý rộng khắp và trung thực nhằm hỏi ý kiến nhân dân, như là người
lãnh đạo thật sự, để tôn trọng quyền lực cao nhất là toàn dân. Đằng này ông chỉ
theo kiểu cán bộ thực thi dạng quốc tế, nhằm cốt yếu thi hành chủ nghĩa Quốc tế
vô sản do nước Nga đã đề xuất. Thành ra mọi hệ lụy trớ trêu xảy ra cho đất nước,
dân tộc ta về sau này, đều không ngoài mọi hoàn cảnh thực tế như thế. Vả chăng
mọi chính sách giáo dục đào tạo và truyền thông xã hội về sau này, chỉ đều mang
tính một chiều, hạ thấp, giới hạn, hay làm nghèo nàn đi dân trí, đều thật là điều
quá đáng tiếc.
Vả nếu giả dụ học
thuyết Mác là hoàn toàn đúng đắn, hiệu quả và chính xác, thì tất cả mọi điều đó
cũng không hề gì. Trong khi đó, ngày nay cả Liên xô và khối Đông Âu đã hoàn
toàn sụp đổ và tan rã, cả gần 150 nước cộng sản cũ chiếm hơn một nửa dân số
toàn cầu, nay chỉ còn lại số nước đếm được trên đầu ngón tay, thì đó là điều trớ
trêu và là sự oái oăm của dân tộc và đất nước, qua cả một giai đoạn gần suốt đến
trăm năm của lịch sử. Nhưng ngoại trừ ra mọi người đã chết ngoài mặt trận ở cả
hai bên Nam Bắc thì không nói, có điều chính sách tuyên truyền chính trị phản
khách quan sự thật mới là điều đau xót nhất, bởi nó làm huyễn hoặc và sai lạc mọi
nhận thức chân chính của bản thân nhiều người, của toàn dân tộc nói chung, thì
chính ở đây mới là điều nghiêm trọng nhất, bởi đây chính là số đông đảo mù
quáng nhất và tính cách dân trí nói chung bị kéo xuống chỉ còn là niềm tin huyễn
hoặc thuần túy mà không còn kiểu nhận thức, ý thức hoàn toàn độc lập tự do của
riêng mỗi người công dân mới chính là điều đau xót và tệ hại nhất, tính cách
vong thân của cá nhân và xã hội chính là như vậy. Đây cũng chính là điều mà các
thế hệ hôm nay, phần nào cũng đã thoát ly ra khỏi quá khứ, đang đi vào mọi điều
kiện và hoàn cảnh mới mẻ trong tầm tay và quyền quyết định riêng của mình, vì mọi
thế hệ cũ cùng lớp người cũ nay đã chết đi, nay cần phải nhìn lại toàn diện, và
cũng có quyền tự quyết định mọi chiều hướng đi lên của xã hội, dân tộc cùng đất
nước, bắt đầu từ thế hệ của ngày nay.
THƯỢNG NGÀN
(05/5/2024)
**
No comments :
Post a Comment