Thursday, March 28, 2024

LUẬN VỀ SỰ GIÀU NGHÈO CÓ TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

LUẬN VỀ SỰ GIÀU NGHÈO CÓ TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 

Sự giàu nghèo trước tiên là do có sự khác nhau về của cải tài sản của những người hay những cá nhân trong xã hội.

Sự khác nhau đó không phải mãi mãi cố định mà nhất thiết luôn luôn có thể đổi thay, chuyển biến.

Sự giàu nghèo trong xã hội đều do mọi sự hoạt động khác nhau của mỗi cá nhân con người trong sinh hoạt xã hội nói chung mang lại.

Các nguyên do đó có thể do chính mình, tức do tự bản thân, do người khác, có thể là trong gia đình, tha nhân, toàn bộ xã hội, cũng như hoàn cảnh bên ngoài nào đó đem tới.

Không ai ở không mà có của nhưng do sự làm việc trong suốt cuộc đời của mình, do thừa hưởng của cha mẹ, do sự giàu nghèo chung của điều kiện xã hội, do những biến cố nào đó khách quan quyết định, như sự cố của tự nhiên, xã hội, có thể xảy ra mỗi lúc mỗi nơi nào đó trên từng vùng miền hay cả trên thế giới trong suốt cuộc đời mỗi người.

Nói khác đi, của cải tài sản mỗi cá nhân đều do nổ lực tự cá nhân đó, do bên ngoài mang lại, hay do từng hoàn cảnh nói chung của xã hội chung quanh mang đến tùy lúc, tùy nơi, không nhất thiết hay tuyệt đối chỉ do các yếu tố duy nhất nào đó cả.

Nhưng nhìn chung mà nói, mọi sự giàu nghèo của các cá nhân trong xã hội đều do sự phân bố của xã hội mà đến cả. Giống như mực nước tự nhiên hay nắng hạn một vùng nào đó đều quyết định chung cho mọi sinh vật nằm trong đó. Sự giàu có hay nghèo khó trong một gia đình, địa phương, đất nước, hay cả trên thế giới qua những thời kỳ cũng quyết định cho sự giàu nghèo của mỗi cá nhân nằm trong đó.

Nên mọi sự giàu nghèo không đơn giản mà gắn liền vào hoàn cảnh, điều kiện chung, gắn liền giữa quá khứ, hiện tại và tương lai một cách tổng quan nhất mà không tách biệt. Tức luôn có những cái chưa có lại thành có, có rồi lại mất đi, những cái dẫu đã có lại luôn biến chuyển, hay mọi hoàn cảnh tương lai đều khó nhất định được dự kiến trước.

Có nghĩa mọi sự giàu nghèo trong xã hội từ cổ chí kim đều luôn luôn có, không thể nào xóa sạch đi được, không thể nào đồng nhất hóa mọi nơi, mọi người trên thế giới cùng ngang bằng tuyệt đối, bởi đó là điều hoàn toàn không thực tế, hoàn toàn ảo tưởng, vớ vẩn và thậm chí còn ấu trí, trẻ con nữa. Mọi mục đích ảo giác toàn chỉ ngu xuẩn, toàn chỉ vô ích, phi tích sự, và không bao giờ đạt tới được đều là như thế.

Nhưng có điều quan trọng là sự giàu nghèo trong xã hội luôn đưa lại vấn đề giai cấp trong xã hội. Hay mọi sự khác biệt này luôn đưa đến mọi sự phân biệt khác nhìn từ bên ngoài chỉ có thế thôi. Đó chỉ luôn là sự khách quan không thể nào làm khác đi được, không thể nào chủ quan sửa đổi được.

Vấn đề chính thực chất mọi sự dị biệt đó là gì, nguồn gốc nó từ đâu, là bản chất bên trong hay hiện tượng bề ngoài, có thể chỉnh đốn phần nào được và tuyệt đối nó có quan trọng lắm không, đó mới chính là vấn đề đáng nói và đáng cần giải quyết nhất.

Nói chung mọi sự phân biệt hay khác biệt trong cuộc đời đều luôn luôn có, ở nơi mọi vật, mọi lúc, mọi nơi, mọi sự dị biệt trở nên như nguyên tắc, như nguyên lý khách quan, không thể nào không có và cũng không bao giờ làm cho chúng tuyệt đối mất đi cả được. Đó chỉ là vấn đề cấu trúc nơi sự vật. Không bất kỳ vật nào lại không cấu trúc, tức luôn phải có cơ cấu tổ chức bên ngoài cũng như bên trong thì mới thì mới có thể tồn tại, vận động và hoạt động được.

Đó là nguyên lý chung muôn đời bất diệt không phải chỉ trong vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ, mà kể cả sự sống muôn vật, con người cá thể, xã hội, lịch sử phát triển, tiến hóa, cũng như toàn bộ tồn tại vũ trụ nói chung từ trước đến sau buộc phải luôn luôn đều vậy.

Như thế nguồn gốc của giai cấp hay phân tầng xã hội luôn luôn khách quan, tự nhiên, chỉ y như một nồi nước sôi luôn luôn vận động, một bầu khí quyển luôn luôn đổi thay chuyển biến, không bao giờ có thể bất động, trì trệ hay hoàn toàn cố dịnh tuyệt đối không hề lay động, đổi thay được.

Thế nên mọi mong muốn cuộc đời không có giàu nghèo, xã hội không có giai cấp hay không còn giai cấp, một xã hội tuyệt đối đại đồng, không còn bất kỳ sự phân biệt hay dị biệt nào, đó toàn đều là những quan niệm hay ước mơ ngây thơ, ấu trĩ, trẻ con, ảo giác, hoặc dại khờ và phi lý mà loài người xưa nay vẫn thường hay có, ngay cả từ thời cổ đại cho đến nay đều vẫn thường là vậy.

Đó đều là những mong ước hay ước mơ cảm tính hoặc thị hiếu do sự ngu dốt hay dốt nát, do sự đố kỵ, ganh tị, mà hoàn toàn không có cơ sở lý tính hay khoa học khách quan, chuẩn xác hay đứng đắn nào cả.

Như vậy giai cấp hay giai tầng xã hội luôn luôn chỉ là thực tại hay thực tế xã hội tự nó luôn diễn tiến, xảy ra, bởi vì do những tính chất khách quan, tự thân, luôn chứa trong bản thân nó mọi tiềm lực buộc phải xảy ra, diễn tiến, không thể không có và cũng không thể không xảy ra dầu con người cố ngăn cản, phủ nhận, cố loại bỏ đi cũng không thể nào được và cũng không bao giờ có thể thực hiện theo bất kỳ một cách chủ quan nào được.

Vả chăng mọi sự nhận thức về sự vật đều luôn là sự nhận thức qua phạm trù phân biệt, biến cái khách quan thành cái chủ quan, cái chủ quan không làm thay đổi được cái khách quan, mà chỉ tạo ra kết quả về nhận thức, về quan điểm hay quan niệm nào đó riêng biệt hay khác biệt vậy thôi. Giai cấp là một thực tại khách quan xã hội vẫn luôn luôn có, và mặt chủ quan giai cấp được phân ra như một phạm trù nhận thức về xã hội, chỉ có thế thôi, khó thể nào thay thế được cái chủ quan thành cái khách quan, cho dẫu con người có đẩy cao sự ngụy biện, đẩy cao sự cảm tính, đẩy cao ước vọng thị hiếu cho đến đâu mặc kệ.

Nói cụ thể hơn, thế thì quan niệm về đấu tranh giai cấp, về xã hội không còn giai cấp hay phi giai cấp, về xã hội đại đồng, về xã hội cộng sản tuyệt đối mà Các Mác từng khốc liệt đặt ra, thực chất vấn đề đó là gì mà một số người bình dân, kém nhận thức từng say mê, cuồng nhiệt, cuồng tín từng theo đuổi thực hiện trong quá khứ lẫn luôn trong hiện tại và tương lai lại chính là nội dung, ý nghĩa cũng như mục đích thảo luận, tranh luận được đưa ra hôm nay để mọi người cần nên tham gia nhận thức và kết luận một cách rộng rãi, sâu xa, thực tế và chuẩn xác nhất.

Mác từng đưa ra quan điểm đấu tranh giai cấp làm thành nguyên lý, định đề, cốt lõi nội dung cũng như mục đích tối hậu cho học thuyết của mình, nhưng đó thực chất là gì, lại là điều ai cũng nghe đến, biết đến, nhưng vẫn ít tìm hiểu hay hiểu biết một cách sâu xa, rốt ráo, hoặc một cách nghiêm túc, chuẩn mực, xác đáng ngoài sự hời hợt nông cạn, chủ quan, cuồng tín, tin tưởng một chiều lại xác quyết như là lý tưởng mục tiêu khoa học tuyệt đối đúng đắn, hoàn toàn vô địch, bách chiến bách thắng, tuyệt đối thần kỳ, bất khả sai lầm hay bất khả chiến bại.

Thật ra nguồn gốc như trên trong học thuyết Mác là gì. Đó không ngoài là niềm tin tuyệt đối của Mác vào học thuyết Darwin, biện chứng luận Hegel, học thuyết xã hội kiểu cổ điển Pháp và nhiều nước khác, cũng như quan điểm bạo lực của Mác và Engels cộng vào, tạo thành nguyên lý chuyên chính vô sản hay độc tài vô sản mà Mác chủ trương tuyệt đối thực hiện.

Thế nhưng học thuyết Darwin thực chất là như thế nào. Nó hoàn toàn khách quan và đúng đắn trong lãnh vực tự nhiên. Nó không đi ra ngoài thuyết tiến hóa áp dụng cho toàn vũ trụ, ví như giả thiết Vụ bùng nổ lớn (Big Bang) hiện nay mà giới khoa học thế giới đang đề cập đến. Quan điểm tiến hóa sinh vật trong thời hiện đại cũng được nhiều tác giả khác chủ trương không chỉ duy có Darwin. Có điều nếu mang cả học thuyết đấu tranh thiên nhiên hoang dã vào trong thế giới loài người kiểu Mác quan niệm là hoàn toàn không đúng. Bởi vì tiến hóa trong nhiên giới chưa bao hàm yếu tố tinh thần như trong xã hội con người.

Mặt khác quan điểm biện chứng trong triết học Hegel là quan điểm hoàn toàn duy tâm, vượt lên xa đối với quan điểm thuần túy duy vật kiểu Mác. Tuy quan điểm biện chứng vẫn hoàn toàn là quan điểm mơ hồ, đầy chất tư biện, không dùng khoa học khách quan để chứng minh gì được, đó chỉ là ý tưởng thuần túy duy tâm thế thôi. Nhưng Hegel cũng chỉ mới đề cập đến chút ít trong quan điểm hoàn toàn tư biện mơ hồ như sự phủ định của phủ định, sự tranh đấu giữa hai đầu dối lập để đi đến kết quả dung hòa cho dầu thứ ba và lại tiếp tục như thế một cách vô hạn. Đây là quan điểm biện chứng tự thân, tức là sự phát triển từ trong, từ tiềm lực tiềm năng mà có.

Trong khi đó Mác rinh nguyên quan điểm biện chứng duy tâm của Hegel về cho học thuyết hoàn toàn và tuyệt đối duy vật của mình. Mác cho rằng thế giới tồn tại trong đó có con người đều chỉ là vật chất thô thuần túy không hơn không kém, tức không có bất kỳ thuộc tính đặc biệt hay riêng biệt nào khác có chứa bên trong. Vậy mà Mác cho vật chất đó biện chứng để thành chủ nghĩa duy vật thuần túy là hoàn toàn cực đoan, ép uổng. Đến cả Trần Đức Thảo cũng tin như thế, thật Thảo chỉ kiểu gà mờ, nhẹ dạ, tầm thường, thấp kém, chẳng có tư duy gì riêng biệt cả, chỉ cốt nô lệ kiểu hoàn toàn thụ động theo Mác.

Ngày nay khoa học hiện đại đã hiểu biết về ý niệm vật chất đã hoàn toàn khác. Quan niệm vật lý lượng tử, quan niệm trường lượng tử, quan niệm thuyết Tương đối của Einstein, đén như quan điểm hạt Quarks, hạt Higgs, trường Boson v.v… quan niệm độ cong không thời gian kết hợp và còn nhiều nữa cũng như còn tiến tới xa nữa đã làm thuyết duy vật của Mác chỉ thành ấu trĩ, thô sơ, giản đơn, nông cạn, lạc hậu không còn tính thời sự hay tính hiện một chút nào nữa. Lấy ví dụ như một tảng đá, hoàn toàn vật chất như Mác quan niệm, dầu có triệu năm cũng đâu nào tự biện chứng tức tự tiến hóa để thành ra sự sống kiểu như cái cây hoặc các vi sinh vật khác được sao.

Nhưng đặc biệt nhất là quan điểm duy vật lịch sử của Mác. Điều này được đưa vào giảng dạy bó buộc, cuồng tín trong các bậc đại học Việt Nam suốt gần thế kỷ qua. Trong đó chính Trần Đức Thảo là tay mù quáng, tiêu cực, thụ động, lơ mơ, góp phần phá hoại lịch sử xã hội kiểu hoàn toàn rồ dại ngu dốt nhất. Thành nên Trần Đức Thảo chẳng có chút ý nghĩa hay giá trị tự thân nào cả, chỉ là anh học trò toàn chùi dép, vác dép cho thầy theo kiểu ấu trí mà đó không ai khác hơn là chính Các Mác. Quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác chính lấy từ quan điểm ý niệm biện chứng của Hegel mà ra. Nhưng ở đây được Mác nâng lên thành quan điểm kinh tế học, hay quan điểm kinh tế xã hội toàn gượng ép, không tưởng, phi thực tế, lại được hiểu như quan điểm lịch sử đầy khách quan, nhưng thật sự toàn mơ hồ, thần bí và huyền hoặc.

Mác cho rằng xã hội cuối cùng chia thành hai giai cấp đối lập là vô sản và tư bản. Vô sản là lực lượng đang lên và cuối cùng tư bản phải tự chôn để đi lên thế giới cộng sản mà chủ nghĩa xã hội chỉ mới là giai đoạn đầu hoàn toàn còn thấp, làm theo năng lực hưởng theo sản phẩm, không bằng được với giai đoạn làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu thật sự tuyệt đối lý tưởng và đỉnh cao tuyệt đối nhất sau này. Đây là quan điểm duy vật lịch sử hoàn toàn máy móc theo kiểu cơ giới mà chỉ có Mác mới là người duy nhất nghĩ ra được và Trần Đức Thảo chính là người hoàn toan cùng tuyệt đối bái phục ngay từ buổi đầu của cả cuộc đời làm triết học dấn thân theo kiểu Thảo.

Trong khi sự phát triển kinh tế xã hội nới thế giới loài người hay từ xưa đến nay là hoàn toàn dựa vào sự tiến hóa kỹ thuật. Từ thời kỳ đồ đá rồi dùng lửa, đồ đồng, đồ sắt, tiếp theo sau này dung điện lực, điện tử v.v… không ngoài là kỹ thuật tạo nên mọi sự phát triển nhân loại mà không hề là đấu tranh giai cấp theo kiểu Mác quan niệm trong cach Mác quan niệm hoàn toàn thô lậu, ngây thơ và ấu trĩ. Bởi đấu tranh giai cấp chỉ là quan điểm đầy chất tưởng tượng, mơ hồ, hoàn toàn không thực chất, thực tế chỉ do đều từ cảm tính và thị hiếu mà chính Mác đã hoàn toàn thêu dệt và huyễn tượng ra.

Hơn thế nữa, quan niệm đấu tranh giai cấp theo Mác chỉ là quan điểm một chiều, thêu dệt, hoàn toàn không thực chất, thực tế mà nhằm chỉ tuyên truyền thêu dệt. Vì ở đây không phải hai hay nhiều giai cấp đấu tranh nhau ngang bằng để ai thua ai thắng mà thật ra Mác nhằm đưa duy giai cấp vô sản đấu tranh tiêu diệt mọi giai cấp hữu sản khác để tiến lên xã hội đại đồng vô sản hay gọi là cộng sản chỉ có thế mà thôi. Như vậy Mác chẳng qua có khuynh hương xảo ngôn, ngụy biện ngay từ đầu để thực hiện mục tiêu thị hiếu đầy chất cảm tính từ đầu đến cuối của chính mình mà không hơn không kém.

Từ chủ nghĩa duy vật tầm thường, qua chủ nghĩa kinh tế huyễn hoặc, qua đấu tranh giai cấp bạo lực, qua chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không tưởng, đó thực chất là mục tiêu đường dài hay qui trình đường dài trong suốt quan điểm, tâm tưc và nguyện vộng tột cùng của Mác. Nhưng thực chất nó hoàn toàn thất bại như quá khứ Liên Xô, Đông Âu hay cả Triều Tiên ngày nay đều cho thấy. Mác luôn luôn đi từ ngụy biện này đến đến ngụy biện khác, từ ảo tưởng hay huyễn tượng này đến ảo tưởng hay huyễn tượng khác, trở thành chủ thuyết hoàn toàn mị dân, thậm chí ngu dân vì trước sao chỉ lừa dối người kém hiểu biết mọi mặt vào trong sự ngụy tín mà tưởng đều là ý nghĩa và giá trị thật.

Thật ra mọi cá nhân con người luôn luôn đấu tranh nơi chính mình, nơi người khác, nơi xã hội, bởi đó luôn là các chủ thể thật sự, giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái hay và cái dở, giữa cái tiêu cực và cái tích cực, giữa chính nghĩa đạo lý và phi chính nghĩa phản đạo lý, giưa vị tha và ích kỷ, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung xã hội, giữa nhân văn và phản nhân văn, thế thôi. Còn giai cấp chẳng qua chỉ là phạm trù phân loại hoàn toàn trừu tượng, chỉ là ý niệm, danh từ phân biệt bên ngoài thế thôi, đâu phải là chủ thể cụ thể bằng xương bằng thịt đâu mà đấu tranh, thật là quan điểm ngụy tạo, ngụy biện và hoàn toàn thêu dệt cách vô bổ và thuần ảo tưởng.

Mục đích của cái đấu tranh giai cấp thuần túy ảo tưởng đó theo Mác là nhằm xây dựng một xã hội con người hoàn toàn tư tưởng, gọi là thế giới đại đồng, trong đó không có con người cụ thể mà đều toàn những phiên bản trừu tượng kiểu chỉ sống trên mây, không còn tiền tệ, không còn thị trường, không còn hàng hóa, không còn giai cấp, không còn bóc lột, không còn luật pháp, không còn nhà nước, mà chỉ thuần là những người công nhân hoàn toàn tự biên tự diến, tự đặt ra kế hoạch, chương trình, tự tập thể sản xuất và chia theo sản phẩm tạo được cùng nhau. Mác còn quên là kết quả kinh tế đều do đầu vào quyết định đầu ra. Đầu vào là tài nguyên mọi loại, kể cả chất xám, kỹ thuật, nguyên liệu tự nhiên, luôn bị gắn chặt vào điều kiện khách quan, lấy đầu để tạo ra sản phẩm vô hạn nhằm chia hưởng theo nhu cầu, có khác nào một quan điểm điên loạn và thậm chí hoàn toàn ngu xuẩn.

Thành ra học thuyết Mác chỉ là học thuyết bạo lực, phi thực chất, phản mục tiêu nhân bản, chỉ còn là sự ngụy biện, tuyên truyền, cưỡng chế, biến xã hội thành ra cơ chế, guồng máy cơ học giả tạo, không có tính người, con người chỉ còn là công cụ, phương tiện, phục vụ cho các ảo tưởng trừu tượng, cho các con người không tưởng, hay tự biến thành một xã hội danh từ toàn diện, rỗng không, hoàn toàn không có chút nào thực chất. Mọi phí phạm xã hội và cả lịch sử cũng tự đó mà ra, đầu thời gian tồn tại bao lâu và kéo dài đến đâu cũng đều không ngoài chỉ thuần là thế.

Mà nghĩ cho cùng, khởi điểm hay ý tưởng cụ thề thực tế mà Mác đưa ra đều không ngoài là danh từ bóc lột. Chính ý tưởng này tạo nên xương sống của học thuyết Mác ngoài mọi nguồn gốc mà trên đây đã rạch ròi phân tích. Mác cho rằng nguồn gốc của bóc lột đều không ngoài là do tư hữu. Chính tư hữu là sự chênh lệch tài sản trong xã hội mới tạo nên bóc lột. Không tư hữu cũng sẽ không có bóc lột, nếu mọi người thành đều vô sản cũng không còn bóc lột. Diệt tư hữu cũng là diệt bóc lột, xóa tư hữu cũng là xóa bóc lột, mọi người đều vô sản như nhau thì còn ai bóc lột ai được. Lý luận của Mác thật là lý luận toán học thiên tài. Bởi nếu trường số vô hạn trong thực tế đều biến thành số zero cả thí lấy đâu còn gì là cộng trừ nhân chia, còn gì là bốn phép số học cơ bản, thật là một khám phá có một không hai lịch sử loài người kim cổ chưa từng có chỉ trừ ra bộ não của Các Mác.

Đó chính là mục tiêu độc tài vô sản cho toàn thế giới mà Mác đã khởi xướng. Mác nắm tâm lý con người đều toàn thụ động. Chỉ cần dùng bạo lực là giải quyết được đều cả thảy. Bởi sự sợ hãi luôn đi cùng theo bản năng. Mọi người thà sống nô lệ kiểu cỏ cây hay loài vật mà không bị hủy diệt là tốt nhất. Nên độc tài vô sản là học thuyết tinh hoa bạo lực nhất của Mác. Nó là kiểu hai trong một, cái này tạo ra cái kia được cũng trộn lẫn vào nhau. Độc tài thì thực hiện được vô sản. Vô sản thì ai cũng như ai không còn bóc lột. Chỉ cần một cây gậy duy nhất cũng sai khiến được một bầy cứu. Mà bầy cừu là một thế giới yên lành kiểu xã hội cộng sản. Thật là cả một khám phá thiên tài mà suốt thế kỷ qua của toàn loài người không ai vượt lên cả đều Engels lẫn Các Mác.

Bởi thế gian đều toàn vật chất làm gì có tinh thần. Engels nói tinh thần hay ý thức con người chẳng qua cũng chỉ là vật chất. Như gan tiết ra mật. Đều chỉ là thức ăn tạo ra cả. Cứ ăn vào cho đã, cho đầy cả dạ dày thì tinh thần, ý thức sẽ lên cao, đó là chủ nghĩa duy vật kinh tế của Mác. Thật là tuyệt diệu mà nhân loại từ ngàn năm chưa hề có. Tôn giáo mọi loại đều chỉ là thuốc phiện. Pháp luật, nhà nước, văn hóa, văn học nghệ thuật, mọi giá trị thẩm mỹ, tinh thần, tư tưởng triết học, lý tưởng xã hội truyền thống cổ điển qua ngàn năm xưa cũ đều chỉ là kiến trúc thượng tầng. Chỉ có hạ tầng cơ sở là vật chất và kinh tế đều làm nên cả. Đó học thuyết hay chủ nghĩa duy vật của Mác đều tựu trung hay không ngoài chỉ là thế. Kể cả mọi đạo đức truyền thống xưa nay Mác cho cũng là thế.

Mác quan niệm chính tư hữu tạo ra giai cấp. Giai cấp tạo ra bóc lột. Bóc lột là sự phi nhân và bất công xã hội. Cả đạo đức truyền thống và pháp luật nhà nước cũng đều là công cụ che đậy,  biện minh, bảo vệ cho giai cấp, cho bóc lột. Đó chỉ kiểu là đạo đức tư sản, cần phải vượt lên, chối bỏ và tiêu diệt thảy đi. Chỉ có vô sản và bạo lực là con đường duy nhất để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội không gì khác là bước đầu, giai đoạn đầu cho chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Trong cuốn sách Tư bản luận và Kế hoạch Gotha Mác đều không quên nhắc lại điều đó. Đây là hai tác phẩm kinh điển quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác. Bất cư ai chưa đọc hay chưa nắm vững chúng đều chưa hiểu rõ hay chưa thấm nhuần chủ nghĩa Mác.

Khi Lênin thực hiện độc tài vô sản hay chủ nghĩa Bôn sê vít ở Nga là Lênin đã thực hiện đúng Cương lĩnh, tinh thần và mục tiêu chủ nghĩa Mác. Bởi vì giai cấp công nông làm nòng cốt. Sự hạn chế của giai cấp này so với toàn thể dân chúng nước Nga và loài người trên thế giới đó là hạt giống tốt cho sự độc tài cũng như ngược lại. Cả hai trong một, bổ sung và nuôi dướng cùng nhau, tạo nên hạt giống đỏ qua nhiều thế hệ tiếp theo và lan tỏa toàn thế giới. Nước Nga so với thế giới lúc đó là nước lạc hậu so trên nhiều phương diện, ngoại trừ văn học nước Nga mới có bề dày lịch sử, còn tư duy triết học hay khoa học hiện đại lúc đương thời Nga đều không có hay không bì kịp được nhiều nước khác. Đó chính là môi trường mầu mỡ một thời cho học thuyết Mác lần đầu xuất hiện và ươm mầm ra toàn thế giới. Chính không hiểu học thuyết Mác toàn diện lẫn cả chiều sâu mà nước Nga đã thành công thực hiện chủ thuyết Mác ra nước Liên Xô kéo dài được cả suốt toàn bảy thập kỷ nhưng cuối cùng vẫn thất bại và tan rã. Nhưng có điều nếu từ đầu người ta đã hiểu được hoàn toàn sâu sắc chủ thuyết Mác. Có thể chẳng bao giờ người Nga đem ra thực hiện ngay trên đất nước mình cũng như ngay trên toàn thế giới loài người như trước đây đã xảy ra cả.

 

ĐẠI NGÀN

(26/3/2024)

 

 

** 

No comments :

Post a Comment